Jisoo

Nữ ca sĩ thần tượng người Hàn Quốc, thành viên nhóm nhạc nữ Blackpink
Đây là một tên người Triều Tiên, họ là Kim.

Kim Ji-soo (Hangul: 김지수, sinh ngày 3 tháng 1 năm 1995), thường được biết đến với nghệ danh Jisoo, là một nữ ca sĩ thần tượng, diễn viên,nhạc sĩ,người mẫu, người dẫn chương trình người Hàn Quốc. Cô là thành viên lớn tuổi nhất của nhóm nhạc nữ Hàn Quốc Blackpink do công ty giải trí YG Entertainment thành lập và quản lý.

Kim Ji-soo
김지수
190919 Jisoo attended Cartier Event 1.jpg
Jisoo tại sự kiện của Cartier tại Seoul vào ngày 19 tháng 9 năm 2019
Sinh3 tháng 1, 1995 (26 tuổi)
Gunpo, Gyeonggi-do, Hàn Quốc
Quốc tịchHàn Quốc Hàn Quốc
Nghề nghiệp
Chiều cao162 cm (5 ft 4 in)
Cân nặng45 kg (99 lb)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụThanh nhạc
Năm hoạt động2016 – nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Tên tiếng Triều Tiên
Hangul
김지수
Hanja
金智秀
Romaja quốc ngữGim Ji-su
McCune–ReischauerKim Chisu
Hán-ViệtKim Trí Tú
Chữ ký
Signature of Jisoo.svg

Sinh ra tại thành phố Gunpo, tỉnh Gyeonggi, Jisoo gia nhập YG Entertainment vào năm 2011, trở thành thực tập sinh trong vòng 5 năm trước khi ra mắt cùng Blackpink vào tháng 8 năm 2016. Kể từ khi ra mắt, Jisoo cùng Blackpink đã từng bước trở thành hiện tượng toàn cầu, chinh phục thị trường Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.[1][2][3] Bên cạnh vai trò là ca sĩ, thần tượng K-pop, Jisoo còn tham gia diễn xuấtdẫn chương trình. Cô đóng nhiều quảng cáo, tham gia nhiều bộ phim dưới vai trò khách mời trước khi nhận được vai diễn chính đầu tiên trong sự nghiệp diễn xuất trong bộ phim truyền hình Snowdrop, dự kiến lên sóng vào đầu năm 2021.

Cô được lựa chọn làm gương mặt đại diện của nhiều nhãn hàng nổi tiếng, từng xuất hiện trên trang bìa của nhiều tạp chí danh tiếng với tư cách cá nhân cũng như với các thành viên khác trong nhóm. Cùng với các thành viên khác của Blackpink, cô được xem như một biểu tượng của sự sang trọng và phong cách trong ngành giải trí Hàn Quốc.[4]

Cuộc đời và sự nghiệpSửa đổi

Trước khi ra mắtSửa đổi

Kim Ji-soo sinh ngày 3 tháng 1 năm 1995[5] tại phường Sanbon-dong, thành phố Gunpo, tỉnh Gyeonggi, Hàn Quốc.[6][7] Cô là con út trong một gia đình có 3 anh chị em,[8][9] anh trai tên là Junghun,[10][11] còn chị gái tên là Ji-yoon.[12][13] Gia thế thực sự của cô đối với truyền thông đại chúng vẫn là một bí ẩn, nhưng đại đa số các nguồn tin đều cho rằng Jisoo xuất thân từ một gia đình có tài chính tốt.[14][15][16]

Jisoo từng theo học tại trường Trường Trung học Biểu diễn Nghệ thuật Seoul.[1] Sinh ra trong một gia đình yêu thích âm nhạc nên ngay từ khi còn bé, cô thường xuyên hát và nhảy trước mặt mọi người trong những buổi họp mặt và nhận được nhiều lời khen ngợi. Đây cũng chính là động lực lớn khiến cô đam mê biểu diễn trên sân khấu và hạ quyết tâm tham gia các cuộc thi tuyển.[17][18]

Jisoo trở thành thực tập sinh cho dự án New Girl Group của YG Entertainment vào tháng 7 năm 2011.[19] Trong buổi thử giọng với YG (YG Audition) cô đã thể hiện ca khúc "I Have A Lover" của Lee Eunmi.[8] Theo lời tự sự của chính Jisoo, trong một lần tham dự buổi hòa nhạc của công ty chủ quản, cô đã được một số nhà tìm kiếm tài năng của SM Entertainment tiếp cận và được ngỏ lời mời gia nhập công ty của họ. Tuy nhiên cô đã từ chối lời đề nghị này vì bản thân cô lúc bấy giờ đã là thực tập sinh bí mật của YG.[20] Vào tháng 5 năm 2012, Yang Hyun-suk hé lộ những bức hình đầu tiên của Jisoo mà không tiết lộ danh tính kèm câu hỏi "Who’s That Girl?", ám chỉ rằng cô sẽ là thành viên "nhóm nữ mới" mà ông đã đề cập vào năm 2010. Đến tháng 1 năm 2013, phía YG chính thức xác nhận Jisoo sẽ là gương mặt xuất hiện trong nhóm nhạc nữ mới của họ.[1] Trước khi ra mắt, Jisoo từng tham gia diễn xuất, đóng nhiều quảng cáo, video âm nhạc và thậm chí là cả phim truyền hình. Tháng 10 năm 2014, cô xuất hiện trong video âm nhạc "Spoiler" của Epik High.[21] Vào ngày 18 tháng 11 cùng năm, cô một lần nữa xuất hiện trong video âm nhạc "I'm Different" của Hi Suhyun.[22] Cô xuất hiện trong nhiều quảng cáo của nhiều nhãn hàng, bao gồm Samsonite bên cạnh Lee Min-ho,[23] Smart Uniform,[24] LG Electronics[25]Nikon.[26] Tháng 5 năm 2015, cô tham gia bộ phim Hậu trường giải trí với vai trò diễn viên khách mời trong các tập 4–5, 12[27] cùng các đồng nghiệp ở công ty là Sandara Park của 2NE1Kang Seung-yoon của Winner.[28][29]

2016–2017: Ra mắt cùng BLACKPINKSửa đổi

Ngày 15 tháng 6 năm 2016, công ty YG tiết lộ hình ảnh của Jisoo với tư cách là thành viên thứ ba và cũng là thành viên lớn tuổi nhất của nhóm nhạc nữ mới.[30] Ngày 8 tháng 8 năm 2016, cô chính thức ra mắt với tư cách là thành viên của Blackpink bên cạnh 3 người khác là Jennie, Rosé, Lisa với album đĩa đơn Square One gồm 2 bài hát "BoomBayah" và "Whistle".[31][32][33] Đĩa đơn đã thu về thành công lớn khi dành thứ hạng vị trị số 1 của Worldwide iTunes Album Chart cũng như trên bảng xếp hạng iTunes của 14 quốc gia khác nhau như Indonesia, Malaysia, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan.[34] Ngay lập tức, Blackpink nhận được nhiều sự hoan nghênh ở khắp nơi, được giới báo chí mệnh danh là tân binh "khủng long".[35] Ngày 14 tháng 8 đánh dấu lần đầu tiên Jisoo cùng nhóm xuất hiện trên sân khấu chương trình âm nhạc "Inkigayo" của kênh truyền hình SBS. Ngày 21 cùng tháng, ca khúc "Whistle" đã mang về cho Blackpink chiếc cúp đầu tiên tại chương trình Inkigayo, trở thành nhóm nhạc nữ có chiến thắng đầu tay nhanh nhất trong lịch sử K-pop chỉ sau 13 ngày, vượt qua kỷ lục 22 ngày trước đó của Miss A.[36] Vào ngày 1 tháng 11 năm 2016, album đĩa đơn mới của nhóm là Square Two cùng hai ca khúc mới "Playing with Fire" và "Stay" chính thức lên sóng.[37] Với ca khúc "Playing with Fire", Blackpink trở thành nhóm nhạc K-pop nữ đầu tiên lọt vào bảng xếp hạng đĩa đơn do tạp chí Billboard phát hành hàng tuần tại Canada.[38]

