Mở trình đơn chính

Tỉnh ủy Bình Dương hay còn được gọi Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương, hay Đảng ủy tỉnh Bình Dương. Là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ tỉnh Bình Dương giữa hai kỳ đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh.

Tỉnh ủy Bình Dương

Flag of the Communist Party of Vietnam.svg
Đảng kỳ

Khóa thứ X
(năm 2015 - tới nay)
Ủy viên
Bí thư Trần Văn Nam[1]
Phó Bí thư (3) Nguyễn Hoàng Thao -T.trực
Trần Thanh Liêm
Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy (14) Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa X
Tỉnh ủy viên (52) Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X[2]
Cơ cấu tổ chức
Cơ quan chủ quản Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Bộ Chính trị
Ban Bí thư Trung ương
Chức năng Cơ quan lãnh đạo Đảng giữa 2 kỳ Đại hội tại tỉnh Bình Dương
Cấp hành chính Cấp Tỉnh
Văn bản Ủy quyền Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam
Bầu bởi Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương
Cơ quan Kiểm tra Kỷ luật Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Bình Dương
Phương thức liên hệ
Trụ sở
Địa chỉ Tầng 17 (tháp A, B), Tòa nhà Trung tâm hành chính tập trung tỉnh, đường Lê Lợi, phường Hòa Phú, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương;
Lịch sử
Tiền thân
Tên gọi
2/1936 Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một
1/1937 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một
3/1951 Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ Thủ Biên
1/1955 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một
9/1960 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Biên
6/1961 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một
6/1961 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Phước Thành
10/1967 Ban chấp hành Phân khu ủy Phân khu 5
5/1971 Ban chấp hành Phân khu ủy Thủ Biên
9/1972 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một
2/1976 Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Sông Bé
4/1977 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sông Bé
1/1997 Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Bình Dương
12/1997 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương

Đứng đầu Tỉnh ủyBí thư Tỉnh ủy và thường là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng. Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương hiện nay là Trần Văn Nam.

Lịch sửSửa đổi

Giai đoạn 1936-1945Sửa đổi

Tỉnh ủy Bình Dương có nhiều tên gọi khác nhau qua các thời kỳ lịch sử của Nam Bộ. Tháng 2/1936 thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ nhất đồng thời để đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ hiện tại Xứ ủy Nam Kỳ đã chỉ định Ban Chấp hành Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một gồm 5 ủy viên.

Tháng 4/1936 tại Pháp, Mặt trận Bình dân Pháp giành được thắng lợi. Chính phủ cánh tả thi hành một số quyền lợi cho giai cấp lao động trong nướcthuộc địa. Tháng 7/1936 Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị Trung ương lần thứ nhất ra nghị quyết mới để đáp ứng tình hình mới.

Thực hiện nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy lâm thời hoạt động công khai, nửa công khai, hợp pháp nửa hợp pháp tổ chức các cuộc bãi công, đấu tranh đòi quyền lợi lao động.

Tháng 1/1937, Trung ương Đảng chính thức công nhận Tỉnh ủy lâm thời, Tỉnh ủy có tên gọi chính thức là Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Dầu Một. Trong giai đoạn 1937-1939 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một lãnh đạo các phong trào công nhân, lao động tại địa phương.

Tháng 9/1939, Thế chiến II bùng nổ. Pháp chấn áp mọi cuộc biểu tình, bãi công, thực thi bắt bớ các đảng viên trong cả nước. Tháng 11/1940 thực hiện Nghị quyết của Xứ ủy Nam Kỳ, Tỉnh ủy lãnh đạo nhân dân tham gia Nam Kỳ khởi nghĩa. Sau một thời gian khởi nghĩa thất bại, Pháp khủng bố ác liệt, nhiều đảng viên phải lẩn tránh nhiều nơi. Tỉnh ủy bị xóa sổ.

