Bại liệt

Bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus bại liệt

Bệnh bại liệt, còn gọi là bệnh viêm tủy xám (tiếng Anh: polio), là một bệnh truyền nhiễm gây ra bởi virus bại liệt.[1] Trong khoảng 0,5 phần trăm số ca nhiễm, xuất hiện tình trạng yếu cơ dẫn đến bị liệt.[1] Điều này có thể kéo dài trong khoảng vài giờ đến vài ngày.[1][3] Tình trạng yếu cơ chủ yếu xuất hiện ở chân, nhưng cũng đôi khi ở đầu, cổ, và cơ hoành.[1] Nhiều người nhiễm bệnh hồi phục hoàn toàn.[1] Trong số những người bị yếu cơ, khoảng 2 đến 5 phần trăm trẻ em và 15 đến 30 phần trăm người lớn tử vong.[1] Trong số tất cả những người bị nhiễm, có đến 70 phần trăm các ca không có triệu chứng.[1] Khoảng 25 phần trăm các ca có triệu chứng nhẹ như sốt và đau họng, và đến 5 phần trăm bị đau đầu, cứng cổ và đau ở tay và chân.[1][3] Những người này thường hồi phục trong vòng một đến hai tuần.[1] Nhiều năm sau khi phục hồi, hội chứng hậu bại liệt có thể xuất hiện, với sự yếu cơ phát triển chậm tương tự như lần nhiễm đầu tiên.[2]

Bại liệt
Viêm tủy xám, polio, poliomyelitis
Polio lores134.jpg
Một người đàn ông với chân phải nhỏ hơn do bệnh bại liệt
Phát âm
Chuyên khoaThần kinh học, Bệnh truyền nhiễm
Triệu chứngYếu cơ dẫn đến bất động[1]
Biến chứngHội chứng hậu bại liệt[2]
Khởi phát thông thườngVài giờ đến vài ngày[1][3]
Nguyên nhânVirus bại liệt lan qua đường phân–miệng[1]
Phương pháp chẩn đoánTìm virus trong phân hoặc kháng thể trong máu[1]
Điều trịĐiều trị triệu chứng[3]
Tần suất136 người (2018)[4]

Virus bại liệt thường lây từ người sang người qua chất thải đi vào miệng.[1] Nó cũng có thể lây qua đồ ăn hoặc nước uống chứa phân người hoặc hiếm hơn là nước bọt của người nhiễm bệnh.[1][3] Những người bị nhiễm có thể lây bệnh trong vòng sáu tuần nếu không có triệu chứng.[1] Bệnh thường được chẩn đoán bằng cách tìm virus trong phân hoặc phát hiện kháng thể trong máu.[1] Bệnh này chỉ xuất hiện tự nhiên ở người.[1]

Bệnh có thể được ngăn ngừa với vắc-xin bại liệt; tuy nhiên, cần nhiều liều để văc-xin phát huy tác dụng.[3] Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ khuyến cáo tiêm vắc-xin bại liệt nhắc lại cho khách du lịch và những người sống tại các quốc gia có dịch bệnh.[5] Một khi bị nhiễm không có phác đồ điều trị cụ thể nào.[3] Năm 2018, có 33 ca nhiễm bại liệt hoang dã và 104 ca bại liệt từ vắc-xin.[4] Con số này giảm đáng kể so với 350.000 ca hoang dã năm 1988.[3] Năm 2018, bại liệt hoang dã lan từ người sang người chỉ ở AfghanistanPakistan.[4] Năm 2019 có 175 ca bại liệt hoang dã và 364 ca bại liệt từ vắc-xin.[6]