Vào ngày 5 tháng 2 năm 2017, Jisoo lần đầu đảm nhận vai trò người dẫn chương trình trên Inkigayo bên cạnh Doyoung của NCTPark Jin-young của GOT7.[39][40] Trong chương trình ngày hôm đó, cả ba đã có màn trình diễn cá nhân trước khi kết hợp cùng nhau trong một tiết mục vũ đạo trên nền nhạc "Someone in the Crowd", nhạc phim Những kẻ khờ mộng mơ.[41] Vào ngày 22 tháng 6 năm 2017, cô cùng Blackpink chính thức ra mắt ca khúc "As If It's Your Last". Video âm nhạc của bài hát sớm trở thành MV cán mốc 10 triệu lượt xem nhanh nhất đối với nhóm nhạc tại thời điểm đó khi nó chạm đến con số này trong vòng chưa đầy 17 tiếng.[42][43] Ca khúc dẫn đầu bảng xếp hạng iTunes tại 18 khu vực,[44] đạt được vị trí số 1 trên các bảng xếp hạng âm nhạc tại Hàn Quốc, trở thành nhóm nhạc nữ K-pop làm được điều này trong thời gian ngắn nhất.[45][46][47] Vào ngày 20 tháng 7, nhóm đã tổ chức Showcase đầu tiên ở nước ngoài tại Nippon Budokan, Tokyo, Nhật Bản, chính thức ra mắt tại quốc gia này.[48][49][50] Mini album tiếng Nhật đầu tay mang tên "Blackpink" của nhóm đã được phát hành vào ngày 30 tháng 8.[51][52][53] Tháng 11 năm đó, ca khúc "As If It's Your Last" đã xuất hiện trong một phân cảnh của bộ phim siêu anh hùng Liên minh Công lý của hãng Warner Bros.[54][55][56]

2018–2019: Đột phá cùng nhómSửa đổi

 
Jisoo (trái) và Rosé tại sân bay Incheon, trước khi cất cánh tới Amsterdam vào tháng 5 năm 2019

Tháng 1 năm 2018, chương trình thực tế Blackpink House với nội dung xoay quanh cuộc sống hàng ngày của bốn cô gái được ra mắt trên đài truyền hình Hàn Quốc JTBC.[57][58] Vào ngày 4 tháng 2, bộ ba Jisoo, Doyoung và Jinyoung đã thực hiện buổi phát sóng cuối cùng trên Inkigayo, kết thúc khoảng thời gian dài 1 năm đảm nhiệm vai trò "chủ nhà" tại chương trình này.[59] Ngày 28 tháng 3, mini album Nhật Bản của nhóm được phát hành lại với tựa đề Re: Blackpink. Vào ngày 15 tháng 6, đĩa mở rộng tiếng Hàn đầu tiên của nhóm là Square Up được phát hành.[60] Bao gồm bài hát chủ đề mang tên "Ddu-Du Ddu-Du"[61] và 3 bài hát khác "Forever Young", "Really" và "See U Later", mini album nay nhanh chóng đoạt được ví trí cao nhất của Gaon Album Chart[62][63] cũng như vị trí thứ 40 trên U.S. Billboard 200, trở thành album bán chạy nhất của Blackpink tại thị trường phương Tây cũng như đưa nhóm trở thành nhóm nữ K-pop có thứ hạng cao nhất trên bảng xếp hạng Billboard.[64][65][66][67] Blackpink đã mở màn chuyến lưu diễn Nhật Bản của họ với buổi biểu diễn tại Osaka vào ngày 24–25 tháng 7, kết thúc chặng 1 với buổi biểu diễn tại Chiba vào ngày 24–26 tháng 8.[68][69][70] Điểm dừng cuối cùng của tour diễn ra vào ngày 24 tháng 12 tại Kyocera Dome Osaka[71] như một món quà Giáng Sinh dành cho người hâm mộ của nhóm, điều này khiến nhóm trở thành nhóm nhạc nữ nước ngoài đầu tiên biểu diễn tại sân vận động mái vòm tại Nhật, sau khi ra mắt tại đây 1 năm 4 tháng. Blackpink kết hợp với nữ ca sĩ người Anh Dua Lipa trong ca khúc "Kiss and Make Up" vào tháng 10 năm đó.[72][73] Cô là người duy nhất thể hiện tiếng Hàn trong bài, trong khi các thành viên còn lại cũng như Dua Lipa đều thể hiện bằng tiếng Anh.[74][75]

Đầu năm 2019, Jisoo cùng Blackpink khởi động chuyến lưu diễn thế giới của mình "Blackpink 2019 World Tour in Your Area", với buổi trình diễn tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 11–13 tháng 1.[76] Trong một thông báo vào ngày 8 tháng 2, chủ tịch YG Entertainment Yang Hyun Suk tiết lộ rằng Lisa và Jisoo sẽ là hai thành viên cuối cùng thực hiện màn solo của mình.[77] Cũng trong tháng 2, nhóm đã lên hình trên một số chương trình truyền hình nổi tiếng của Hoa Kỳ[78][79] cũng như được thông báo sẽ xuất hiện trên ảnh bìa của tạp chí Billboard vào số tháng ba, trở thành nhóm nhạc nữ K-pop đầu tiên có được vinh dự này.[80][81] Vào ngày 5 tháng 4, nhóm đã cho ra mắt mini album thứ 2 Kill This Love gồm bài chủ đề cùng tên và 4 bài hát "Don't know what to do", "Kick It", "Hope Not" và "Ddu-Du Ddu-Du Remix".[82] Album đạt thành công vang dội trên thị trường quốc tế, trong đó ca khúc chủ đề "Kill This Love" đạt vị trí thứ 26 trên bảng xếp hạng UK Official Singles Chart.[83] Một tuần sau, vào ngày 12 tháng 4, Blackpink trở thành nghệ sĩ Kpop đầu tiên diễn tại Coachella.[84][85][86] Vào trung tuần tháng 6, Jisoo xuất hiện với vai trò là diễn viên khách mời trong tập 7 của bộ phim Biên niên sử Arthdal, công chiếu trên kênh tvN và dịch vụ xem phim trực tuyến Netflix.[87][88] Tuy chỉ lên hình vỏn vẹn 14 giây với duy nhất một lời thoại nhưng Jisoo vẫn nhận được sự quan tâm của công chúng. Các từ khóa liên quan tới cô nhanh chóng đứng đầu top tìm kiếm của nhiều nước trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam.[89][90] Vào ngày 16 tháng 10, nhóm phát hành phiên bản tiếng Nhật của mini album Kill This Love cũng như bắt đầu triển khai một số hoạt động tại Nhật Bản.[91]