Giữa năm 1942, nhiều đảng viên tập hợp quay trở lại, tháng 3/1943 Tỉnh ủy được tái lập. Tháng 5/1943 Bí thư các Tỉnh ủy Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Gia Định, Chợ Lớn, Tây Ninh họp lại thành lập Liên Tỉnh ủy miền Đông. Trong thời gian 1942-1945 Tỉnh ủy tiếp tục lãnh đạo địa phương khôi phục lại các cơ sở Đảng bị đàn áp trước đây và chuẩn bị Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng 8.

Ngày 24/8/1945 tỉnh ủy tổ chức tổng khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh. Ngày 25/8/1945, Tỉnh ủy giành chính quyền thành công cùng ngày với thành phố Sài Gòn và 15 tỉnh Nam Kỳ. Sau khi giành chính quyền, Ủy ban nhân dân tỉnh được thành lập gồm nhiều đảng viên ưu tú do tỉnh ủy giới thiệu. Giữa tháng 9, Ủy ban nhân dân tỉnh đổi tên thành Ủy ban Hành chánh kháng chiến tỉnh.

Cuối tháng 9/1945, Anh đưa quân tái chiếm khu vực Nam Kỳ. Tỉnh ủy cùng nhân dân Nam Kỳ tiến hành đánh địch tại nhiều nơi, Nam Bộ kháng chiến. Từ tháng 10/1945-12/1946 tỉnh ủy và quân Pháp, Anh giành giật từng khu vực trong tỉnh. Thực hiện chủ trương "giải tán" của Đảng ngày 11/11/1945, Tỉnh ủy cũng tiến hành tự "giải tán", thực chất phát triển phong trào cách mạng dưới tên Việt Minh.

Giai đoạn 1946-1954Sửa đổi

Từ 1946-1954 Tỉnh ủy lãnh đạo quân dân chống lại thực dân Pháp. Sau Đại hội Đảng lần thứ 2 năm 1951, Trung ương Đảng chủ trương tổ chức lại chiến trường Nam Bộ thật gọn và mạnh, đáp ứng kịp với tình hình mới. Trung ương Cục miền Nam thay cho Xứ ủy Nam Bộ. Giải thể 3 Quân khu 7, 89. Nam Bộ được chia thành 2 Phân liên khu: Phân liên khu miền ĐôngPhân liên khu Miền Tây. Phân liên khu miền Đông gồm đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn, và 5 tỉnh Gia Định Ninh, Thủ Biên, Bà Rịa - Chợ Lớn, Mỹ Tho, Long Châu Sa. Các tỉnh Nam Bộ còn lại gộp thành Phân liên khu miền Tây. Phân liên khu ủy và Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Phân liên khu trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo các đơn vị hành chánh trong Phân liên khu.

Theo chủ trương tháng 3/1951, Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tỉnh ủy Biên Hòa sáp nhập thành Tỉnh ủy Thủ Biên. Ban chấp hành mới gồm 21 ủy viên.

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký, Tỉnh ủy Thủ Biên chuẩn bị lực lượng thi hành Hiệp định. Theo các thảo thuận về tập kết 2 bên, Xứ ủy Nam Bộ quyết định phân chia lại địa bàn các tỉnh để phù hợp với tình hình mới. Cuối năm 1954 Tỉnh Thủ Biên tách lại 2 tỉnh Thủ Dầu Một và Biên Hòa. Tháng 1/1955 Hội nghị Ban Chấp hành tỉnh Thủ Dầu Một được tổ chức.

Giai đoạn 1954-1975Sửa đổi

Sau khi Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại làm Tổng thống. Chính quyền Ngô Đình Diệm lập cơ sở đàn áp từ Trung ương tới ấp xã. Ở Trung ương có Hội đồng chỉ đạo, ở cơ sở có các "Đoàn công dân vụ" (mỗi đoàn có 10 người) và lực lượng dân vệ, bảo an, cảnh sát, từng bước thực hiện quốc sách "tố cộng, diệt cộng". Giữa năm 1956, Ngô Đình Diệm thực hiện chiến dịch Trương Tấn Bửu nhằm đàn áp tiêu diệt lực lượng cách mạng khiến cho Tỉnh ủy tổn thất rất lớn.

