Kim Giản (chữ hán:金簡; chữ mãn:ᡳᠨᡤᡳᠶᠠᠨ,? -1794), ông là quan lại nhà Thanh dưới thời Càn Long.

Thân thếSửa đổi

Kim Giản xuất thân Chính Hoàng kỳ Bao y, là hậu duệ một gia tộc người Triều Tiên, nguyên gốc hiện ở Nghĩa Châu.

Sau sự kiện Đinh Mão chi dịch (丁卯戰爭) xảy ra năm 1617, tổ tiên ông đến cậy nhờ Hậu Kim, sinh sống ở vùng Đông Bắc. Nhà Thanh thiết lập Cao Ly Tá lĩnh (高丽佐领), là xếp dòng dõi của ông vào hệ này, cũng xem là trở thành chân chính Mãn Châu sĩ phu. Căn cứ 《Mãn Châu Bát Kỳ thị tộc thông phổ - 满洲八旗氏族通谱》 ghi lại, Cao Ly Tá lĩnh, là Tá lĩnh độc nhất ở Nội vụ Phủ, đều lệ thuộc Chính Hoàng kỳ Bao y đệ Tứ Tham lĩnh (正黄旗包衣第四参领), sở hữu 43 dòng họ khác nhau, trong đó Kim thị và Hàn thị là 2 họ hiển hách nhất. Hai gia tộc đều lấy quân công lập nghiệp, cũng hoạch phong thế chức, do vậy Mãn Châu quý tộc đối với họ rất ưu ái cùng coi trọng, trở thành sĩ tộc có ảnh hưởng trong xã hội.

Theo 《Bát Kỳ thông chí》 cuốn 4 kỳ phân chí ghi lại: năm đầu Thiên Thông (1627), tằng tổ phụ của ông là Tam Đạt Lễ (三达礼), khi đó tùy trưởng huynh Tân Đạt Lễ (辛达礼) quy phụ Hậu Kim, lấy làm quan phiên dịch. Đương Hoàng Thái Cực quy mô dụng binh Triều Tiên bán đảo, do vậy cho quy phục Chính Hoàng kỳ Bao y, nhậm Cao Ly Tá lĩnh, Tân Đạt Lễ nhậm Cao Ly đệ Nhị Tá lĩnh, kiêm Nội vụ Phủ Tam kỳ Hỏa doanh Tổng quản sự. Tổ phụ Thượng Minh (尚明) không rõ sự tích. Cha của ôngị là Thượng Tứ Viện Khanh Kim Tam Bảo (金三寶), từng là Tuần thị Trường lô diêm chính (巡视长芦盐政), sau thăng Võ Bị viện Khanh, kiêm nhậm Công trung Tá lĩnh (公中佐领), nhậm Đệ Tam Tá lĩnh kiêm Đệ Tứ Tá lĩnh. Anh trai trưởng Kim Đỉnh (金鼎) từng nhậm Lam Linh Thị vệ (蓝翎侍卫), thứ huynh Kim Huy (金辉) từng nhậm Mãn Tả Thị lang của bộ Binh, em gái ông là Thục Gia Hoàng quý phi (淑嘉皇貴妃) phi tần của Càn Long Đế.

Quan LộSửa đổi

Ông là tổng quản nội vụ phủ đại thần, Tương Hoàng kỳ Hán quân đô thống, Công bộ Thượng thư, Lại bộ Thượng thư đẳng chức, trọng thần của Càn Long đế.

Năm Càn Long thứ 37 (1772), ông thăng làm Nội Vụ phủ Tổng quản đại thần. Cùng năm, phụ trách quản lí Võ Anh điện, đảm nhậm Tứ khố toàn thư phó tổng tài, chuyên môn phụ trách biên soạn quan viên đích khảo hạch dữ đốc sát.

Năm Càn Long thứ 39 (1774), ông đảm nhậm Hộ bộ Thị lang, chưởng quản tiền pháp đường, kiêm Tương Hoàng kỳ Hán Quân phó đô thống, hoạch tứ khổng tước linh [2]

Năm Càn Long thứ 40 (1775), ông tấu thỉnh tài khứ kinh cục cổ chú nhuận nguyệt tứ mão, Càn Long đế phê chuẩn [2].

Năm Càn Long thứ 43 (1778), Càn Long đế lệnh ông chủ trì 《Tứ khố cối yếu》 đích biên soạn, thự lí Công bộ Thượng thư [7].

Năm Càn Long thứ 46 (1781), ông chính thức làm Tổng lí Công bộ.

