Bánh mì kẹp

đồ ăn thường có hai lát bánh mì và những lớp kẹp

Bánh mì kẹp hoặc bánh mì lát (tiếng Anh: sandwich) là một loại thực phẩm thường bao gồm rau, pho mát hoặc thịt cắt lát, đặt trên hoặc giữa các lát bánh mì, hoặc nói chung là bất kỳ món ăn nào trong đó bánh mì dùng làm lớp ngoài hoặc bao bọc cho một loại thực phẩm khác.[1][2][3] Bánh mì sandwich bắt đầu như một món ăn finger food (ăn bằng tay) ở thế giới phương Tây, mặc dù theo thời gian, nó đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới.

Sandwich
Egg Sandwich.jpg
Bánh mì kẹp trứng
Thành phần chínhBánh mì, thịt, pho mát, các loại rau làm salad, xốt hoặc các loại xốt mặn để phết lên

Bánh mì sandwich là một loại thức ăn trưa phổ biến, được mang đi làm, đi học hoặc đi dã ngoại để ăn như một phần của bữa trưa đóng hộp. Bánh ở đây có thể dùng các lát bánh mì trắng hoặc được phủ một lớp gia vị, chẳng hạn như sốt mayonnaise hoặc mù tạt, để tăng hương vị và độ kết dính giữa các lát bánh. Ngoài việc được làm tại nhà, bánh mì sandwich cũng được bán rộng rãi ở nhiều cửa hàng bán lẻ khác nhau và có thể được phục vụ nóng hoặc nguội.[4][5] Có cả bánh sandwich mặn, chẳng hạn như bánh mì thịt nguội và bánh mì ngọt, chẳng hạn như bánh mì bơ đậu phộng và bánh mì thạch.

Bánh sandwich được đặt theo tên người phát minh ra nó, John Montagu, Bá tước Sandwich thứ 4.[6][7] Tờ thời báo Phố Wall đã mô tả đây là "đóng góp lớn nhất cho ngành ẩm thực" của Anh.[8]

Lịch sửSửa đổi

Khái niệm hiện đại về bánh sandwich sử dụng các lát bánh mì được tìm thấy ở phương Tây có thể được cho là bắt nguồn từ châu Âu thế kỷ 18. Tuy nhiên, việc sử dụng một số loại bánh mì hoặc chất giống như bánh mì để nằm dưới (hoặc dưới và phủ lên) một số thực phẩm khác, hoặc được sử dụng để xúc và bọc hoặc bọc một số loại thực phẩm khác, đã có từ rất lâu trước thế kỷ thứ mười tám, và là được tìm thấy trong nhiều nền văn hóa lâu đời hơn trên toàn thế giới.

Nhà hiền triết Do Thái cổ đại Hillel the Elder được cho là đã gói thịt cừu trong lễ Vượt Qua và các loại thảo mộc đắng trong một chiếc bánh mềm - bánh phẳng, không men - trong Lễ Vượt Qua theo cách bọc hiện đại được làm bằng bánh mì dẹt.[9] Từ lâu, bánh mì dẹt chỉ có các loại khác nhau một chút đã được sử dụng để xúc hoặc gói một lượng nhỏ thức ăn trên đường từ đĩa đến miệng ở khắp Tây Á và Bắc Phi. Từ Ma-rốc đến Ethiopia đến Ấn Độ, bánh mì được nướng thành những hình tròn dẹt, tương phản với truyền thống ổ bánh mì của châu Âu.

Trong thời Trung cổ ở châu Âu, những phiến bánh mì thô và thường là bánh mì cũ, được gọi là "thớt cắt bánh mì", được dùng làm đĩa.[10] Sau bữa ăn, những chiếc sơn hào hải vị có lẽ được phân phát cho người hầu hoặc người nghèo. Tiền thân của ẩm thực có mối liên hệ trực tiếp với món bánh mì kẹp Anh đã được tìm thấy ở Hà Lan vào thế kỷ XVII, nơi nhà tự nhiên học John Ray đã quan sát thấy[11][12] rằng trong quán rượu, thịt bò được treo trên xà nhà "họ cắt thành từng lát mỏng và ăn với bánh mì và bơ đặt từng lát lên trên bơ" —các thông số kỹ thuật cho thấy món bánh mì mở ra từ belegde broodje của Hà Lan, vẫn chưa hề xa lạ ở Anh.