Tháng 10/1956, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh 143-NV thay đổi địa giới hành chính các tỉnh, tách tỉnh Thủ Dầu Một thành tỉnh Bình DươngBình Long; lập tỉnh Phước Thành nằm ngay trong lòng Chiến khu Đ. Thực hiện chính sách di dân, Ngô Đình Diệm đưa hàng vạn người công giáo di dân vào vùng căn cứ kháng chiến cách mạng. Tuy bị chính quyền Diệm thực hiện chính sách mị dân, nhiều người công giáo vẫn ủng hộ cách mạng một cách tích cực.

Sau khi kết thúc chiến dịch Trương Tấn Bửu (2/1957), chính quyền Diệm thực hiện nhiều cuộc càn quét quy mô lớn như "Chiến dịch mặt trời mọc", "Chiến dịch Bình Tây", "Chiến dịch Sao Mai", "chiến dịch Thu Đông", "Đồng tâm diệt cộng"... cùng với Luật 10-59. Tỉnh ủy phải tạm rút vào chiến khu Đ để tiếp tục lãnh đạo cách mạng địa phương.

Tháng 11/1959 Xứ ủy Nam Bộ triệu tập Hội nghị mở rộng thực hiện Nghị quyết 15 của Trung ương về phát triển đấu tranh vũ trang và đồng loạt khởi nghĩa. Toàn Nam Bộ tình cực được vũ trang hóa. Đầu năm 1960, phong trào Đồng khởi tại Bến Tre nổ ra. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một thành lập Ban chỉ đạo đồng khởi của tỉnh và tiến hành đồng khởi tại tỉnh tháng 2/1960. Tuy thất bại nhưng đây là tiếng súng đầu tiên cho phong trào kháng chiến cho toàn Nam Bộ sau này.

Từ năm 1960-1963, chính trị Việt Nam Cộng hòa mất ổn định. Ngô Đình Diệm liên tiếp bị các cuộc đảo chính và ám sát hụt. Sau phong trào Đồng khởi, chính quyền Mỹ phải thừa nhận:

"Tình hình Nam Việt Nam hết sức nghiêm trọng, hoạt động quân sự của Việt cộng dưới các hình thức đột kích, tập kích, công đồn liên tiếp xảy ra, đấu tranh chính trị phát triển đến mức đáng lo ngại; và vấn đề Nam Việt Nam sau đồng khởi không còn đơn thuần là vấn đề chính trị và tình báo cảnh sát nữa mà đã trở thành vấn đề chứa nhiều nhân tố quân sự. Cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam thực chất là cuộc nổi dậy nên hướng chiến luợc của Mỹ phải là chống nổi dậy."

Để phù hợp với tình hình chiến đấu mới, Xứ ủy Nam Bộ sáp nhập 2 tỉnh Thủ Dầu Một, Biên Hòa thành tỉnh Thủ Biên. Tháng 9/1960 Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thủ Biên được chỉ định. Đầu năm 1961 Trung ương Cục miền Nam được thành lập thay thế cho Xứ ủy Nam Bộ. Trung ương Cục quyết định tách ra, tái lập lại 2 tỉnh Biên Hòa, Thủ Dầu Một và thành lập tỉnh Phước Thành để phù hợp với chiến lược "chiến tranh đặc biệt" của Mỹ. Tháng 6/1961 Tỉnh ủy Thủ Dầu Một và Tỉnh ủy Phước Thành được thành lập.