2020–nay: Khẳng định tên tuổi và vai diễn chính đầu tiên trong sự nghiệpSửa đổi

 
Jisoo tại một sự kiện đầu năm 2020

Ca khúc "Sour Candy" nằm trong album Chromatica của Lady Gaga chính thức ra mắt và đạt hàng loạt kỷ lục.[92] Với vị trí 33 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, "Sour Candy" trở thành bài hát xếp hạng cao nhất của nhóm ở Mỹ cho đến nay cũng như bài hát xếp hạng cao nhất của một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc.[93] Vào ngày 13 tháng 6, YG Entertainment bất ngờ đăng tải một video mở đầu cho chương trình truyền hình thực tế mới nhất của Blackpink, 24/365 with Blackpink, được phát hành trên YouTube. Chương trình ghi lại hoạt động comeback sắp tới của nhóm cũng như cuộc sống của các thành viên thông qua các vlog.[94] Nhóm phát hành ca khúc "How You Like That" vào ngày 26 tháng 6, cán mốc 86,3 triệu lượt xem chỉ sau 1 ngày cũng như xác lập thêm 5 kỷ lục Guinness mới.[95][96][97] Đây là khúc dạo đầu cho album chính thức đầu tiên của nhóm. Trước thềm comeback, Jisoo cùng 2 thành viên khác là RoséJennie đã chính thức xác nhận tài khoản Weibo và bắt đầu chiến dịch quảng bá ở Trung Quốc.[98][99]

Ngày 28 tháng 8, đĩa đơn cùng với video âm nhạc "Ice Cream" kết hợp giữa Blackpink và Selena Gomez được phát hành, là đĩa đơn mở đường thứ hai cho album phòng thu đầu tiên "The Album" ra mắt vào ngày 2 tháng 10 năm 2020.[100][101] Ca khúc được nhận xét là ngọt ngào và tràn ngập sắc hồng, trái ngược phong cách "cool ngầu" từ trước đến giờ của nhóm. Vào ngày 18 tháng 8 năm 2020, Jisoo được thông báo sẽ trở thành nữ chính của bộ phim truyền hình Snowdrop của đài JTBC.[102] Đây cũng sẽ là vai diễn chính đầu tiên của cô, vì dù trước đó cô đã từng tham gia diễn xuất trong các bộ phim truyền hình nhưng chỉ trong vai trò khách mời.[103][104] Ngày 30 tháng 9, danh sách những bài hát nằm trong album của nhóm chính thức được công bố cùng với ca khúc chủ đề mang tên "Lovesick Girls". Ca khúc có sự tham gia viết lời của Jisoo và Jennie.[105][106][107] Trước đó vào ngày 8 tháng 9, NetflixBlackpink thông báo rằng bộ phim tài liệu BLACKPINK: Light Up The Sky sẽ ra mắt vào ngày 14 tháng 10,[108] kể về bốn năm hoạt động từ lần ra mắt đầu tiên của Blackpink vào năm 2016 với các cảnh quay từ những ngày nhóm luyện tập để nhìn lại cuộc sống gia đình của họ, những câu chuyện hậu trường cùng những cuộc phỏng vấn chân thực với các thành viên.[109][110][111]

Ngày 31.1.2021, Jisoo cùng Blackpink đã chính thức có buổi concert online đầu tiên trong sự nghiệp mang tên "The Show", cùng với những màn trình diễn được đầu tư công phu và đặc sắc. Trong tiết mục solo của mình, Jisoo đã cover ca khúc "Habits (Stay High)" của nữ ca sĩ Tove Lo. Jisoo đã trending #2 toàn thế giới trên nền tảng Twitter. Tại Weibo, hastag "Sân khấu solo của Kim Trí Tú" lọt top 18 bảng Hotsearch. "The Show" đã mang về cho Jisoo và Blackpink tổng doanh thu hơn 242 tỉ VNĐ.

Tác động và ảnh hưởngSửa đổi

 
Jisoo tại một sự kiện của Dior vào tháng 8 năm 2019

Trong cuộc bình chọn thường niên của Gallup Korea vào năm 2018, Jisoo đứng ở vị trí số 10 trong danh sách những thần tượng K-pop được yêu thích nhất năm.[112][113] Vào thời điểm tháng 4 năm 2019, cô là nghệ sĩ K-pop có lượt theo dõi nhiều thứ mười trên mạng xã hội Instagram với 12,8 triệu người theo dõi.[114] Nhờ những thành công của Blackpink trên trường quốc tế nên chỉ sau hơn 1 năm, Jisoo đã vươn lên vị trí thứ 4 trong danh sách này với gần 29 triệu lượt theo dõi tính đến tháng 9 năm 2020.[115] Cũng vào năm 2019, Jisoo đã đứng ở vị trí số 6 trong danh sách các nữ thần tượng được yêu thích nhất trong quân đội Hàn Quốc.[116] Jisoo cũng là nữ thần tượng K-pop duy nhất được chọn là một phần của BoF 500, một danh sách những nhân vật đang có sức ảnh hưởng đến ngành thời trang trị giá 2.400 tỷ USD từ mọi quốc gia trên thế giới.[117][118] Cô được miêu tả là "hát phụ từ nhóm nhạc nữ K-pop Blackpink — người đã và đang làm việc cùng Louis VuittonDior Cosmetic trong các hợp đồng quảng cáo cùng nhóm, đồng thời là gương mặt ưa thích từ các hãng thời trang cho vị trí front row."[a][119] Năm 2020, cô lọt vào danh sách 10 người nổi tiếng và có ảnh hưởng hàng đầu thế giới mỹ phẩm trong 5 tháng đầu năm. Tạp chí thời trang Women's Wear Daily đã tiết lộ rằng Jisoo dẫn đầu bảng xếp hạng trong tương tác trung bình trên mỗi bài đăng, tiếp đến là RihannaKylie Jenner.[120] Là người châu Á duy nhất có tên trong danh sách, Jisoo đứng ở vị trí thứ 7 trong bảng xếp hạng tổng thể, tuy nhiên cũng là người sở hữu ít bài đăng nhất với tổng cộng 12 bài.[121]

 
Jisoo tại lễ trao giải Golden Disc Awards 2019

Vào tháng 6 năm 2020, Jisoo đã gây được sự chú ý bằng vẻ ngoài của mình trong các đoạn teaser cho đĩa đơn "How You Like That" của nhóm.[122] Nhiều người nổi tiếng và những người có ảnh hưởng trên toàn cầu, đặc biệt là ở Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái LanViệt Nam, đã tạo lại kiểu trang điểm và "kiểu tóc hai nơ" do chính Jisoo tạo ra. Kiểu cách trang điểm với đôi mắt to tròn được vẽ tỉ mỉ trở thành điểm nhấn nổi bật nhất trên gương mặt và phấn má được kéo dài từ bọng mắt xuống đã trở thành xu hướng. Phong cách chấm bi của Jisoo cũng đã trở nên phổ biến trên mạng xã hội Instagram kèm theo hashtag #JisooMakeup để tạo thử thách cho những người hâm mộ nước ngoài.[123][124][125] Những kiểu trang điểm và quần áo phá cách, mới lạ của Jisoo cùng các thành viên khác trong video âm nhạc "How You Like That",[126] đặc biệt là mẫu trang phục Hanbok cách tân, dù vấp phải chỉ trích về bảo tồn văn hóa,[127] đã trở thành tâm điểm được chú ý trên mạng xã hội.[128][129][130]