Ban đầu được coi là thức ăn mà nam giới cùng ăn khi chơi trò tiêu khiển và uống rượu vào ban đêm, bánh mì sandwich dần dần bắt đầu xuất hiện trong xã hội lịch sự như một bữa ăn khuya của tầng lớp quý tộc. Bánh sandwich được đặt theo tên của John Montagu, Bá tước thứ 4 của Sandwich, một quý tộc Anh thế kỷ mười tám. Người ta nói rằng anh ta đã ra lệnh cho người hầu của mình để mang cho ông ta phần thịt kẹp giữa hai miếng bánh mì.[6][7] Người ta thường nói rằng Lãnh chúa vùng Sandwich thích hình thức thức ăn này vì nó cho phép ông ta tiếp tục chơi bài, đặc biệt là bài cribbage, trong khi ăn mà không cần dùng nĩa và không bị dính dầu mỡ khi ăn thịt bằng tay không.[6] Sự lan truyền ở dạng quen thuộc về món ăn này xuất hiện trong cuốn Londres (Neuchâtel, 1770) của Pierre-Jean Grosley, được dịch là Chuyến du lịch đến London năm 1772. Hexmasters Faktoider: Sandwich: English quotes from Grosley 1772</ref> Ấn tượng của Grosley đã được hình thành trong một năm ở London vào năm 1765. Sự thay thế tỉnh táo được cung cấp bởi người viết tiểu sử của Sandwich, N. A. M. Rodger, người gợi ý những cam kết của Sandwich đối với hải quân, đối với chính trị và nghệ thuật, có nghĩa là chiếc bánh sandwich đầu tiên có nhiều khả năng đã được tiêu thụ tại bàn làm việc của mình.

Sự phổ biến của bánh mì kẹp ở Tây Ban Nha và Anh đã tăng lên đáng kể trong thế kỷ 19, khi sự trỗi dậy của xã hội công nghiệp và tầng lớp lao động khiến những bữa ăn nhanh, dễ di chuyển và rẻ tiền trở nên thiết yếu.[13] Ví dụ, ở Luân Đôn, ít nhất bảy mươi người bán hàng rong đã bán bánh mì thịt nguội vào năm 1850; trong suốt thập kỷ đó, các quán bánh mì sandwich cũng trở thành một hình thức ăn uống quan trọng ở miền tây Hà Lan, thường phục vụ bánh mì kẹp thịt bò muối và gan.[14]

Ở Mỹ, sandwich lần đầu tiên được quảng cáo như một món ăn công phu vào bữa tối. Vào đầu thế kỷ 20, khi bánh mì trở thành một thực phẩm chính trong chế độ ăn uống của người Mỹ, bánh mì sandwich đã trở thành một loại bữa ăn nhanh phổ biến giống như đã phổ biến ở Địa Trung Hải.[13]

Hình ảnhSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Abelson, Jenn (10 tháng 11 năm 2006). “Arguments spread thick”. The Boston Globe. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2009.
  2. ^ “sandwich”. Merriam-Webster. Merriam-Webster, Incorporated. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2012.
  3. ^ Foundations of Restaurant Management & Culinary Arts Level Two. Pearson. 2011. tr. 53. ISBN 978-0-13-138022-6.
  4. ^ Foundations of Restaurant Management & Cullinary Arts Level Two. Pearson. 2011. tr. 53. ISBN 978-0-13-138022-6.
  5. ^ Becoming a Foodservice professional Year 1. National Restaurant Association Educational Foundation. 1999. tr. 306. ISBN 1-883904-87-0.
  6. ^ a ă â What's Cooking America, Sandwiches, History of Sandwiches. 2 February 2007.
  7. ^ a ă “Sandwich celebrates 250th anniversary of the sandwich”. BBC News Online. 12 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2012.
  8. ^ Marks, Kathy (17 tháng 5 năm 1997). “BLT: British, lousy and tasteless”. The Independent. London.
  9. ^ Bavli Pesachim 115a; See also Passover Hagadah
  10. ^ Meads, Chris (2001). Banquets set forth: banqueting in English Renaissance drama. Manchester University Press. tr. 47. ISBN 0-7190-5567-9.
  11. ^ Ray, John (1673). Observations topographical, moral, & physiological; made in a journey through part of the Low Countries, Germany, Italy, and France …. London, England: John Martyn. tr. 51.
  12. ^ Ray, Observations topographical, moral, & physiological; made in a journey through part of the Low Countries, Germany, Italy, and France … (vol. I, 1673) quoted in Simon Schama, The Embarrassment of Riches (1987:152).
  13. ^ a ă Encyclopedia of Food and Culture, Solomon H. Katz, editor (Charles Scribner's Sons: New York) 2003
  14. ^ Alan Davidson and Tom Jaine (2014). The Oxford Companion to Food. Oxford University Press. tr. 712. ISBN 978-0199677337.

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi