Mở trình đơn chính

Độc Cô quý phi (Đường Đại Tông)

(đổi hướng từ Trinh Ý hoàng hậu)

Độc Cô Quý phi (chữ Hán: 獨孤貴妃, ? - 3 tháng 11, năm 775[1]), hoặc còn gọi là Trinh Ý Hoàng hậu (貞懿皇后), là một phi tần rất được Đường Đại Tông Lý Dự sủng ái, sau khi mất được truy phong làm Hoàng hậu.

Độc Cô Quý phi
獨孤貴妃
Đường Đại Tông phi
Thông tin chung
Phu quânĐường Đại Tông
Lý Dự
Hậu duệ
Thụy hiệu
Trinh Ý Hoàng hậu
(貞懿皇后)
Thân phụĐộc Cô Dĩnh
Sinh?
Kinh Triệu, Thiểm Tây
Mất3 tháng 11, năm 775
Trường An, Đại Đường
An tángTrang lăng (莊陵)

Bà cùng với Võ Huệ phi của Đường Huyền Tông Lý Long Cơ là 2 vị phi tần duy nhất, tuy chưa từng làm Hoàng hậu, cũng không sinh ra Hoàng đế kế vị nhưng vẫn được truy phong thụy hiệu như một Hoàng hậu trong lịch sử nhà Đường. Võ Huệ phi do ám sát Thái tử nên về sau bị Đường Túc Tông Lý Hanh tước đi thụy hiệu Hoàng hậu.

Tiểu sửSửa đổi

Độc Cô quý phi là người Kinh Triệu (京兆; nay là Thiểm Tây, Tây An), xuất thân từ đại gia tộc lớn Kinh Triệu Độc Cô thị (京兆独孤氏), một gia tộc người Tiên Ti.

Gia tộc Độc Cô thị vốn là họ Lý, là Lũng Tây Lý thị - xuất xứ của hoàng tộc họ Lý của triều Đường. Sang đến đời Độc Cô Tín, Hoàng đế nhà Tùy ban chữ [Độc Cô], do đó gia tộc đổi sang họ Độc Cô. Văn Hiến hoàng hậu Độc Cô Già La của Tùy Văn Đế Dương Kiên cũng xuất thân từ gia tộc này. Cha của bà là Độc Cô Dĩnh (獨孤穎), khi ấy đang giữ chức Tả uy vệ lục sự tham quân, sai tặng làm Thượng thư bộ Công. Trong nhà bà có anh trai là Độc Cô Trinh (獨孤禎) và Độc Cô Lương Tái (獨孤良佐), về sau đều làm những chức quan cao trong hệ thống nhà Đường[2].

Theo Đường Hội yến (唐会要), Độc Cô thị trở thành phi thiếp của Đại Tông khi ông còn là Quảng Bình quận vương (廣平郡王)[3]. Độc Cô thị được miêu tả rất xinh đẹp, độc sủng sự sủng ái của Đại Tông trong tất cả các vương phi, Cựu Đường thư trịnh trọng ghi là [Bế hạnh chuyên phòng; 嬖幸专房], cho thấy sự sủng ái của Đại Tông đối với Độc Cô thị vào lúc này là không nghi ngờ gì. Trong thời gian này, bà hạ sinh cho Đại Tông hai con, là Lý Huýnh (李迥) [4] và một cô con gái, tức Hoa Dương công chúa.

Đương thời, chính thê của Đại Tông là Vương phi Thôi thị, do gia thế hiển hách[5] nên trong vương phủ cực kì hung hãn, chèn ép đến cả Độc Cô phi. Tuy nhiên, Loạn An Sử xảy ra, mẫu gia bị thất thế, Thôi phi ưu buồn tự thu mình và qua đời sau khi về lại kinh sư. Chính phi Thôi thị không còn, Thẩm phu nhân (sinh mẫu của trưởng tử Lý Quát của Đại Tông) thì bị thất lạc trong biến loạn, chính vị lại khuyết, Độc Cô phi so với các các vương phi khác ở ngôi đầu.