Vào tháng 7 năm 2020, Jisoo được xem là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất trong việc quảng cáo thương hiệu thể thao Adidas của Đức, bên cạnh cầu thủ bóng đá Cristiano Ronaldo.[131] Vào tháng 9 năm 2020, nhà sáng lập kiêm nhà thiết kế người Malaysia của Self-Portrait, Han Chong, đã gọi Jisoo cùng Lisa của Blackpink là 2 trong số It Girl nổi tiếng ở châu Á.[132] Năm 2020, Jisoo cũng dẫn đầu bảng xếp hạng danh tiếng thương hiệu thành viên nhóm nhạc nữ, một bảng xếp hạng được Viện Nghiên cứu Doanh nghiệp Hàn Quốc tạo ra thông qua phân tích các hoạt động cá nhân tham gia, tần suất xuất hiện trên các phương tiên truyền thông, khả năng tác động tới công chúng và độ phổ biến với cộng đồng.[133]

Vào năm 2020, doanh số bán hàng của thương hiệu Dior gia tăng trong đại dịch COVID-19 ở Hàn Quốc cũng là nhờ chiến dịch tiếp thị sử dụng nhiều ca sĩ, thần tượng Hàn Quốc bao gồm cả Jisoo.[134] Jisoo đã góp phần cho khởi đầu thành công của mẫu túi xách Bobby mới của Dior, một chiến dịch có sự góp mặt của những tên tuổi nổi bật của làng thời trang như Chiara FerragniKat Graham.​[135] Nữ diễn viên người Philippines Liza Soberano từng chia sẻ rằng cô lấy cảm hứng cho phong cách thời trang với chiếc khăn Oblique của Dior sau khi thấy Jisoo diện nó trong chiến dịch quảng bá Thu - Đông năm 2020 của hãng.[136] Jisoo lọt top 7 gương mặt thời trang - danh sách nữ Châu Á do tạp chí I-magazine bình chọn năm 2020, tăng 28 so với năm 2019 [137], là ngôi sao Hàn Quốc có vị trí cao thứ 3.

Hoạt động khácSửa đổi

Quảng bá nhãn hiệuSửa đổi

 
Jisoo trong buổi chụp hình với tạp chí Marie Claire Korea vào tháng 8 năm 2020.

Jisoo từng xuất hiện trên các tạp chí thời trang danh tiếng như Vogue,[138] Elle,[139] Harper's Bazaar,[140] Marie Claire,[141] Cosmopolitan.[142] .Trong số đó Elle, Harper's Bazaar là 2 tạp chí mà Jisoo xuất hiện nhiều nhất.[143]hghg

Jisoo trở thành đại sứ khu vực Hàn Quốc của thương hiệu mỹ phẩm "Dior Beauty" vào tháng 12 năm 2019.[144] Mùa hè năm 2020, cô được tuyển chọn làm nàng thơ của Dior[145] và làm người mẫu cho bộ sưu tập Thu/Đông 2020 của hãng.[146] Tháng 9 năm 2020, Jisoo lên bìa tạp chí Dazed Korea số 155 đồng thời chia sẻ về công việc của mình với Dior.[147][148] Cô từng bị nhiều người nghi ngờ với danh hiệu đại sứ của "Dior Beauty". Có người cho rằng cô chỉ là "đại sứ tự xưng" chứ hoàn toàn "không có danh phận" đối với thương hiệu thời trang này. Tuy nhiên, vào cuối tháng 9, trang Instagram chính thức của Dior đã đăng tải phần hình ảnh của Jisoo ở vị trí nổi bật, qua đó khẳng định được vị trí của cô tại Dior.[149] Khi giới thiệu bộ sưu tập Xuân/Hè 2021, Jisoo được khen ngợi vì đã quảng bá được cảm hứng nữ quyền mà Giám đốc Sáng tạo Maria Grazia Chiuri đưa vào thời trang của Dior.[150] Trong một đoạn video ngắn đăng tải trên Instagram, cô chia sẻ suy nghĩ về "sức mạnh ẩn sau sự thanh lịch" trên thiết kế của Chiuri, cũng như các mẫu thiết kế từ bộ sưu tập mà cô ấn tượng nhất.[151] Jisoo cũng là một trong ba đại diện thuộc thế hệ MZ Hàn Quốc được chọn làm nhân vật chính trong chiến dịch quảng cáo "Pasha de Cartier" của Cartier vào đầu tháng 9 năm 2020.[152]

Đời tưSửa đổi

Jisoo là thành viên duy nhất của Blackpink sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc.[16] Cô là một người hâm mộ của bộ môn bóng rổ[153] và đặc biệt tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa thời còn đi học. Cũng có tin đồn rằng Jisoo từng tham gia câu lạc bộ diễn xuất của trường mình và thần tượng diễn xuất của cô là hai nữ diễn viên Son Ye-jinNatalie Portman.[154] Bên cạnh tiếng Hàn mẹ đẻ, cô còn có thể sử dụng tiếng Nhật và một ít tiếng Trung.[155] So với các thành viên khác trong nhóm, Jisoo kém hơn về khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh.[156] Cô khá rụt rè và không tự tin khi sử dụng ngôn ngữ này nhưng vẫn cố gắng trau dồi vốn tiếng Anh mỗi ngày để có thể chia sẻ nhiều hơn với người hâm mộ nước ngoài.[157]

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Sáng tácSửa đổi

Năm Nghệ sĩ Ca khúc Album Lời Nhạc Nguồn
2020 Blackpink "Lovesick Girls" The Album Không [158]

Danh sách phim và chương trình truyền hìnhSửa đổi

Chương trình thực tếSửa đổi

Năm Kênh Tên Ghi Chú Nguồn
2018 Youtube BLACKPINK HOUSE Với Blackpink [159]
Vlive
JTBC2
Olleh TV
Vlive BLACKPINK X STAR ROAD [160]
2019 Youtube BLACKPINK Diaries [161]
Vlive
2020 Youtube 24/365 with BLACKPINK
Vlive
Netflix Blackpink: Light up the sky

Chương trình giải trí trên sóng truyền hìnhSửa đổi

Năm Tên Vai trò Kênh Ghi Chú Nguồn
2016 Weekly Idol Khách mời MBC Every 1 Với Blackpink
Running Man Khách mời
2017–2018 Inkigayo MC SBS Với Jinyoung (GOT7) và Doyoung (NCT127) [162]
2018 Running Man Người chơi SBS Với Blackpink
Idol Room Khách mời JTBC
Radio Star Khách mời SBS
2019 Stage K Giám khảo JTBC
2020 Tasty Square Khách mời SBS
Knowing Brothers JTBC Với Blackpink
Running Man SBS

Phim truyền hìnhSửa đổi

Năm Kênh Tên Vai trò Nguồn
2015 KBS The Producers Khách mời [163]
2017 Netflix Temporary Idol [164]
2018 YG Future Strategy [164]
2019 tvN Biên niên sử Arthdal [165]
2020 JTBC Snowdrop Cast chính [166]

Video âm nhạcSửa đổi

Năm Tựa đề Nghệ sĩ Nguồn
2014 "Spoiler + Happen Ending" Epik High [167][168]
"I'm Different" Hi Suhyun ft. Bobby [167][168]

Giải thưởng và thành tựuSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ "Front row" là một thuật ngữ dùng để chỉ hàng ghế đầu trong những buổi trình diễn thời trang.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â Benjamin, Jeff (6 tháng 6 năm 2020). “Jisoo of Blackpink: from 'mystery girl' to global sensation”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  2. ^ “Choáng váng với những kỷ lục công phá toàn cầu của Black Pink với 'bom tấn' mới”. Tiền Phong. 29 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2020.
  3. ^ “Hành trình thay đổi cục diện "cuộc chơi" tại Mỹ của những nữ hoàng K-pop mới: Black Pink”. Billboard Việt Nam. 8 tháng 3 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2020.
  4. ^ Carpio, Jillian (16 tháng 6 năm 2020). “Blackpink x fashion: why did Chanel choose Jennie and who got Rosé?”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  5. ^ Daly, Rhian (4 tháng 1 năm 2019). “A beginner's guide to Blackpink, the all-singing, all-rapping, all-female K-pop band | NME”. NME Music News, Reviews, Videos, Galleries, Tickets and Blogs | NME.COM (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  6. ^ Hui-ling, Chew (28 tháng 9 năm 2016). Teo, Johanna (biên tập). “The Breakout Kids”. Teenage Magazine (bằng tiếng Anh). Singapore: Key Editions Pte Ltd (334): 48–49. ISSN 0219-9645. OCLC 224927719. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2016.
  7. ^ “[블랙핑크 데뷔②] 블랙핑크 입덕 준비 끝…괴물 신인 스포일러”. Ilgan Sports (bằng tiếng Hàn). South Korea: JTBC Plus. 8 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  8. ^ a ă Quỳnh Trang (29 tháng 9 năm 2020). “Những bí mật về Jisoo Blackpink mà không phải BLINK nào cũng biết”. Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  9. ^ “Gia đình "cực phẩm" của Jisoo: Anh trai, chị gái như minh tinh, cháu gái đã là model nhí”. Thể thao & Văn Hóa. Thông tấn xã Việt Nam. 23 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  10. ^ “Nhan sắc anh trai Jisoo (BLACKPINK) khiến dân tình rần rần: 'Gia đình gen trội là đây chứ đâu'. V. O. H. Online. Đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  11. ^ “Chân dung anh trai có ngoại hình cực phẩm của Jisoo (Blackpink)”. laodong.vn. 15 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  12. ^ “BLACKPINK Jisoo's Older Sister Stuns the Internet With Family's 'Superior' Genes”. NextShark (bằng tiếng Anh). 20 tháng 1 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  13. ^ “Chị gái xinh đẹp của Jisoo lại khiến dân tình xốn xang trước visual cực phẩm”. V. O. H. Online (bằng tiếng Việt). Đài tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  14. ^ “超级女团日本行程过半 探班AKB48聊不停”. ent.sina.com.cn (bằng tiếng Trung). 21 tháng 6 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  15. ^ “Sự thật về gia thế quyền lực của Jisoo (Blackpink) khiến fan ngỡ ngàng”. Lao Động (bằng tiếng Việt). 21 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  16. ^ a ă “Blackpink Jisoo連素顏都超美!身高162cm金智秀7招「女友風」休閒穿搭術”. www.elle.com.hk (bằng tiếng Trung). ELLE HK. 26 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  17. ^ Quỳnh Mai (20 tháng 5 năm 2018). “Chặng đường biến Black Pink là ngôi sao thế hệ mới của nhà YG”. IONE.NET (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  18. ^ “人紅就說被整容,一張童年照足以證明天然美女的誕生~” (bằng tiếng Trung). kknews.cc. 7 tháng 4 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  19. ^ Bee (24 tháng 6 năm 2020). “Ji Soo: Ngày bé 'thường thường', lớn lên hóa 'nữ thần sắc đẹp' (phần 1)”. IONE.NET (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  20. ^ Minh Anh (27 tháng 11 năm 2019). “Jisoo Blackpink tiết lộ từng được 'đối thủ' của YG đề nghị làm thực tập sinh”. Thể thao & Văn hóa. Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020.
  21. ^ “8 songs BLACKPINK appeared on before debut”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). 8 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  22. ^ Network, The Korea Herald/Asia News (9 tháng 8 năm 2016). “Meet K-pop's newest girl band Black Pink”. Philippine Daily Inquirer (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  23. ^ “YG 신인 걸그룹 김지수, 데뷔 전부터 이민호와 CF모델 발탁”. Ten Asia (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  24. ^ “Kim JISOO & iKON & Chosen as School Uniform models 'Smart Uniform'. Blackpink YG (bằng tiếng Anh). 25 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  25. ^ “iKON Together with YG's Kim Jisoo Became New Commercial Models for LG Smart Phones”. YG United (bằng tiếng Anh). 24 tháng 3 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2019.
  26. ^ “Small but strong... Nikon announces Nikon 1 J5 lens interchangeable camera”. The Korea Herald (bằng tiếng Hàn). 2 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2019. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  27. ^ Tabanera, Lily Grace (19 tháng 9 năm 2020). “We Can't Get Over ~Rookie~ Jisoo's Adorable Cameo In 'The Producers' (bằng tiếng Anh). Cosmopolitan. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  28. ^ '아스달 연대기' 측 "블랙핑크 지수 출연, 역할 방송통해 확인 부탁"(공식입장)”. Newsen (bằng tiếng Hàn). 6 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  29. ^ Minibon (9 tháng 8 năm 2016). “Choáng ngợp với dàn khách mời "trong mơ" của loạt phim Hàn”. Thể thao & Văn hóa (bằng tiếng Việt). Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  30. ^ “Get to know the BLACKPINK members: New Netflix documentary”. Film Daily (bằng tiếng Anh). 9 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  31. ^ Hằng Hà (8 tháng 8 năm 2020). “BlackPink kỷ niệm 4 năm thành lập nhóm”. Báo Thanh Niên. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  32. ^ “Girlgroup thay thế 2NE1, Black Pink, tung MV ra mắt "BOOMBAYAH". Thể thao & Văn Hóa (bằng tiếng Việt). Thông tấn xã Việt Nam. 8 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  33. ^ Thiên Phúc (16 tháng 6 năm 2020). “BLACKPINK chính thức ra mắt hình ảnh teaser mới đầy bí ẩn”. PLO. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  34. ^ “YG新人女团BLACK PINK横扫韩国音乐榜冠军”. ent.sina.com.cn (bằng tiếng Trung). 9 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  35. ^ "Boombayah" của Black Pink cán mốc 800 triệu view”. world.kbs.co.kr. 25 tháng 2 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  36. ^ “BLACKPINK14日将出演《人气歌谣》 献出道舞台_娱乐_腾讯网”. QQ Entertainment (bằng tiếng Trung). Tencent. 2 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  37. ^ Fin Café (1 tháng 11 năm 2016). “BlackPink 'gây bão' với 2 MV mới trên bảng xếp hạng Kpop”. Báo đất Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  38. ^ “Nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên ghi danh trên bảng xếp hạng Billboard”. Phụ nữ Việt Nam. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  39. ^ 吴婧怡 (2 tháng 2 năm 2017). “珍荣道英JISOO任《人气歌谣》新MC_电视新闻_大众网”. 大众网 (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  40. ^ Quỳnh Mai (7 tháng 2 năm 2017). “Ngoại hình của Ji Soo (Black Pink) trở thành chủ đề hot trên mạng”. iOne.net. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  41. ^ Ent, Y. G. (5 tháng 2 năm 2017). “『人気歌謡』MC JISOO「もっと発展し、頑張っていきたい」”. YG LIFE (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2020.
