Mở trình đơn chính

Nguồn gốc họ LươngSửa đổi

  • Thuyết họ Lương từ tộc Doanh mà ra:

Theo sách “Danh hiền Thị Tộc Ngôn hành loại Cảo” thì họ Lương thuộc thị tộc Doanh 嬴氏. Tộc này đã lập nên một triều đại nổi tiếng và có công thống nhất Trung Hoa. Đó là Nhà Tần (秦朝; Qín Cháo; Wade-Giles:Ch'in Ch'ao, 221 tCn - 206 tCn), triều đại kế tục nhà Chu (周,Zhou, 1122–256 tCn) và trước nhà Hán (漢朝,Han cháo, 206 tCn. - 220 sCn) trong lịch sử Trung Quốc.

Họ của hoàng gia Tần là Doanh 嬴氏. Theo thông lệ, chỉ ngành trưởng 長族 nối ngôi 繼位, mới mang họ Doanh 嬴氏, còn các ngành khác mang họ là tên đất nơi phong ấp. Người nối ngôi Tần Trọng hiệu là Tần Trang Công (秦莊公, cai trị 822 tCn - 778 tCn) huý là Doanh Dã 嬴也. Một người con khác của ông được ban đất Hạ Dương 贺阳 (ở tỉnh Hà Bắc nay) và phong tước Lương Bá 梁伯. Cháu chắt ông nhận tên tước vị 爵 Lương Bá 梁伯 làm tên họ 梁氏.

* Thuyết họ Lương từ họ Bạt Liệt Lan đổi thành:

Một tài liệu khác cho rằng thời Bắc Ngụy, vua Hiếu Văn Đế Nguyên Hoành (孝文帝元宏, 471-499) ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội, đẩy mạnh qúa trình Hán hoá 漢化 trong đó có việc tự đổi họ Thác Bạt 拓拔氏 ra họ Nguyên 元氏, Những người họ Thác Bạt xa thì đổi làm Trưởng Tôn, họ Ất Phiên đổi thành Thúc Tôn. Các họ kép (hai chữ) đều đổi thành họ đơn (1 chữ), trong đó 8 họ sang nhất là: Mục, Lục, Hạ, Lưu, Lâu, Vũ, Hệ, Uất và đổi họ ba chữ Bạt Liệt Lan 拔列兰 thành họ đơn, một chữ Lương 梁 .

Tiếng Trung Quốc hiện đại ghi là “Liáng”, Bạch thoại ghi là “Niû”. Tiếng Nhật ghi là “Ryō”, Yang 양, Ryang 량. Trong cuốn Bách gia Tính 百家姓, một văn bản ghi lại các họ phổ biến của người Trung Quốc được soạn vào đầu thời Bắc Tống thì họ Lương xếp thứ 32 và được chép trong câu: “项 Hạng, 祝 Chúc, 董 Đổng, 梁 Lương”.

Chữ Lương 梁, tên dòng họ có bộ Mộc 木 và 氵刃 nghĩa là cái cầu, mọi người đều phải nhờ đó mà qua. Chỗ đắp bờ để nuôi cá gọi là ngư lương 魚梁. Còn chữ Lương 涼 có chấm Thuỷ 氵và chữ kinh 京 có nghĩa là mỏng, lạnh được viết chỉ tên châu, nước do người Hồ lập ra thời Ngũ Hồ loạn Hoa (五胡亂花, 304-439).

Bên Trung Hoa có một số triều đại Lương, nhưng bên đó tên triều đại 朝 không phải là họ của Hoàng gia 皇族 do vậy các triều nhà Lương 凉朝,梁朝 bên Tầu vua không phải người họ Lương 梁氏.Đó là: Nhà Tiền Lương (前凉, Qián Liáng, 320–376), Nhà nước Hậu Lương (后凉,後凉, Hòu Liáng, 386-403), Nước Lương (梁朝, 502 - 549), Nhà Hậu Lương (后梁, 後梁, Hòu Liáng, 907-923).