Năm Càn Long thứ 48 (1783), ông được thăng làm Công bộ Thượng thư, Tương Hoàng kỳ Hán Quân đô thống [7].

Năm Càn Long thứ 49 (1784), ông thái dụng thanh lí ứ tái đích ban pháp sơ đạo kinh ki địa khu đích hà đạo, sơ thông liễu tĩnh nghi viên bích vân tự đích tuyền thuỷ hoà vĩnh định hà, hựu tướng lô câu kiều thượng tàn tổn thạch khối hoà tổn hoại đích lan can tu thiện [6].

Năm Càn Long thứ 50 (1785), ông tham gia thiên tẩu yến. Không lâu, tứ khố toàn thư cáo thành, ông được ghi công. Cùng năm, Càn Long đế lệnh Lưu Dung, Đức Bảo và bắt đầu tu tập thập tam lăng, gia trúc tư, lăng nguyệt thai, tịnh thác khoan hưởng điện, cung môn [6].

Năm Càn Long thứ 55 (1790), vua nhà Hậu Lê của An Nam là Lê Chiêu Thống sống lựu lạc ở Kinh thành, Càn Long đế biên nhập Hán Quân Tương Hoàng kỳ An Nam Tá lĩnh, thì nhậm Hán Quân Tương Hoàng kỳ Đô thống do Kim Giản phụ trách việc nhập kì.

Năm Càn Long thứ 56 (1791), Các thần tử theo Lê Chiêu Thống như hoàng ích hiểu, lê quang tệ đẳng tấu thỉnh hi vọng được trở về An Nam. Càn long đế lệnh ông và các tướng hộ tống người về nước [7].

Năm Càn Long thứ 57 (1792), ông được điều nhận chức Lại bộ Thượng thư.

Năm Càn Long ngũ 59 (1794), ông bệnh qua đời, thuỵ Cần Khác [7]. Càn Long đế ban bố chỉ dụ tiến hành tưởng nhớ đối với Kim Giản, lệnh cho Hoàng tôn Miên Cần tế bái [6].

Gia Khánh nguyên niên (1795), Kim thị được đài kỳ sáp nhập vào Mãn Châu Chính Hoàng kỳ [6].

Gia QuyếnSửa đổi

Kim Giản có con tên là Ôn Nố, nhậm chức Chính Hồng kỳ Mông Cổ phó Đô thống, Tương Hồng kỳ Hán Quân Đô thống, Tổng quản Nội Vụ phủ đại thần, Binh bộ Thị lang, Công bộ Thượng thư, Thự lí ộ bộ Thượng thư đẳng chức [7].

Chú thíchSửa đổi

《bát kì mãn châu thị tộc thông phả 》tác 「kim giám 」

《thanh sử cảo 》ngộ tác 「nội vụ phủ hán quân 」

hựu tác 「tân đạt lễ 」

dẫn chứngSửa đổi

thiết bảo 1992, đệ 1614hiệt

triệu nhĩ tốn 1998, đệ 10787hiệt

từ khải :《mãn châu bát kì trung đích cao lệ sĩ đại phu gia tộc 》, quốc gia thanh sử biên soạn uỷ viên hội (hữu lai nguyên liên tiếp, kiến tham khảo văn hiến )

ngạc nhĩ thái 1985, đệ 66hiệt

hoàng chú 2002, đệ 791hiệt

từ khải :《luận kim giản 》, quốc gia thanh sử biên soạn uỷ viên hội (hữu lai nguyên liên tiếp, kiến tham khảo văn hiến )

triệu nhĩ tốn 1998, đệ 10788hiệt

Tham khảoSửa đổi

Sử liệuSửa đổi

Ngạc nhĩ thái. 《bát kì thông chí sơ tập 》. Đông bắc sư phạm đại học xuất bản xã. 1985. Hoàng chú. 《bát kì mãn châu thị tộc thông phả 》. Liêu hải xuất bản xã. 2002. ISBN 9787806691892. Thiết bảo. 《hi triều nhã tụng tập 》. Liêu ninh đại học xuất bản xã. 1992. ISBN 9787561012369. Triệu nhĩ tốn. 《thanh sử cảo 》. Trung hoa thư cục. 1998. ISBN 9787101007503. Luận văn

Từ khải :《luận kim giản 》, quốc gia thanh sử biên soạn uỷ viên hội [thất hiệu liên kết ]

Từ khải :《mãn châu bát kì trung đích cao lệ sĩ đại phu gia tộc 》, quốc gia thanh sử biên soạn uỷ viên hội [thất hiệu liên kết ]