  42. ^ “블랙핑크, '마지막처럼' MV K팝 그룹 역대 최단시간 1천만뷰 돌파” (bằng tiếng Hàn). Star Daily News. ngày 23 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  43. ^ “Black Pink shatters the K-pop MV YouTube record for 10 million views”. SBS PopAsia. ngày 23 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  44. ^ Herman, Tamar (5 tháng 7 năm 2017). “K-Pop Girl Group Blackpink Talks Finding Success with Summery 'As If It's Your Last'. Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  45. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. gaonchart.co.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  46. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. gaonchart.co.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  47. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. gaonchart.co.kr. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  48. ^ “【レポート】BLACKPINK、武道館で初来日公演「期待に応えられるよう頑張ります!」”. BARKS (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  49. ^ “BLACKPINKが初来日 武道館のファン1.4万人熱狂”. Oricon Music (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  50. ^ “BLACKPINKに武道館1万4千人熱狂!日本活動に意気込みも | 女性自身”. WEB女性自身 (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  51. ^ 뉴시스 (28 tháng 7 năm 2020). “블랙핑크, 첫 정규앨범 10월2일 발매…YG "글로벌 시장 공략". www.chosun.com (bằng tiếng Hàn). Chosun Ilbo. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  52. ^ “2017/08/29付 オリコンデイリー CDアルバムランキング”. ORICON NEWS (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  53. ^ “BLACKPINK「BLACKPINK - EP」を Apple Music で”. iTunes. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2017. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  54. ^ Giả Bình (2 tháng 11 năm 2017). “BlackPink xuất hiện cực bất ngờ trong bom tấn Batman sắp ra mắt”. Thể thao & Văn hóa (bằng tiếng Việt). Thông tấn xã Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  55. ^ Bell, Crystal (17 tháng 11 năm 2017). “We Need To Talk About That K-Pop Moment In Justice League”. MTV News (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  56. ^ “Turns out there's going to be a LOT of Black Pink in 'Justice League'. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). 7 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  57. ^ “[BLACKPINK][新闻]171229 《BLACKPINK HOUSE》正式版预告公开 1月6日首播确定!——IDOL新闻”. idol001.com (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  58. ^ “[BLACKPINK][分享]171123 官方宣传来报道 BLACKPINK TV即将来袭!——IDOL新闻”. idol001.com (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  59. ^ Nhật Linh (2 tháng 3 năm 2018). “Những bộ ba MC có ngoại hình đỉnh cao nhất của chương trình âm nhạc Hàn Quốc”. Điện ảnh. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020.
  60. ^ Herman, Tamar. “BlackPink Release 'Square Up' EP Fronted by Sharp-Shooting 'Ddu-Du Ddu-Du' Music Video”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018.
  61. ^ '컴백 D-7' 블랙핑크, 첫 미니앨범 '스퀘어 업' 8일 예판 시작”. Sports World (bằng tiếng korean). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  62. ^ “국내 대표 음악 차트 가온차트!”. Gaon Chart. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  63. ^ “Lần đầu tiên bán album offline trong sự nghiệp, Black Pink đã tạo nên những kì tích”. Thể thao & Văn Hóa (bằng tiếng Việt). Thông tấn xã Việt Nam. 21 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  64. ^ Haru (26 tháng 6 năm 2018). "DDU-DU DDU-DU" của Black Pink tổng tấn công các BXH của Billboard”. Billboard Việt Nam (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  65. ^ Herman, Tamar (25 tháng 6 năm 2018). “BLACKPINK Becomes Highest-Charting K-Pop Girl Group In America With 'Square Up' & 'Ddu-Du Ddu-Du'. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  66. ^ Zellner, Xander (25 tháng 6 năm 2018). “BLACKPINK Makes K-Pop History on Hot 100, Billboard 200 & More With 'DDU-DU DDU-DU'. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  67. ^ Hong Dam-young (26 tháng 6 năm 2018). “Black Pink becomes highest charting K-pop girl act on Billboard's Hot 100”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  68. ^ “BLACKPINK、京セラドーム大阪公演でファンからのサプライズに涙!「どうやって準備したんですか?」(M-ON!Press(エムオンプレス))”. Yahoo!ニュース (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2018.
  69. ^ “BLACKPINK are going on their first arena tour”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2019.
  70. ^ “BLACKPINK Will Hold Their First 'Arena Tour' in Japan… in sáu concerts”. YGlife (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2019.
  71. ^ “BLACKPINK、京セラドーム大阪にてツアーファイナル。ファンからのサプライズに涙”. barks.jp (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 12 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019.
  72. ^ “블랙핑크, 레이디 가가 새 앨범 참여…"서로의 팬 되면서 자연스럽게 작업 진행". n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). 23 tháng 4 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  73. ^ 백지은 (23 tháng 4 năm 2020). “[공식] 블랙핑크, 레이디가가 '사워캔디' 컬래버…"서로의 음악팬". www.chosun.com (bằng tiếng Hàn). Chosun Ilbo. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  74. ^ “The Dua Lipa x BLACKPINK Collab Is Finally Here”. Spot.ph (bằng tiếng Anh). 19 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  75. ^ Benjamin, Jeff (25 tháng 10 năm 2018). “How Dua Lipa & Blackpink's 'Kiss and Make Up' Hints at a Language-Less Future for Pop Music”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2020.
  76. ^ Suthima Thongmark (1 tháng 11 năm 2019). “Blackpink will kick off their next world tour in Bangkok in Jan 2019”. Time Out Bangkok. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  77. ^ “YG công bố kế hoạch solo của từng thành viên BLACKPINK và phản ứng hài hước của Knet”. Thể thao & Văn Hóa. Thông tấn xã Việt Nam. 9 tháng 2 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  78. ^ Yonhap (7 tháng 2 năm 2019). “BLACKPINK to appear on CBS talk show hosted by comedian Stephen Colbert”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  79. ^ Herman, Tamar (2 tháng 6 năm 2019). “BLACKPINK to Perform on 'The Late Show'. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  80. ^ 'Billboard' embraces BLACKPINK as its first Korean cover girls”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). 4 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  81. ^ Yonhap (1 tháng 3 năm 2019). “BLACKPINK becomes first Korean cover girls for Billboard”. The Korea Herald (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  82. ^ “KILL THIS LOVE - EP by BLACKPINK”. Apple Music (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp); no-break space character trong |website= tại ký tự số 6 (trợ giúp)