Từ năm 1961-1968, Tỉnh ủy nói riêng và Trung ương Cục miền Nam đã làm thất bại nhiều chiến lược của quân Mỹ. Tháng 10/1967 Bộ Chính trị phê chuẩn Nghị quyết của Trung ương Cục miền Nam và Quân ủy Miền về tiến hành tổng công kích-tổng khởi nghĩa, còn gọi "Nghị quyết Quang Trung". Trung ương Cục quyết định sắp xếp lại các lực lượng để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Tổ chức thành 5 phân khu hướng tiến công Sài Gòn-Gia Định và khu vực xung quanh. Căn cứ vào tình hình chiến trường, Trung ương Cục quyết định thành lập Ban Chấp hành các phân khu thay cho các Tỉnh ủy. Tỉnh ủy Thủ Dầu Một được sáp nhập vào Ban chấp hành Phân khu ủy Phân khu 5.

Sau chiến dịch Mậu Thân, chính giới Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa và quốc tế sủng sốt, "niềm tự hào và uy tín nước Mỹ bị sa sút". Mỹ mở lại nhiều chiến dịch càn quét vào khu vực do lực lượng cách mạng kiểm soát. Tháng 6/1969 Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam được thành lập. Để đáp ứng nhiệm vụ mới, tháng 5/1971 Trung ương Cục quyết định sáp nhập Phân khu 5 và tỉnh Biên Hòa thành Phân khu Thủ Biên, Trung ương Cục chỉ định Ban chấp hành Phân khu ủy Thủ Biên.

Trước sự phát triển của tình hình, cục diện chiến trường đã thay đổi, cuối năm 1972, Trung ương Cục quyết định tổ chức lại chiến trường miền Đông Nam Bộ, giải thể các Phân khu, thành lập lại các tỉnh. Tháng 9/1972 Phân khu Thủ Biên được giải thể, tỉnh Thủ Dầu Một được tái lập. Trung ương cục chỉ định Tỉnh ủy Thủ Dầu Một.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, tạo thời cơ lớn cho công cuộc thống nhất đất nước. Đầu năm 1973, quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam. Đầu năm 1975 Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam tiến hành tiến công thống nhất đất nước. Ngày 30/4/1975 tỉnh Bình Dương được giải phòng hoàn toàn, công cuộc thống nhất đất nước kết thúc.

1976-naySửa đổi

Sau khi giải phóng, Ủy ban quân quản tỉnh được thiết lập. Ủy ban quân quản thực hiện nhiệm vụ điều phối các lực lượng thực hiện vai trò quản lý xã hội, giải quyết các công việc cấp bách sau thời kỳ giải phóng.

Tháng 12/1975 Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về phát triển đất nước sau chiến tranh. Thực hiện Nghị quyết, Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đã ban hành các nghị quyết giải thể khu, hợp nhất một số tỉnh ở miền Nam. Tháng 2/1976 tỉnh Thủ Dầu Một và Bình Phước được sáp nhập thành tỉnh Sông Bé, đồng thời Trung ương Cục cũng chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Sông Bé.

Tháng 10/1976, Ban Bí thư ban hành chỉ thị 240-CT/TW về vấn đề hướng dẫn việc tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp. Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ nhất (vòng 1) diễn ra từ ngày 10-20/11/1976, nhiệm vụ chính là tham gia thảo luận ý kiến chính trị, bầu đại biểu tham dự Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.

Ngày 19/4/1977, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Sông Bé lần thứ nhất (vòng 2) được khai mạc. Đại hội đã chính thức bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sông Bé với nhiệm kỳ 1976-1979. Sau Đại hội, Tỉnh ủy tiến hành đại hội Đảng vòng 2 ở các Đảng bộ trực thuộc tỉnh ủy.

Tại kỳ họp thứ 10 (15/10-12/11/1996) Quốc hội khóa IX ra nghị quyết về việc chia tách tỉnh và điều chỉnh địa giới hành chính, trong đó có tỉnh Sông Bé. Sau đó, Bộ Chính trị ra Chỉ thị 03-CT/TW về việc chia tách tỉnh và đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị và Nghị quyết của Quốc hội, ngày 26/11/1996, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Sông Bé ra Nghị quyết về việc chia tách tỉnh Sông Bé, thành 2 tỉnh Bình Dương và Bình Phước.