Bệnh bại liệt đã tồn tại hàng ngàn năm, được minh họa trong những bức tranh cổ đại.[1] Căn bệnh được công nhận là một bệnh riêng biệt lần đầu bởi bác sĩ người Anh Michael Underwood năm 1789[1] và virus gây nên nó được xác định năm 1908 bởi nhà miễn dịch học người Áo Karl Landsteiner.[7] Các đợt bùng phát bắt đầu xuất hiện cuối thế kỷ 19 tại châu Âu và Hoa Kỳ.[1] Đến thế kỷ 20 nó đã trở thành một trong những bệnh ở trẻ em đáng lo ngại nhất tại những khu vực này.[8] Vắc-xin bại liệt đầu tiên được phát triển những năm 1950 bởi Jonas Salk.[9] Không lâu sau, Albert Sabin phát minh ra một vắc-xin qua đường miệng, trở thành tiêu chuẩn chung của thế giới để phòng ngừa bại liệt.[10]

Xóa sổ bệnh bại liệt là mục tiêu của một nỗ lực y tế công cộng đa quốc gia nhằm loại bỏ vĩnh viễn tất cả các trường hợp nhiễm bệnh bại liệt (bại liệt) trên toàn thế giới bắt đầu từ năm 1988, do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) và Rotary Foundation lãnh đạo.[11] Các tổ chức này, cùng với Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) và Quỹ Gates, đã dẫn đầu chiến dịch thông qua Sáng kiến Xóa bỏ Bại liệt Toàn cầu (GPEI). việc xóa sổ các bệnh truyền nhiễm đã thành công hai lần trước đây, với bệnh đậu mùa [12]bệnh dịch tả ở trâu bò.[13] Đến ngày 28 tháng 8 năm 2020, Ủy ban Chứng nhận Khu vực châu Phi tuyên bố rằng bệnh bại liệt hoang dã đã bị xóa sổ ở châu Phi.

Phân loạiSửa đổi

Số ca nhiễm virus bại liệt
Kết quả Tỉ lệ số ca[14]
Không có triệu chứng 90–95%
Bệnh nhẹ 4–8%
Không liệt vô trùng
viêm màng não vô khuẩn
1–2%
Liệt 0,1–0,5%
— Spinal polio 79% các ca liệt
— Bulbospinal polio 19% các ca liệt
— Bulbar polio 2% các ca liệt

Bại liệt là từ dùng để chỉ bệnh gây ra bởi bất kỳ bệnh nào trong ba loại bệnh bại liệt. Hai loại bại liệt thường gặp được miêu tả như: bệnh nhẹ không liên quan đến hệ thần kinh trung ương, đôi khi được gọi là abortive poliomyelitis, và loại bệnh nặng liên quan đến hệ thần kinh trung ương có thể gây liệt hoặc không liệt.[15] Ở hầu hết những người có hệ miễn dịch bình thường, nhiễu virus bại liệt không có triệu chứng. Hiếm khi nhiễm trùng có các triệu chứng nhỏ; các triệu chứng có thể là nhiễm trùng đường hô hấp trên (viêm họng và sốt), rối loạn tiêu hóa (buồn nôn, nôn, đau bụng, táo bón hoặc hiếm hơn là tiêu chảy), và biểu hiện bệnh giống cúm.[14]

Virus đi vào hệ thần kinh trung ương chiếm khoảng 3% các ca nhiễm. Hầu hết bệnh nhân bị bệnh liên quan đến hệ thần kinh trung ương phát triển bệnh viêm màng não vô trùng không liệt, với các triệu chứng đau đầu, cổ, lưng, bụng và đau chi, sốt, nôn mửa, hôn mê và khó chịu.[16][17] Khoảng 1 đến 5 trong 1000 ca phát triển thành bệnh liệt, trong đó các cơ bị yếu đi, mềm và khó kiểm soát, và cuồi cùng bị liệt hoàn toàn; tình trạng này được gọi là liệt phần mềm cấp tính.[18] Tùy thuộc vào vị trí liệt, bại liệt được phân loại thành liệt cột sống, hành tủy và cột sống-hành tủy. Viêm não, một loại nhiễm trùng tế bào não, có thể hiếm xảy ra, và thường chỉ gặp đối với trẻ sơ sinh. Nó đặc trưng bởi sự nhầm lẫn, thay đổi trạng thái tinh thần, đau đầu, sốt, và ít phổ biến hơn là co giật và liệt cứng.[19]

Nguyên nhânSửa đổi

 
Hình ảnh virus poliovirus dưới kính hiển vi điện tử truyền qua.