  83. ^ McIntyre, Hugh (18 tháng 4 năm 2019). “4 Ways Blackpink Is Making History On The U.K. Singles Chart This Week”. Forbes (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  84. ^ Moon, Kat (3 tháng 1 năm 2019). “BLACKPINK to Become First Female K-Pop Group at Coachella”. Time. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  85. ^ Real, Evan (1 tháng 3 năm 2019). “Blackpink to Make History as First K-Pop Girl Group to Play Coachella | Hollywood Reporter”. The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  86. ^ “BLACKPINK make Coachella history”. BBC News (bằng tiếng Anh). 13 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  87. ^ “2PM Nichkhun与BLACKPINK智秀出演电视剧《阿斯达年代记》_韩国娱乐新闻_韩国新闻_韩网”. www.kcrea.cc (bằng tiếng Trung). 11 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  88. ^ Công Nguyễn (11 tháng 6 năm 2019). “Jisoo (BlackPink) đóng phim cùng Song Joong Ki”. VietNamNet. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020.
  89. ^ 蒙曉盈 (23 tháng 6 năm 2019). “Jisoo@BLACKPINK客串《阿斯達年代記》 14秒古裝演出震撼Twitter”. 香港01 (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  90. ^ Thanh Đào 1 (23 tháng 6 năm 2019). “Jisoo (Black Pink) gây sốt khi xuất hiện trong 'Biên niên sử Asadal' cùng Song Joong Ki”. Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020.
  91. ^ “Kill This Love Japanese Version”. Apple Music. Apple Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2019. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  92. ^ Glasby, Taylor (17 tháng 7 năm 2020). “Im Gespräch mit der größten K-Pop-Girlband der Welt”. Vogue Germany (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  93. ^ “BLACKPINK hit ARIA Top 10 with Lady Gaga's "Sour Candy". SBS PopAsia. 8 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  94. ^ “블랙핑크, 새 단독 리얼리티 론칭…팬들과 적극 소통한다”. Herald Pop (in Korean). 13 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2020.
  95. ^ Agency (2 tháng 7 năm 2020). “Blackpink wins 5 Guinness World Record titles with 'How You Like That' | The Star”. www.thestar.com.my (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  96. ^ Punt, Dominic (30 tháng 6 năm 2020). “BLACKPINK's return sets new YouTube records with How You Like That”. Guinness World Records (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  97. ^ Hiểu Nhân (1 tháng 7 năm 2020). “Blackpink lập kỷ lục Guinness”. vnexpress.net. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  98. ^ “Sau Lisa, các thành viên còn lại của BlackPink đã sẵn sàng cho kế hoạch 'Trung tiến'. SaoStar.vn. 11 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  99. ^ “Fandom BLACKPINK lục đục nội bộ trước thềm comeback vì YG bất công với Lisa”. YAN. 26 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  100. ^ Hong, Seung-han (4 tháng 8 năm 2020). “블랙핑크, 두번째 신고 8월 28일 발표[공식]”. Sports Seoul (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  101. ^ Ent, Y. G. “BLACKPINK to Release Second New Single on August… Shocking Collaboration Coming Up”. YG LIFE (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  102. ^ Llewellyn, Tom (5 tháng 10 năm 2020). “Snowdrop: Release date and plot as Blackpink's Jisoo lands her first K-drama”. HITC (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  103. ^ Tuệ Nhi (24 tháng 8 năm 2020). “Jung Hae In, Kim Hye Yoon hợp tác cùng Jisoo Blackpink trong phim đầu tay”. Tuổi Trẻ Cười (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  104. ^ Trí Anh (24 tháng 8 năm 2020). “Dàn cast của "Snowdrop" khiến fan hài lòng: Jung Hae In sánh đôi cùng Jisoo BLACKPINK”. Chuyên trang Hoa Học Trò - Chuyên trang Hoa Học Trò - Báo điện tử Tiền Phong. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  105. ^ Anna (29 tháng 9 năm 2020). “Black Pink tung tracklist cho "THE ALBUM": Xác nhận sự góp mặt của Cardi B, Jennie và Jisoo tham gia sáng tác”. Billboard Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  106. ^ Lê Anh (30 tháng 9 năm 2020). “BLACKPINK buồn bã, đau khổ vì tình trong teaser MV "Lovesick Girls". vov.vn. Đài tiếng nói Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  107. ^ Quỳnh Anh (2 tháng 10 năm 2020). “MV Lovesick Girls (BlackPink): Những thước phim điên loạn, cuồng nhiệt từ 4 cô gái vàng nhà YG, lượt xem trực tuyến gây chú ý”. SaoStar.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  108. ^ Jan, Ivy (7 tháng 10 năm 2020). “BLACKPINK紀錄片將於Netflix播出!出道辛酸讓Rosé潸然淚下、全員觀看預告反應超逗趣”. Harper's BAZAAR (bằng tiếng Trung). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  109. ^ Langford, Jackson (9 tháng 9 năm 2020). “BLACKPINK announce new Netflix documentary 'Light Up The Sky' | NME”. NME Music News, Reviews, Videos, Galleries, Tickets and Blogs | NME.COM (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  110. ^ Bravo Team (9 tháng 9 năm 2020). “Netflix: Doku "BLACKPINK: Light Up The Sky" erscheint im Oktober”. www.bravo.de (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  111. ^ Rowley, Glenn (6 tháng 10 năm 2020). “Watch Blackpink 'Light Up the Sky' in First Trailer For Netflix Documentary”. Billboard (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  112. ^ “2018년 올해를 빛낸 가수와 가요 - 최근 12년간 추이 포함” (bằng tiếng Hàn). Gallup Korea. 30 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  113. ^ Hicap, Jonathan (26 tháng 12 năm 2018). “Gallup Korea names favorite singers, songs in 2018”. Manila Bulletin (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  114. ^ “Blackpink's Lisa most followed K-pop idol on Instagram”. The Straits Times (bằng tiếng Anh). 17 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  115. ^ An Nhiên (23 tháng 9 năm 2020). “4 cô gái BlackPink có lượt theo dõi cao nhất trên Instagram”. laodongtre.laodong.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  116. ^ “Sana de Twice es elegida la cantante más popular por los soldados de Corea del Sur”. La República (bằng tiếng Tây Ban Nha). 10 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  117. ^ “Jisoo”. The Business of Fashion (bằng tiếng Anh). 30 tháng 9 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  118. ^ Khan, Rimsha (30 tháng 9 năm 2019). “BLACKPINK Jisoo listed as a model on 'Business of fashion 500'. The Women Journal (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020.
  119. ^ Trí Tú (1 tháng 10 năm 2019). “Không phải Jennie, đây mới là thành viên BlackPink duy nhất lọt top 500 người có ảnh hưởng về thời trang trên thế giới”. SaoStar.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  120. ^ “Beauty Celebs, Influencers Keep Engaging Better Than Brands on Social Media”. Women's Wear Daily (bằng tiếng Anh). 30 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  121. ^ “Beauty, Kylie Jenner, and Rihanna are the biggest influencers”. Oicanadian (bằng tiếng Anh). 6 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  122. ^ Bee (21 tháng 6 năm 2020). “Ji Soo đẹp đỉnh cao, Jennie gây cười trong teaser comeback”. iOne.net (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  123. ^ Abelman, Devon (20 tháng 6 năm 2020). “Blackpink's Makeup Artist Shares Stories Behind the Beloved Looks in the "How You Like That" Music Video”. www.yahoo.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  124. ^ “점만 잘 찍어도!”. Marie Claire Korea (bằng tiếng Hàn). 15 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  125. ^ “Blackpink's Makeup Artist Shares Stories Behind the Beloved Looks in the "How You Like That" Music Video”. Allure (bằng tiếng Anh). 