Ngày 1/1/1997 tỉnh Bình Dương được tái lập. Trước đó ngày 12/12/1996 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 118-QĐNS/TW thành lập Đảng bộ Bình Dương và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh Bình Dương.

Thực hiện Chỉ thị 51-CT/TW của Ban Bí thư và Hướng dẫn 06-HD/TC-TW ngày 23/7/1997 của Ban Tổ chức Trung ương về việc chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng bộ các tỉnh, thành phố mới được chia tách. Tỉnh ủy lâm thời tổ chức Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Dương lần thứ VI từ 17-19/12/1997. Đại hội chính thức bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Bình Dương khóa VI gồm 47 ủy viên.

Tổ chứcSửa đổi

  • Ban Thường vụ
  • Cơ quan tham mưu, giúp việc
    • Văn phòng Tỉnh ủy
    • Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy
    • Ban Tổ chức Tỉnh ủy
    • Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
    • Ban Dân vận Tỉnh ủy
    • Ban Bảo vệ sức khỏe tỉnh
    • Báo Bình Dương
    • Trường Chính trị tỉnh
    • Ban Nội chính Tỉnh ủy
  • Cơ quan trực thuộc
    • Ban chấp hành Đảng bộ khối Doanh nghiệp tỉnh
    • Ban chấp hành Đảng bộ các cơ quan tỉnh
    • Ban chấp hành Đảng bộ Quân sự tỉnh
    • Ban chấp hành Đảng bộ Công an tỉnh
    • Thành ủy Thủ Dầu Một
    • Thị ủy Thuận An
    • Thị ủy Dĩ An
    • Thị ủy Tân Uyên
    • Thị ủy Bến Cát
    • Huyện ủy Dầu Tiếng
    • Huyện ủy Phú Giáo
    • Huyện ủy Bắc Tân Uyên
    • Huyện ủy Bàu Bàng

Bí thư Tỉnh ủySửa đổi

Giai đoạn 1936-1976Sửa đổi

STT Tên Nhiệm kỳ Chức vụ Ghi chú
1 Trương Văn Nhâm 2/1936-12/1936 Xứ ủy viên Xứ ủy Nam Kỳ
Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Thủ Dầu Một
nhận nhiệm vụ khác
2 Hồ Văn Cống 1/1937-2/1943 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một bị Pháp bắt
3 Văn Công Khai 3/1943-3/1946 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
Trưởng ban Ủy ban khởi nghĩa tỉnh (1945)
4 Nguyễn Văn Tiết 3/1946-4/1948 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
Chủ nhiệm Tỉnh bộ Việt Minh
5 Vũ Duy Hanh 4/1948-9/1949 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
6 Nguyễn Quang Việt 10/1949-5/1951 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
5/1951-1/1955 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên
7 Lê Đình Nhơn 1/1955-9/1956 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt
8 Võ Văn Đợi 10/1956-9/1960 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
9 Lê Quang Chữ 9/1960-6/1961 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Biên
10 Nguyễn Văn Trung 6/1961-5/1965 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
11 Trần Quốc Ân 5/1965-11/1965 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
10 Nguyễn Văn Trung 11/1965-10/1967 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
12 Hoàng Minh Đạo 10/1967-6/1969 Bí thư Phân khu ủy kiêm Chính ủy lực lượng vũ trang Phân khu 5
10 Nguyễn Văn Trung 6/1969-5/1971 Bí thư Phân khu ủy Phân khu 5
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thủ Dầu Một
5/1971-9/1972 Bí thư Phân khu ủy Phân khu Thủ Biên
9/1972-10/1974 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một
13 Nguyễn Văn Luông 10/1974-12/1975 Bí thư Tỉnh ủy Thủ Dầu Một