Năm Càn Nguyên nguyên niên (758), Quảng Bình quận vương Lý Thục được lập làm Hoàng thái tử, đổi tên thành [Lý Dự]. Sang năm Thượng Nguyên thứ 2 (761), con trai của Độc Cô phi tức Hoàng tôn Lý Huýnh do có thân phận là con trai thứ ba của Thái tử, được hoàng tổ phụ là Đường Túc Tông phong làm Diên Khánh quận vương (延慶郡王)[6].

Quý phi Đại ĐườngSửa đổi

Độc sủng không lập HậuSửa đổi

Năm Bảo Ứng nguyên niên (762), sau khi Đường Túc Tông Lý Hanh giá băng, Thái tử Lý Dự đăng cơ trở thành Hoàng đế Đại Đường, tức Đường Đại Tông. Cùng năm đó, con trai bà là Diên Khánh quận vương Lý Huýnh được cải phong làm Hàn vương (韩王). Lúc này thời cuộc chưa định, Độc Cô thị vẫn chỉ là [Hậu cung; 後宮] - không rõ danh phận, chưa chính thức sách phong.

Năm Đại Lịch thứ 3 (768), tháng 2, ngày Canh Tý, Đại Tông chính thức sách phong Hậu cung Độc Cô thị làm Phi, vị Chính nhất phẩm Quý phi[7], địa vị cao nhất tại thời điểm đó trong hậu cung do Đại Tông không sách lập ai làm Hoàng hậu[8]. Mặc dù là sủng phi, thế nhưng Độc Cô Quý phi không được Đại Tông chủ ý lập Hoàng hậu, triều đại của Đại Tông trải dài hơn 10 năm trời vĩnh viễn để trống ngôi vị này. Về vấn đề này, sử gia hiện đại Bá Dương suy đoán Đại Tông không lập Hoàng hậu do lo lắng cho vị trí Hoàng thái tử của con trưởng là Đường Đức Tông Lý Quát, con trai duy nhất do Thẩm phu nhân sinh ra[9]. Bởi vì nếu Độc Cô phi là Hoàng hậu, Lý Huýnh sẽ là Đích tử - có chính danh hơn là Lý Quát dù thực tế triều Đường có truyền thống chọn con trưởng kế vị. Có tin đồn rằng, hoạn quan Lưu Trung Dực (劉忠翼) được Đại Tông tin dùng, từng cố gắng thuyết phục Đại Tông lập Độc Cô Quý phi làm Hoàng hậu, lập Hàn vương Huýnh làm Thái tử nhưng thất bại[10]. Không rõ việc Lưu Trung Dực kiến nghị việc này, là cá nhân của ông hay là do Độc Cô phi ngầm sắp xếp mà thành, nhưng cuối cùng thì Đường Đại Tông vẫn gạt đi.

Đường Đại Tông đối đãi dòng họ Độc Cô thị khá hậu hĩnh, truy phong thụy hiệu cao quý cho cha bà, Độc Cô Dĩnh; ban thưởng cao cho chú bà, Thái Thường thiếu khanh Độc Cô Trác (獨孤卓) làm Thiếu phủ giám, anh bà là Độc Cô Lương Tá làm Thái tử trung doãn[11]. Nhưng bù lại, Đại Tông không có vẻ gì là cho Độc Cô thị ân sủng ngang hàng Hoàng hậu, như Đường Huyền Tông đã gia ân cho Võ Huệ phi lẫn Dương Quý phi khi trước. Từ đây về sau, triều Đường duy trì truyền thống không lập Hoàng hậu, kéo dài đến tận Đường Chiêu Tông vào cuối thời Đường.

Qua đời truy tặngSửa đổi

Năm Đại Lịch thứ 10 (775), ngày 6 tháng 10 (tức ngày 3 tháng 11 dương lịch), Quý phi Độc Cô thị qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi. Vài ngày sau, Đại Tông truy phong thụy hiệu cho bà là Trinh Ý hoàng hậu (貞懿皇后). Trong lịch sử Đại Đường, không phải mẹ ruột của Hoàng đế kế vị, hoặc chưa từng là Hoàng hậu nhưng vẫn được truy tặng thụy hiệu Hoàng hậu, chỉ có Võ Huệ phi cùng Quý phi Độc Cô thị mà thôi.