20 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  126. ^ Pratiwi, Yunia (23 tháng 7 năm 2020). “Di Balik Proses Kreatif Makeup How You Like That Blackpink”. Tempo (bằng tiếng Indonesia). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  127. ^ Su Kem (2 tháng 7 năm 2020). “Tưởng lấy lòng được Knet, BLACKPINK vẫn bị chỉ trích vì diện hanbok "lai Trung Quốc". YAN (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  128. ^ Đình Dy (24 tháng 6 năm 2020). "How you like that" của Blackpink gây sốt với tạo hình mới lạ đến từ Jisoo”. laodong.vn (bằng tiếng Việt). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  129. ^ “BlackPink mặc hanbok cách tân, trang điểm lạ trong MV mới”. Zing News. 26 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  130. ^ Quỳnh Trang (27 tháng 6 năm 2020). “Blackpink. How You Like That. Jennie. Rosé. How You Like That Blackpink”. thethaovanhoa.vn. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  131. ^ “Nike ist die weltweit sichtbarste Twitter-Marke”. W&V (bằng tiếng Đức). 16 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  132. ^ “Blackpink's Jisoo and Lisa, Meghan Markle, Priyanka Chopra and Beyoncé all love Self-Portrait – 6 things to know about the Malaysian designer Han Chong”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). 20 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  133. ^ “[브랜드평판] 걸그룹 개인 브랜드 2020년 9월 빅데이터 분석결과... 1위 블랙핑크 지수, 2위 오마이걸 유아, 3위 블랙핑크 제니”. Future Korea (bằng tiếng Hàn). 20 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  134. ^ “Dior grows rapidly to threaten Chanel, Hermes here”. The Korea Times (bằng tiếng Anh). 28 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  135. ^ “The Mega-Influencer Is Here to Stay”. Women's Wear Daily (bằng tiếng Anh). 4 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  136. ^ “Liza Soberano Channeled BLACKPINK Jisoo For This Look—We're Obsessed!”. METRO style (bằng tiếng Anh). 8 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  137. ^ “PRESENTS: I-MAGAZINE FASHION FACE AWARDS 2020 - ASIAN FEMALE”.
  138. ^ “Blackpink đẹp xuất sắc trên tạp chí Vogue Hàn: 'Nàng thơ' của các thương hiệu nổi tiếng”. thethaovanhoa.vn. 16 tháng 2 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  139. ^ Colón, Ana (17 tháng 9 năm 2020). “Must Read: Blackpink Cover 'Elle,' 'Vogue' Launches New Podcast - Fashionista”. fashionista.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  140. ^ Hoàng Dung (18 tháng 12 năm 2019). “Jisoo Blackpink quyến rũ thuần khiết trên trang bìa Harper's Bazaar”. VietNamNet. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  141. ^ “Jisoo (BlackPink) rạng rỡ trên bìa Marie Claire tháng 9, tiết lộ lịch trình bận rộn”. SaoStar.vn. 18 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  142. ^ “BLACKPINK share what pastimes make them happy”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). 17 tháng 7 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  143. ^ Minie (4 tháng 9 năm 2020). “So kè thần thái của 4 thành viên Black Pink trên bìa tạp chí”. iOne.net. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  144. ^ '블랙핑크' 지수, 디올 뷰티 로컬 앰버서더로 발탁”. Star Daily News (bằng tiếng Hàn). 18 tháng 12 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  145. ^ “디올의 뮤즈 지수, 청량한 여름을 닮은”. Elle Korea (bằng tiếng Hàn). 3 tháng 7 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  146. ^ “Check Out Jisoo From BLACKPINK Clad In All Dior—We're Obsessed!”. METRO style (bằng tiếng Anh). 25 tháng 8 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  147. ^ “블랙핑크 지수, 단아+강인한 매력..눈부신 미모[화보]”. Herald Pop (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  148. ^ “세계를 매료시킨 '지수다움'의 정의, <데이즈드>와 지수의 첫 만남을 통해 그 깊고도 새로운 서막이 시작됐다”. Dazed Korea (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  149. ^ Thu Trà (30 tháng 9 năm 2020). “Jisoo được hãng Dior đặc biệt ưu ái trên mạng”. Zing News. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  150. ^ “블랙핑크 지수, 디올 '21SS 레디투웨어' 패션쇼 韓대표 참석”. Single List (bằng tiếng Hàn). 9 tháng 10 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  151. ^ “Dior Spring/Summer 2021 Show Was A Divine Affair”. L'Officiel Baltics (bằng tiếng Anh). 3 tháng 10 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  152. ^ 권연수 (11 tháng 9 năm 2020). “블랙핑크 지수, 어떤 각도에서 바라봐도 완벽한 미모”. Digital Chosun Inc (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  153. ^ Vacco-Bolaños, Jessica (27 tháng 10 năm 2019). “7 Things You Need To Know About BLACKPINK's Jisoo”. Elite Daily (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  154. ^ Choi Ha Rin (27 tháng 9 năm 2020). “Blackpink before the fame: the origins of Jennie, Rosé, Lisa and Jisoo”. South China Morning Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  155. ^ Moon, Kat (3 tháng 4 năm 2019). “Everything to Know About K-Pop Group BLACKPINK”. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  156. ^ Hải Âu (14 tháng 2 năm 2019). “Không thể nói tiếng Anh và im lặng suốt buổi phỏng vấn, Jisoo bị CĐM quốc tế chỉ trích”. Yeah1 Music - Kênh Thông tin Giải Trí, Âm nhạc Dành Cho Giới Trẻ (bằng tiếng Việt). Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  157. ^ Thùy Dung (26 tháng 1 năm 2020). “Jisoo - Nàng Ma Kết bản lĩnh của BlackPink | ELLE”. Tạp chí Phái đẹp ELLE. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  158. ^ “인간 명품'으로 등극한 스타 3 | 엘르코리아”. Herald Pop (bằng tiếng Hàn). 29 tháng 9 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  159. ^ “블랙핑크 TV '블핑하우스', 11화 내일 마지막회 종영”. news.jtbc.joins.com (bằng tiếng Hàn). 16 tháng 3 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  160. ^ “BLACKPINK Star Road”. tvtime.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  161. ^ “BLACKPINK DIARIES”. www.mijnserie.nl (bằng tiếng Hà Lan). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  162. ^ “블랙핑크 지수, '인가' MC 신고식 "발전하겠다". E Daily (bằng tiếng Hàn). 5 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  163. ^ “YG 김지수, 걸그룹 데뷔 전 '프로듀사' 출연 '눈도장'. Naver News (bằng tiếng Hàn). 24 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  164. ^ a ă LR, Redacción (19 tháng 8 năm 2020). “Jisoo de BLACKPINK confirmada como protagonista del nuevo dorama Snowdrop”. larepublica.pe (bằng tiếng Tây Ban Nha). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  165. ^ Naver News (10 tháng 6 năm 2019). '아스달 연대기' 측 "블랙핑크 지수 출연, 역할 방송통해 확인 부탁"(공식입장)”. n.news.naver.com (bằng tiếng Hàn). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  166. ^ “[공식] 정해인X블랙핑크 지수, JTBC '설강화' 캐스팅 확정…내년 방송 예정”. Sports Chosun (bằng tiếng Hàn). 5 tháng 10 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  167. ^ a ă “8 songs BLACKPINK appeared on before debut”. SBS PopAsia (bằng tiếng Anh). 8 tháng 8 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)
  168. ^ a ă Network, The Korea Herald/Asia News (9 tháng 8 năm 2016). “Meet K-pop's newest girl band Black Pink”. inquirer.net (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2020. Đã bỏ qua tham số không rõ |dead-url= (gợi ý |url-status=) (trợ giúp)

Liên kết ngoàiSửa đổi