Bệnh bại liệt gây ra bởi sự xâm nhiễm một loài virus trong chi Enterovirus, có tên là poliovirus (PV). RNA virus của nhóm này xâm chiếm đường tiêu hóa[20] — đặc biệt là hầu họngruột. PV chỉ lây nhiễm và gây bệnh ở người.[21] Cấu trúc virus của loài này rất đơn giản, bao gồm một gen (+) sense RNA được bao bọc bằng một vỏ protein được gọi là capsid.[21] Ngoài ra, để bảo vệ vật liệu gen của virus, các protein capsid cho phép poliovirus lây nhiễm một số kiểu tế bào nhất định. Có 3 chủng poliovirus đã được xác định gồm poliovirus tuýp 1 (PV1), tuýp 2 (PV2), và tuýp 3 (PV3)— mỗi tuýp này cần các protein capsid hơi khác nhau.[22] Cả ba đều là các virus độc hại và có thể tạo ra cùng các triệu chứng bệnh.[21] PV1 là dạng phổ biến nhất, và có mối quan hệ gần gũi nhất liên quan đến bệnh tê liệt.[23]

Những cá nhân bị phơi nhiễm virus, hoặc qua lây nhiễm hoặc do tiêm chủng bằng vắc-xin polio đều phát triển sự miễn dịch. Ở những người miễn dịch, kháng thể IgA chống lại poliovirus có mặt trong amidan và đường tiêu hóa, và có thể ngăn chặn việc sao chép của virus; các kháng thể IgGIgM chống lại PV có thể ngăn chặn sự xâm nhập của virus vào các nơ-ron vận động của hệ thần kinh trung ương.[24] Nhiễm hoặc tiêm vắc-xin bằng một trong ba loại PV không cung cấp đủ tính miễn dịch để chống lại các loại PV khác, và khả năng miễn dịch hoàn toàn cần phải tiếp xúc với cả ba tuýp huyết thanh virus.[24]

Một bệnh hiếm gặp với biểu hiện tương tự, bệnh bại liệt không do poliovirus, có thể là kết quả của sự lây nhiễm của các enterovirus không phải poliovirus.[25]

Truyền bệnhSửa đổi

Bại liệt rất dễ lây qua đường phân-miệng và hầu-họng.[24] Trong vùng bệnh, polioviruses tự nhiên có thể lây nhiễm gần như toàn bộ dân số.[26] Đây là loại bệnh mang tính theo mùa ở vùng ôn đới, với đỉnh lây nhiễm vào mùa hè và thu.[24] Sự khác biệt theo mùa ít rõ nét hơn ở các vùng nhiệt đới.[26] Thời gian giữa lần tiếp xúc đầu tiên và các triệu chứng đầu tiên, được gọi là thời kỳ ủ bệnh, thường từ 6 đến 20 ngày, khoảng tối đa là 3 đến 35 ngày.[27] Các hạt virus được bài tiết trong phân sau vài tuần khi nhiễm đầu tiên.[27] Bệnh được truyền chủ yếu qua đường phân-miệng, thông qua việc ăn thức ăn hoặc nước bị nhiễm virus. Nó thỉnh thoảng cũng truyền qua đường uống-miệng,[23] một cơ chế dễ bắt gặp ở những vùng có điều kiện vệ sinh và vệ sinh môi trường tốt.[24] Polio bị lây nhiễm mạnh nhất giữa ngày thứ 7 và 10 trước và sau khi xuất hiện triệu chứng, nhưng sự truyền bệnh xảy ra miễn là virus còn nằm trong phân hoặc nước bọt.[23]

Các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm polio hoặc ảnh hưởng đến độ nghiêm trọng của bệnh bao gồm suy giảm miễn dịch,[28] suy dinh dưỡng,[29] hoạt động thể chất ngay sau khi bắt đầu tê liệt,[30] chấn thương cơ xương do tiêm vắc-xin hay tác nhân điều trị,[31]mang thai.[32] Mặc dù virus có thể vượt qua rào cản mẹ-thai trong thời kỳ mang thai, thai nhi dường như không bị ảnh hưởng bởi mẹ nhiễm trùng hoặc tiêm chủng bại liệt.[33] Kháng thể mẹ cũng đi qua nhau, cung cấp miễn dịch thụ động để bảo vệ trẻ sơ sinh không bị nhiễm virus bại liệt trong những tháng đầu sau khi chào đời.[34]

Để phòng ngừa lây nhiễm, các hồ bơi công cộng thường đóng cửa trong thời gian có dịch bệnh.