Một số nhân vật họ Lương nổi tiếng bên Tầu: Lương Triều Vỹ: diễn viên điện ảnh Hồng Kông; Lương Vịnh Kỳ: diễn viên điện ảnh Hồng Kông; Lương Gia Huy: diễn viên điện ảnh Hồng Kông.

2. Họ Lương Việt Nam:

  • Thuyết cho rằng từ Trung Quốc sang:

Một số người thuộc Hán tộc cư ngụ ở miền nam Trung Hoa rồi di cư xuống miền bắc Việt Nam để lập nghiệp. Có lẽ đây là hậu duệ của Lương Long sau khởi nghĩa 178-181 thất bại hay là hậu duệ của Lương Thạc 梁硕,người từng dành quyền và tự lĩnh chức Thứ sử Giao Châu vào năm Mậu Dần (318) thời Đông Tấn. Nếu đúng vậy thì do tổ tiên đều gốc Bách Việt đứng lên chống lại Hán tộc nhưng bị thất bại phải Nam cư.

  • Do quan lại cai trị gán họ:

Ngoài số này còn có những cư dân Việt tộc khác, đến khi người Hán hoàn thành việc chiếm Âu Việt vẫn chưa có họ nên bắt chước hay bị quan lại nhà Hán ép mang họ sẵn có từ Bắc quốc sang, trong đó có họ Lương.Đây là tình trạng chung của nhiều họ cũng như một số họ dân thiểu số tại Việt Nam sau này.

* Địa bàn cư trú:

Theo "Bắc địa tấu từ" thì từ thời vua Lê Đại Hành (黎大行; 941 – 1005) các tỉnh ngoài bắc có rất nhiều tộc sinh sống, riêng tộc Lương thấy ở 2 tỉnh :

- Tỉnh Sơn Tây có: Thủy tổ tộc là Lương Trọng Lịch;

- Tỉnh Hà Tĩnh có: Thủy tổ tộc là Lương Công Anh.

Con cháu tộc của thủy tổ tộc Lương ở đây có nhiều chữ lót khác nhau như Văn, Công, Phúc, Trọng, Trường, Đình, Ngọc...Từ đời Tiền Lê, tộc Lương phát triển đến nhiều tỉnh khác nhau (do sự di dân, mở đất).

  • Khởi từ Hội trào phát ra:

Cũng có thuyết khác cho rằng từ lâu đời đã có một dòng họ cư ngụ tại miền Trung Việt Nam: làng Hội Triều (Hội Trào), tỉnh Thanh Hóa, gần Sầm Sơn. Nơi đây, hiện nay vẫn còn đền thờ cụ Lương Đắc Bằng , được coi là thủy tổ của dòng họ.

  • Phân bố hiên nay:

Có nhiều người, nhiều gia đình họ Lương trên khắp 3 miền Bắc-Trung-Nam, miền xuôi và miền ngược, trong cộng đồng người Kinh, người Tầy, người Mường, người Thái...và ở Hải ngoại.