Đau buồn cho sự ra đi của bà, Đại Tông không nỡ vội đem hạ táng, mà tạm lưu giữ quan tài của bà trong cung ở Tây điện thuộc Nội cung. Đến năm Đại Lịch thứ 13 (778), ngày 19 tháng 9, Đường Đại Tông mới chính thức an táng Trinh Ý hoàng hậu Độc Cô thị vào Trang Lăng (莊陵). Hoa Dương công chúa, trước đó được an táng tại vị trí khá ẩm thấp, sau đó cũng được an táng gần cạnh mẹ mình. Đại Tông lệnh cho Thường Cổn (常袞) soạn văn tế thương tiếc hai người[12][11].

Nội dung tế văn:

Hậu duệSửa đổi

Độc Cô quý phi chỉ sinh hạ cho Đường Đại Tông 2 người con:

  1. Hàn vương Lý Huýnh [韩王李迥; 750 - 16 tháng 8, 796], hoàng tử thứ 7.
    Sơ phong Diên Khánh quận vương (延慶郡王) dưới thời Đường Túc Tông, sau khi Đại Tông đăng cơ cải phong Hàn vương. Do mẹ được sủng ái nên trong các hoàng tử, ông có vị thế rất cao. Năm 775, sắc phong làm Tiết độ sứ. Ông qua đời vào năm Trinh Nguyên, triều Đường Đức Tông.
  2. Hoa Dương công chúa [華暘公主; ? - 10 tháng 6, 774], hoàng nữ thứ 5.
    Vừa sinh ra đã nổi tiếng xinh đẹp, thông minh lanh lợi, là công chúa được sủng ái nhất trong các hoàng nữ. Công chúa cả đời không hạ giá, xuất gia làm đạo sĩ năm 772, hiệu là Quỳnh Hoa chân nhân (琼华真人). Khi Công chúa qua đời, Đại Tông buồn bã ngừng thiết triều vài ngày đến khi hoạn quan Ngô Thừa Sai (吳承倩) thuyết phục ông quay lại triều chính.

Trong văn hóa đại chúngSửa đổi

Năm Phim truyền hình Diễn viên Nhân vật
1987 Trân Châu truyền kì Qua Vĩ Như Độc Cô Cầm
2017 Đại Đường vinh diệu Vạn Thiến Độc Cô Tĩnh Dao

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ http://www.sinica.edu.tw/ftms-bin/kiwi1/luso.sh?lstype=2&dyna=%AD%F0&king=%A5N%A9v&reign=%A4j%BE%E4&yy=10&ycanzi=&mm=10&dd=6&dcanzi=
  2. ^ 《旧唐书 - 代宗贞懿皇后独孤氏传》: 代宗贞懿皇后独孤氏,父颖,左威卫录事参军,以后贵,赠工部尚书。
  3. ^ Tân Đường thư, vol. 77.
  4. ^ Cựu Đường Thư, vol. 116
  5. ^ Mẹ của Thôi phi là Hàn Quốc phu nhân Dương thị, chị của Dương Quý phi
  6. ^ 《唐会要 卷四十六》
  7. ^ Tư trị thông giám, vol. 224: 庚子,以後宮獨孤氏為貴妃。
  8. ^ Tân Đường thư, vol. 76.
  9. ^ Bá Dương biên tập Tư trị thông giám, quyển 54 [780].
  10. ^ Tư trị thông giám, quyển 225: 兵部侍郎黎幹,狡險諛佞,與宦官特進劉忠翼相親善。忠翼本名清潭,恃寵貪縱。二人皆為眾所惡。時人或言幹、忠翼嘗勸代宗立獨孤貴妃為皇后,妃子韓王迥為太子。上即位,幹密乘輿詣忠翼謀事;事覺,丙申、幹、忠翼並除名長流,至藍田,賜死。
  11. ^ a ă Cựu Đường Thư, vol. 52: 大曆初,后寵遇無雙,以恩澤官其宗屬,叔太常少卿卓為少府監,后兄良佐太子中允。
  12. ^ 舊唐書/卷52: 帝追思不已,每事欲極哀情。常袞當代才臣,詔為哀詞,文旨淒悼,覽之者惻然。華陽公主先葬于城東,地卑濕,至是徙葬,祔于莊陵之園,故哀詞云:「招帝子於北渚,從母后於東陵。」乃詔常參官為輓歌,上自選其傷切者,令挽士歌之。