Sinh lý bệnhSửa đổi

 
Sự tắc nghẽn của động mạch tủy sống trước thắt lưng do virus bại liệt (PV3)

Poliovirus đi vào cơ thể qua đường miệng, sẽ lây nhiễm những tế bào đầu tiên mà nó tiếp xúc là họng và niêm mạc ruột. Nó đi vào bằng cách gắn kết với một thụ thể dạng immunoglobulin, được gọi là thụ thể poliovirus hay CD155, trên màng tế bào.[35] Sau đó, virus tấn công bộ máy của tế bào chủ, và bắt đầu sao chép. Poliovirus phân chia bên trong các tế bào tiêu hóa trong khoảng một tuần, từ đó nó phát tán vào amidan (đặc biệt là tế bào đuôi gai nang nằm gần tâm germinal center amidan), mô lymphoid của đường ruột gồm các tế bào M của Peyer's patches, và đi sâu vào cổ tử cung và các hạch bạch huyết mạc treo, nơi nó nhân lên rất nhiều. Virus này sau đó được hấp thụ vào dòng máu.[36]

Được gọi là virus trong máu (viremia), sự có mặt của virus trong dòng máu làm nó phân bố rộng khắp trong cơ thể. Poliovirus có thể tồn tại và nhân lên trong máu và hệ bạch huyết trong thời gian dài, đôi khi có thể kéo dài 17 tuần.[37] Trong một tỉ lệ nhỏ các ca bệnh, nó có thể phát tán và sao chép ở những vị trí khác, như mỡ nâu, các tế nào nội mô, và cơ.[38] Sự sao chép được duy trì này gây ra một lượng lớn virus trong máu, và dẫn đến các triệu chứng tương tự như cảm. Hiếm khi, điều này có thể tiến triển và virus có thể xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương, gây ra phản ứng viêm địa phương. Trong hầu hết các trường hợp, điều này gây ra triệu chứng viêm giới hạn màng não, là các lớp mô bao bọc xung quanh não, được gọi là viêm màng não vô khuẩn.[16] Sự xâm nhập vào hệ thần kinh trung ương cho thấy không có lợi cho virus, và có thể là một sự lây nhiễm ngẫu nhiên của nhiễm trùng đường tiêu hóa thông thường.[39]

Vắc-xin bại liệtSửa đổi

 
Trẻ uống vắc-xin ngừa bại liệt

Có hai loại vắc-xin ngừa bại liệt được dùng rộng rãi trên khắp thế giới. Cả hai loại đều kích thích miễn dịch với bại liệt, có hiệu quả trong việc khống chế truyền bệnh từ người sang người đối với các virus bại liệt tự nhiên, do đó bảo vệ được cả người nhận vắc-xin và cộng đồng (được gọi là miễn dịch nhóm).[40]

Vắc-xin thứ nhất, dựa trên một loại huyết thanh của virus còn sống nhưng đã bị làm yếu, loại này đã được nhà virus học Hilary Koprowski phát triển. Nguyên mẫu vắc-xin của Koprowski đã được tiêm cho một cậu bé 7 tuổi vào ngày 27 tháng 2 năm 1950.[41] Koprowski đã tiếp tục công việc nghiên cứu vắc-xin này trong suốt thập niên 1950, đã đi tiên phong trong việc tạo ra những cuộc thử nghiệm trên quy mô lớn trong vùng Belgian Congo và đã tiêm vắc-xin này cho 7 triệu trẻ em ở Ba Lan để chống lại các tuýp virus PV1 và PV3 giữa năm 1958 và 1960.[42]