1976-1997Sửa đổi

STT Đại hội Đảng bộ Tên Nhiệm kỳ Chức vụ Phó Bí thư Ghi chú
1 - Đỗ Văn Nuống 1/1976-4/1977 Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Sông Bé Phạm Trinh Kiên
Phó Bí thư Thường trực
Nguyễn Văn Luông
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
I 4/1977-1/1980 Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé Lê Văn Thâm
Phó Bí thư Thường trực
Nguyễn Văn Luông
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
II 1/1980-5/1980 Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé Lê Văn Thâm
Phó Bí thư Thường trực
Nguyễn Văn Luông
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
2 Nguyễn Văn Luông 5/1980-4/1983 Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé Lê Văn Thâm
Phó Bí thư Thường trực
Nguyễn Như Phong
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
III 4/1983-11/1986 Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé Lê Văn Thâm
Phó Bí thư Thường trực
Nguyễn Như Phong
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
IV 11/1986-12/1991 Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé Lê Văn Thâm
Phó Bí thư Thường trực
Trần Ngọc Khanh
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
Nguyễn Minh Triết
Ủy viên Trung ương Đảng
Ban Bí thư Trung ương bổ sung tháng 10/1989
3 V Nguyễn Minh Triết 12/1991-4/1996 Ủy viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé
Cao Văn Chi
Phó Bí thư Thường trực
Hồ Minh Phương
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
(đến tháng 2/1994)
Nguyễn Minh Đức
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
bổ sung tháng 12/1994
VI 4/1996-12/1996 Ủy viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Sông Bé
Hồ Minh Phương
Phó Bí thư Thường trực
Nguyễn Minh Đức
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh

1997-naySửa đổi

STT Đại hội Đảng bộ Tên Nhiệm kỳ Chức vụ Phó Bí thư Ghi chú
1 - Nguyễn Minh Đức 12/1996-12/1997 Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Bình Dương Phan Văn Đương
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy lâm thời
Hồ Minh Phương
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
VI 12/1997-1/2001 Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương Phan Văn Đương
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy
Hồ Minh Phương
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
VII 1/2001-7/2004 Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương Mai Thế Trung
Ủy viên Trung ương Đảng
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy
Hồ Minh Phương
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
2 Mai Thế Trung 7/2004-12/2005 Ủy viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương
Vũ Minh Sang
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy
Nguyễn Hoàng Sơn
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
VIII 12/2005-9/2010 Ủy viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương
Vũ Minh Sang
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy
Nguyễn Hoàng Sơn
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
IX 9/2010-10/2015 Ủy viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương
Vũ Minh Sang
Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy
Nghỉ hưu tháng 11/2013
Lê Thanh Cung
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
(đến 12/2014)
Nghỉ hưu 2015
Phạm Văn Cành
Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh
Bổ sung tháng 11/2013
Nguyễn Hữu Từ Bổ sung tháng 3/2014
Trần Văn Nam
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh
(từ 1/2015)
Bổ sung tháng 12/2014
3 X Trần Văn Nam 10/2015-nay Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương Phạm Văn Cành
Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh
Nghỉ hưu tháng 12/2018
Nguyễn Hữu Từ Qua đời tháng 11/2018
Trần Thanh Liêm
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh

Xem thêmSửa đổi

Tỉnh ủy Thủ Dầu Một Đảng Dân chủ Việt NamSửa đổi

Tỉnh ủy Thủ Dầu Một Đảng Dân chủ Việt Nam phối hợp với Tỉnh ủy Thủ Dầu Một Đảng Lao động Việt Nam tiến hành chống thực dân Pháp từ 1946-1954. Sau Hiệp định Giơnevo, Đảng Dân chủ Việt Nam hoạt động chủ yếu tại miền Bắc. Bí thư Tỉnh ủy:

Chú thíchSửa đổi

Tham khảoSửa đổi