Trong đó có nhiều dòng mang những tên đệm khác nhau hoặc có dòng chữ lót đặt tuỳ ý không theo một quy luật nào. Nhưng Lương Đức 梁德 với quy định cha, con, cháu...đều mang chữ lót là “Đức” thì sinh sống hay xuất phát đều từ Chiến Thắng, An Lão, Hải Phòng. Khởi thuỷ là Lương Công Nghệ 梁公羿 được thân phụ đưa từ Đăng Lai, Tiên Lãng sang vào giữ thế kỷ XVIII để tìm nơi đất mới khai hoang. Còn trước nữa Tổ tiên cụ Lương Công Trạch từ đâu đến Đăng Lai, đến từ bao giờ và trong hoàn cảnh nào chưa khảo cứu được. Ban đầu vẫn giữ là Lương Công đến đời thứ 3 có 3/4 chi đổi thành Lương Đức 梁德, chi còn lại đổi: Lương Hoàn 梁完. Ngoài ra có một số phân ngành trở lại Tiên Lãng (thế kỷ XIX) hay sang Tứ Kỳ (Hải Dương, thế kỷ XVIII) hoặc vào Nam (sau 1954 và sau 1975), lên Lào Cai (1962-1970) sinh sống, đã lập nên những dòng chi mới nơi đây. Dòng Lương Đức ở Lào Cai 老街梁德 chủ yếu ban đầu xuất phát từ An Phong, Phong Niên, Bảo Thắng từ 7 hộ ban đầu từ Làng Hương, xã Chiến Thắng (Ruẩn, Thông, Thân, Dật, Thiếp, Thuế, Tâm) lên khai hoang đến nay tới 25 hộ nam, 27 hộ nữ (đến 12/2008)ở Phong Niên, Xuân Quang, Trì Quang, Phố Lu (thuộc huyện Bảo Thắng) và thành phố Lào Cai. Hiện đã có đời thứ 4 ở đây, tức đời thứ 10 từ Tổ khai cơ; một số đã chuyenẻ về Hà Nội, Lâm Đồng sinh sống. Hiện đã có: 2 Liệt sĩ, 2 thương binh, 4 Cựu chiến binh, 7 Đại học, sau Đại học, 9 Cao đẳng, Trung cấp, 1 sĩ quan cao cấp, 5 sĩ quan trung cấp...công tác tại các ngành ở tỉnh, huyện, xã. Dòng này thực hiện việc Giỗ Vọng tổ vào Rằm tháng Giêng và tổ chức tại nhà ông Lương Đức Thân ở thôn An Phong.

Với các dân tộc thiểu số, một vài nơi họ Lương được gọi là họ Lường nhưng xem các bài cúng bằng chữ Nôm thấy vẫn ghi là 梁, tức Lương

Trong khi đó một số chi nhánh họ Lương ở miền Nam không thuộc dạng này bởi đó là những di dân có nguồn gốc từ Phúc Kiến, Triều Châu sang hồi thế kỷ XVII sau sự sụp đổ của nhà Minh 明朝. Đó là những người Minh Hương 明鄉人, tự nhận và nhà nước công nhận họ là Hoa Kiều 華僑.

Một vài nhân vật nổi tiếng ở Việt Nam: Lương Thế Vinh, trạng nguyên, nhà toán học, phật học, nhà thơ người Việt; Lương Đắc Bằng, trạng nguyên; Lương Hữu Khánh, thượng thư Bộ Lễ thời Lê Trung hưng; Lương Thị Minh Nguyệt, có công diệt giặc Minh, được Lê Lợi phong là “Kiến quốc phu nhân”; Lương Văn Can, nhà giáo, sáng lập và là hiệu trưởng trường Đông Kinh Nghĩa Thục; Lương Ngọc Quyến, nhà cách mạng; Lương Kim Định, linh mục, nhà triết học; Lương Định Của, giáo sư nông học…

 Chim trời tìm đậu cành xưa,
Con ong kiếm mật vẫn về tổ quen.
 Ai người hiểu biết Tổ tiên,
Xin cùng trao đổi, mọi miền cùng hay.