Loại vắc-xin virus không hoạt động thứ 2 được Jonas Salk phát triển năm 1952 tại đại học Pittsburgh, và đã thông báo trên thế giới vào ngày 12 tháng 4 năm 1955.[43] Vắc-xin Salk hay vắc-xin virus bại liệt không hoạt động (IPV), được tạo ra dựa trên virus bại liệt phát triển trên một loại nuôi cấy mô thận khỉ (tế bào vero line), chúng bị ức chế hoạt động hóa học bằng chất formalin.[24] Sau hai liều vắc-xin IPV (bằng phương pháp tiêm), 90% hoặc hơn nữa số lượng cá thể đã có thể hình thành đủ kháng thể để chống lại 3 tuýp virus bại liệt, và với ít nhất 99% được miễn dịch nếu tiêm tiếp liều thứa 3.[14]

Dịch tễ họcSửa đổi

 
Năm sống điều chỉnh theo bệnh tật đối với bệnh bại liệt trên 100,000 dân của năm 2004.

Trong khi bệnh này hiếm gặp tại các nước phương Tây thì Nam Á và châu Phi là nơi có các ca bệnh nhiều nhất, đặc biệt là Pakistan, và Nigeria. Sau khi sử dụng vắc-xin poliovirus rộng rãi vài giữa thập niên 1950, tỷ lệ mắc bệnh bại liệt giảm mạnh ở nhiều nước công nghiệp phát triển. Nỗ lực của toàn cầu là loại trừ bệnh bại liệt từ năm 1988, dẫn đầu bởi các tổ chức Y tế Thế giới, UNICEF, và Rotary Foundation.[44] Những nỗ lực này đã làm giảm số các ca được chẩn đoán hàng năm lên 99%; theo ước tính trên 350.000 ca năm 1988 xuống còn 483 ca năm 2001, sau đó nó duy trì ở mức khoảng 1.000 ca mỗi năm (1.606 ca năm 2009).[45][46][47] Năm 2012, số ca giảm xuống còn 223.[48] Bại liệt là một trong hai loại bệnh hiện được đưa vào chương trình loại bỏ nó trên toàn cầu cùng với bệnh giun chỉ (Dracunculiasis hoặc Guinea-worm disease[49]). Cho đến nay, chỉ có bệnh đậu mùa đã được loại bỏ hoàn toàn từ năm 1979,[12] và bệnh dịch tả trâu bò năm 2010.[13] Một số mốc lộ trình loại bỏ bệnh bại liệt đã đạt được, và nhiều khu vực trên thế giới đã được công nhận không còn bệnh bại liệt. Châu Mỹ tuyên bố không còn bệnh bại liệt năm 1994.[50] Năm 2000, bệnh bại liệt được tuyên bố đã loại bỏ chính thức ở 37 quốc gia phía tây Thái Bình Dương, bao gồm cả Trung Quốc và Úc.[51][52] Châu Âu tuyên bố không còn bệnh năm 2002.[53] Cho đến năm 2012, bại liệt chỉ còn phổ biến ở 3 quốc gia là Nigeria, Pakistan, và Afghanistan,[45][54] mặc dù nó tiếp tục gây ra các bệnh ở các quốc gia lân cận do sự truyền nhiễm ẩn hoặc tái phát.[55] Ví dụ, thay vì loại bỏ 10 năm trước, bệnh này lại tái phát ở Trung Quốc vào tháng 9 năm 2011 liên quan đến dòng truyền bệnh chính từ những người láng giềng Pakistan.[56] Từ tháng 1 năm 2011, không có ca nhiễm bệnh bại liệt nào được báo cáo ở Ấn Độ, và vào tháng 2 năm 2012, quốc gia này đã được đưa ra khỏi danh sách các nước có bệnh bại liệt nhiều (đặc hữu). Nếu không có ca bệnh bại liệt tự nhiên nào được thông báo ở một quốc gia trong vòng 2 năm, thì quốc gia đó sẽ là nước không còn bệnh bại liệt.[57][58]