Chú giảiSửa đổi

  • Thuyết đổi họ 3 chữ Bạt Liệt Lan thành họ Lương khó chấp nhận bởi nếu thế thì mãi thế kỷ thứ V mới có họ Lương song trong lịch sử cuộc khởi nghĩa của nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố chống lại chính quyền đô hộ Đông Hán (東漢, 25–220) do một người họ Lương là Lương Long 梁隆 lãnh đạo đã xẩy ra từ thế kỷ thứ II (178-181), trước khi Nguyên Hoành lên làm vua tới 293 năm! Hoặc nếu có chuyện “đổi họ kép ra họ đơn đó” thì hậu duệ của tổ tiên mang họ Bạt Liệt Lan hiện nay là những người mang họ Lương ở đất Nguỵ xưa (Bắc Hoàng Hà) chứ không thể là tổ tiên của người mang họ Lương ở Nam Trung Hoa và Việt Nam được.
  • Nhận xét này trong Bắc địa tấu từ là không chính xác bởi:

- 北地凑辭 có thể dịch là “Lời cùng tâu về đất Bắc” (của những người đi khai khẩn đất Điện Bàn thời Lê sơ, 前黎氏,980 - 1009) là những bản văn tìm thấy trong dưới triều Minh Mệnh (1830-1841). Nội dung chính của nó là được chép lại từ một văn bản (Tấu từ Thuận ước) lập thời Lê sơ, gồm 3 phần chính: I- Bắc địa tấu từ; II- Tông đồ hội tánh; và III - Thuận ước giáp tịch, trong đó phần Tông đồ hội tánh, về nguồn tư liệu gốc, do chính những người khai cơ soạn ra và có lẽ được bổ sung sau thời Hồng Đức. Tư liệu này cho biết lúc bấy giờ có 24 vị thuộc 4 địa phương khác nhau trên đất Bắc đã đi vào khai khẩn đất Điện Bàn theo lệnh của nhà vua: Thanh Hóa có 4 vị, Hà Tĩnh có 3 vị, Cao Bằng (Bình) có 12 vị, riêng vùng Hải Dương có 5 vị: Đỗ Như Hiển, Đoàn Thế Thân, Đinh Hựu Trân, Trịnh Hồ Xuyên, và Mai Quý Phô. Như vậy chỉ với 24 hộ ở 4 tỉnh, với tình trạng liên lạc thời đó, khó có thể biết và nắm chắc để nói về các họ trên đất Việt được. Do vậy khó biết họ Lương lúc đó cư ngụ ở những đâu.

- Lịch sử còn ghi nhiều người làm quan thời Lý, Trần (tức sát thời có Bắc địa tấu từ) không phải chỉ ở 2 tỉnh trên. Ví dụ Lương Lương Nguyên Bưu 梁元厖 làm tới chức Hành khiển thời Trần là người gốc Tuyên Quang, tiên tổ là Thế Sung làm Toát Thông Vương kiêm phụ đạo ở triều Lý. Lại có Lương Nhậm Văn 梁任文 làm tới Thái sư hay Lương Mậu Tài 梁茂才 giữ chức Ngoại lang thời Lý Thái Tôn (1028-1054)....

Thỉnh cầuSửa đổi

Thành viên của tộc họ Lương,

Ai người tâm huyết hãy thường đổi trao.

Thông tin có thế này sao ?

Hãy thêm nhiều nữa, ai nào ra tay?

--123.17.192.161 (thảo luận) 11:12, ngày 23 tháng 2 năm 2009 (UTC) Còn thiếu dòng tộc Lương Quang tại xã Thanh Quang - Nam Sách - Hải Dương

Một giả thiết khác về nguồn gốc họ LươngSửa đổi

Ngoài 2 giả thuyết đã nếu, gần đây tôi tìm thấy một giả thuyết khác và sắp xếp thành 3 giả thuyết nghe có lý hơn:

a/ Thuyết “ Xuất tự Doanh tính, dĩ Quốc vi Thị”出自贏姓,以國為氏:

Theo sách “Danh hiền Thị Tộc Ngôn hành loại Cảo” thì họ Lương thuộc 原是地名 (nguyên thị địa danh, lấy tên đất là họ) . Họ này vốn thuộc thị tộc Doanh 嬴氏. Tộc này đã lập nên nước Tần (秦; Qin,Ch'in; 778 TCN-207 TCN) là một nước chư hầu thời Xuân Thu và Chiến Quốc và sau này là Nhà Tần (秦朝 ; Qín Cháo ; Wade-Giles:Ch'in Ch'ao , 221 tCn - 206 tCn), triều đại kế tục nhà Chu (周, Zhou, 1122–256 tCn), một triều đại nổi tiếng và có công thống nhất Trung Hoa sau đó được thay bởi nhà Hán (漢 朝 , Han cháo, 206 tCn. - 220 sCn). Họ của gia đình hoàng gia Tần là Doanh 嬴氏. Theo thông lệ, chỉ ngành trưởng 長族 nối ngôi 繼位, mới mang họ Doanh 嬴氏, còn các ngành khác mang họ là tên đất nơi phong ấp. Theo Thông trí thị tộc lược 通誌氏族略以國為氏 thì vào thời Chu Bình Vương (周平王, 770-720 tCn) Tần Trọng (秦仲, đứng đầu Tần công quốc, 854-822) có công thảo phát Tây Nhung 西戎 được nhà Chu nhường đất Lương Sơn, Hạ Dương 夏陽梁山 (nay là vùng Hàn Nam tỉnh Xiểm Tây, 陜西省韓城縣南). Con Tần Trọng kế vị đặt hiệu là Tần Trang Công (秦莊公 , cai trị 822 tCn - 778 tCn) huý là Doanh Dã 嬴 也 . Đến thời Xuân Thu (春秋時代, 722-481) nước Lương mất vào Tần quốc 秦國, và họ Lương ra đời từ tên nước.

c/ Thuyết: “Dĩ Ấp vi Thị”以邑為氏:

Vào năm 625 năm tCn đời Chu Tuyên Vương, Tấn Huệ Công (晉惠公, 650-537 tCn) lấy được đất Lương Thành 梁城 mà nay là tỉnh Sơn Tây (在今山西省臨猗西南) Cao Lương, Khúc Lương…và dâng cho Tần Mục Công (秦穆公). Cháu khác của Tần Trọng được ban đất ấy và phong tước Lương Bá 梁伯. Cháu chắt ông nhận tên tước vị 爵 Lương Bá 梁伯 làm tên họ 梁氏 .

c/ Thuyết “Tiên Ti tộc phục tính sở cải”古代鮮卑族复姓所改:

Theo “Ngụy thư quan thị chí” (魏書官氏志, wèi shu guan shì zhì) thì vào” thời Bắc Ngụy , vua Hiếu Văn Đế Nguyên Hoành ( 孝文帝元宏, 471-499) ra nhiều sắc lệnh cải cách xã hội, đẩy mạnh qúa trình Hán hoá 漢化 đối với người tộc Tiên Ti 鮮卑族 xian bì zútrong đó có việc tự đổi họ Thác Bạt 拓拔氏 ra họ Nguyên 元 氏 và lệnh bắt đổi họ ba chữ Bạt Liệt Lan 拔列蘭 (bá liè lán) thành họ đơn, một chữ Lương 梁. Menthuong (thảo luận) 14:58, ngày 19 tháng 8 năm 2009 (UTC)

Thêm blogSửa đổi

Chào juniorhn3, jan WinNghialuongvan Tôi thấy việc thêm blog của họ tộc vào không phải vấn đề lớn lắm. Chúng ta không cổ súy thông tin tự xuất bản và không có nguồn gốc. Nhưng ít ra, việc có thông tin địa chỉ blog như vậy sẽ giúp chúng ta biết chắc rằng đã tồn tại một dòng họ Lương như thế. Thân. Kẹo Dừa✌(nhắn cho tôi ^^) 16:31, ngày 7 tháng 7 năm 2017 (UTC)

  Đồng ý, đã chuyển liên kết blog vào phần liên kết ngoài. jan Win 22:39, ngày 7 tháng 7 năm 2017 (UTC)
Quay lại trang “Lương (họ)”.