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q Hamborsky J, Kroger A, Wolfe C biên tập (2015), “Poliomyelitis”, Epidemiology and Prevention of Vaccine-Preventable Diseases (The Pink Book) (ấn bản 13), Washington DC: Public Health Foundation, (chap. 18), Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2016  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp).
  2. ^ a ă “Post-Polio Syndrome Fact Sheet”. NIH. Ngày 16 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  3. ^ a ă â b c d đ e “Poliomyelitis Fact sheet N°114”. who.int. Tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  4. ^ a ă â “This page allows you to request a table with AFP/polio data”. WHO. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019. 
  5. ^ “Guidance to US Clinicians Regarding New WHO Polio Vaccination Requirements for Travel by Residents of and Long-term Visitors to Countries with Active Polio Transmission”. CDC. Ngày 2 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  6. ^ “GPEI-This Week”. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2019. 
  7. ^ Daniel TM, Robbins FC biên tập (1999). Polio (ấn bản 1). Rochester, N.Y.: University of Rochester Press. tr. 11. ISBN 9781580460668. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  8. ^ Wheeler DS, Wong HR, Shanley TP biên tập (2009). Science and practice of pediatric critical care medicine. London: Springer. tr. 10–11. ISBN 9781848009219. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  9. ^ Aylward RB (2006). “Eradicating polio: today's challenges and tomorrow's legacy”. Annals of Tropical Medicine and Parasitology 100 (5–6): 401–13. PMID 16899145. doi:10.1179/136485906X97354.  Đã bỏ qua tham số không rõ |s2cid= (trợ giúp)
  10. ^ Alfred, Randy (ngày 6 tháng 10 năm 2011). “Oct. 6, 1956: Sabin Polio Vaccine Ready to Test”. Wired. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2020. 
  11. ^ “Polio Eradication”. Global Health Strategies. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2016. 
  12. ^ a ă “Smallpox [Fact Sheet]”. World Health Organization (WHO). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2013.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “WHO_smallpox” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  13. ^ a ă Ghosh, Pallab (ngày 14 tháng 10 năm 2010). “Rinderpest virus has been wiped out, scientists say”. BBC News Online. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2010.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “bbc” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  14. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PinkBook
  15. ^ Falconer M, Bollenbach E (2000). “Late functional loss in nonparalytic polio”. American journal of physical medicine & rehabilitation / Association of Academic Physiatrists 79 (1): 19–23. PMID 10678598. doi:10.1097/00002060-200001000-00006. 
  16. ^ a ă Chamberlin SL, Narins B (eds.) (2005). The Gale Encyclopedia of Neurological Disorders. Detroit: Thomson Gale. tr. 1859–70. ISBN 0-7876-9150-X. 
  17. ^ Leboeuf C (1992). The late effects of Polio: Information For Health Care Providers. (PDF). Commonwealth Department of Community Services and Health. ISBN 1-875412-05-0. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008. 
  18. ^ Frauenthal HWA, Manning JVV (1914). Manual of infantile paralysis, with modern methods of treatment. Philadelphia Davis. tr. 79–101. OCLC 2078290. 
  19. ^ Wood, Lawrence D. H.; Hall, Jesse B.; Schmidt, Gregory D. (2005). Principles of Critical Care (ấn bản 3). McGraw-Hill Professional. tr. 870. ISBN 0-07-141640-4. 
  20. ^ Cohen JI (2004). “Chapter 175: Enteroviruses and Reoviruses”. Trong Kasper DL, Braunwald E, Fauci AS, et al. (eds.). Harrison's Principles of Internal Medicine (ấn bản 16). McGraw-Hill Professional. tr. 1144. ISBN 0-07-140235-7. 
  21. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sherris
  22. ^ Katz, Samuel L.; Gershon, Anne A.; Krugman, Saul; Hotez, Peter J. (2004). Krugman's infectious diseases of children. St. Louis: Mosby. tr. 81–97. ISBN 0-323-01756-8. 
  23. ^ a ă â Ohri, Linda K.; Jonathan G. Marquess (1999). “Polio: Will We Soon Vanquish an Old Enemy?”. Drug Benefit Trends 11 (6): 41–54. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008.  (Available free on Medscape; registration required.)
  24. ^ a ă â b c d Kew O, Sutter R, de Gourville E, Dowdle W, Pallansch M (2005). “Vaccine-derived polioviruses and the endgame strategy for global polio eradication”. Annu Rev Microbiol 59: 587–635. PMID 16153180. doi:10.1146/annurev.micro.58.030603.123625. 
  25. ^ Gorson KC, Ropper AH (tháng 9 năm 2001). “Nonpoliovirus poliomyelitis simulating Guillain-Barré syndrome”. Archives of Neurology 58 (9): 1460–4. PMID 11559319. doi:10.1001/archneur.58.9.1460. 
  26. ^ a ă Parker SP (ed.) (1998). McGraw-Hill Concise Encyclopedia of Science & Technology. New York: McGraw-Hill. tr. 67. ISBN 0-07-052659-1. 
  27. ^ a ă Racaniello V (2006). “One hundred years of poliovirus pathogenesis”. Virology 344 (1): 9–16. PMID 16364730. doi:10.1016/j.virol.2005.09.015. 
  28. ^ Davis L, Bodian D, Price D, Butler I, Vickers J (1977). “Chronic progressive poliomyelitis secondary to vaccination of an immunodeficient child”. N Engl J Med 297 (5): 241–5. PMID 195206. doi:10.1056/NEJM197708042970503. 
  29. ^ Chandra R (ngày 14 tháng 6 năm 1975). “Reduced secretory antibody response to live attenuated measles and poliovirus vaccines in malnourished children”. Br Med J 2 (5971): 583–5. PMC 1673535. PMID 1131622. doi:10.1136/bmj.2.5971.583. 
  30. ^ Horstmann D (1950). “Acute poliomyelitis relation of physical activity at the time of onset to the course of the disease”. J Am Med Assoc 142 (4): 236–41. PMID 15400610. doi:10.1001/jama.1950.02910220016004. 
  31. ^ Gromeier M, Wimmer E (1998). “Mechanism of Injury-Provoked Poliomyelitis”. J. Virol. 72 (6): 5056–60. PMC 110068. PMID 9573275. 
  32. ^ Evans C (1960). “FACTORS INFLUENCING THE OCCURRENCE OF ILLNESS DURING NATURALLY ACQUIRED POLIOMYELITIS VIRUS INFECTIONS” (PDF). Bacteriol Rev 24 (4): 341–52. PMC 441061. PMID 13697553. 
  33. ^ Joint Committee on Vaccination and Immunisation (Salisbury A, Ramsay M, Noakes K (eds.) (2006). Chapter 26:Poliomyelitis. in: Immunisation Against Infectious Disease, 2006 (PDF). Edinburgh: Stationery Office. tr. 313–29. ISBN 0-11-322528-8. 
  34. ^ Sauerbrei A, Groh A, Bischoff A, Prager J, Wutzler P (2002). “Antibodies against vaccine-preventable diseases in pregnant women and their offspring in the eastern part of Germany”. Med Microbiol Immunol 190 (4): 167–72. PMID 12005329. doi:10.1007/s00430-001-0100-3. 
  35. ^ He Y, Mueller S, Chipman P và đồng nghiệp (2003). “Complexes of Poliovirus Serotypes with Their Common Cellular Receptor, CD155”. J Virol 77 (8): 4827–35. PMC 152153. PMID 12663789. doi:10.1128/JVI.77.8.4827-4835.2003. 
  36. ^ Yin-Murphy M, Almond JW (1996). “Picornaviruses: The Enteroviruses: Polioviruses”. Baron's Medical Microbiology (Baron S et al., eds.) (ấn bản 4). Univ of Texas Medical Branch. ISBN 0-9631172-1-1. 
  37. ^ Todar K (2006). “Polio”. Ken Todar's Microbial World. University of Wisconsin - Madison. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2007. 
  38. ^ Sabin A (1956). “Pathogenesis of poliomyelitis; reappraisal in the light of new data”. Science 123 (3209): 1151–7. PMID 13337331. doi:10.1126/science.123.3209.1151. 
  39. ^ Mueller S, Wimmer E, Cello J (2005). “Poliovirus and poliomyelitis: a tale of guts, brains, and an accidental event”. Virus Res 111 (2): 175–93. PMID 15885840. doi:10.1016/j.virusres.2005.04.008. 
  40. ^ Fine P, Carneiro I (ngày 15 tháng 11 năm 1999). “Transmissibility and persistence of oral polio vaccine viruses: implications for the global poliomyelitis eradication initiative”. Am J Epidemiol 150 (10): 1001–21. PMID 10568615. doi:10.1093/oxfordjournals.aje.a009924. 
  41. ^ Koprowski, Hilary (ngày 15 tháng 10 năm 2010). “Interview with Hilary Koprowski, sourced at History of Vaccines website”. College of Physicians of Philadelphia. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  42. ^ Sanofi Pasteur Inc: Competition to develop an oral vaccine Accessed 2009-12-16.
  43. ^ Spice B (ngày 4 tháng 4 năm 2005). “Tireless polio research effort bears fruit and indignation”. The Salk vaccine: 50 years later/ second of two parts (Pittsburgh Post-Gazette). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008. 
  44. ^ Mastny, Lisa (ngày 25 tháng 1 năm 1999). “Eradicating Polio: A Model for International Cooperation”. Worldwatch Institute. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008. 
  45. ^ a ă Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (2006). “Update on vaccine-derived polioviruses”. MMWR Morb Mortal Wkly Rep 55 (40): 1093–7. PMID 17035927. 
  46. ^ Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (tháng 5 năm 2008). “Progress toward interruption of wild poliovirus transmission—worldwide, January 2007–April 2008”. MMWR Morb. Mortal. Wkly. Rep. 57 (18): 489–94. PMID 18463607. 
  47. ^ http://www.polioeradication.org/content/general/casecount.pdf 2010-05-05
  48. ^ “Polio this week - As of ngày 6 tháng 2 năm 2013”. Polio Global Eradication Initiative. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2013. 
  49. ^ “Cần thận trọng và không nên quên lãng một số căn bệnh đang bị lãng quên”. Viện Sốt rét Ký sinh trùng. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2013. 
  50. ^ Centers for Disease Control and Prevention (CDC) (1994). “International Notes Certification of Poliomyelitis Eradication—the Americas, 1994”. MMWR Morb Mortal Wkly Rep (Centers for Disease Control and Prevention) 43 (39): 720–2. PMID 7522302. 
  51. ^ , (2001). “General News. Major Milestone reached in Global Polio Eradication: Western Pacific Region is certified Polio-Free” (PDF). Health Educ Res 16 (1): 109. doi:10.1093/her/16.1.109. 
  52. ^ D'Souza R, Kennett M, Watson C (2002). “Australia declared polio free”. Commun Dis Intell 26 (2): 253–60. PMID 12206379. 
  53. ^ “Europe achieves historic milestone as Region is declared polio-free” (Thông cáo báo chí). European Region of the World Health Organization. Ngày 21 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2008. 
  54. ^ Fine PEM (2009). “Polio: Measuring the protection that matters most”. J Infect Dis 200 (5): 673–675. PMID 19624277. doi:10.1086/605331. 
  55. ^ “Emergency appeal for Congo polio outbreak > Media room > Global Polio Eradication Initiative”. Truy cập 11 tháng 2 năm 2015. 
  56. ^ “New polio outbreak hits China - CNN.com”. CNN. Ngày 21 tháng 9 năm 2011. 
  57. ^ Ray, Kalyan (ngày 26 tháng 2 năm 2012). “India wins battle against dreaded polio”. Deccan Herald. 
  58. ^ “India polio-free for a year: ‘First time in history we’re able to put up such a map’”. The Telegraph. Ngày 26 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2012. 

Đọc thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi