Bộ bài Tây

loại thẻ dùng để chơi nhiều trò chơi bài
Pack of playing cards whitebg.jpg

Bộ bài Tây (tiếng Anh: Playing Card, ở miền Bắc Việt Nam còn gọi là tú lơ khơ hoặc bộ ) - bao gồm có 54 lá bài (có bộ bài chỉ có 52 lá), trong đó có 52 lá thường: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, J (Jack), Q (Queen), K (King), A (Ace) kết hợp với 4 chất: cơ, rô, nhép/chuồn/tép, bích và hai lá Joker - phăng teo.

Việt Nam, thường gọi bộ bài này là bộ bài Tây vì xuất xứ từ Tây phương và để phân biệt với bộ bài Trung Quốc hay bộ bài ta (để chơi Tam cúc, tứ sắc, tổ tôm,...).

Lịch sửSửa đổi

Thời sơ khaiSửa đổi

 
Lá bài của Trung Quốc thời xưa, khoảng năm 1400.

Bộ bài xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc [1][2][3][4] vào khoảng thế kỷ thứ IX thời kỳ nhà Đường.[5][6][7] Trò chơi này được làm bằng giấy.

Bài lá được nói đến lần đầu trong lịch sử vào thế kỷ trong cuốn Collection of Miscellanea at Duyang của tác giả Su E, mô tả công chúa Tongchang, con gái Đường Ý Tông, chơi "bài lá" năm 868 với các thành viên gia đình nhà chồng.[4][8][9]:131 Thời nhà Tống, học giả Âu Dương Tu cho rằng bài lá đã có từ thời Trung Đường[2][3][4]

Tiếng Trung Quốc từ bài (牌) được dùng để mô tả cả hai loại giấy và các quân tú lơ khơ để chơi. Có lẽ các kiểu của bộ bài hiện đại ở Châu Âu đến từ các quốc gia của Ai Cập vào cuối năm 1300, trong đó thời gian của họ đã giả định một hình thức giống như vậy được sử dụng ngày nay. Mỗi bộ bài có 54 lá.

Các kiểu chơi phổ biếnSửa đổi

Phần lớn trong các cách chơi dưới đây chỉ sử dụng 52 lá bài, không dùng tới 2 quân phăng teo:

Ứng dụngSửa đổi

Chơi bài giải tríSửa đổi

 
Mặt sau của bộ bài

Tiến lênSửa đổi

Bộ bài có 52 lá.

Bài tiến lên bạn chia mỗi người 13 lá. Vậy 4 người là đủ một sòng. Loại bài này 3 bích là nhỏ nhất, 2 cơ là lớn nhất. Cơ, rô, chuồn, bích theo thứ tự nhỏ dần, ví dụ 5 cơ lớn hơn 5 rô, 5 chuồn lớn hơn 5 bích, 5 cơ lớn hơn 5 chuồn,... hai lá giống nhau gọi là đôi, các lá kế tiếp nhau gọi là sảnh (hay bộ dọc), 345 là sảnh nhỏ nhất và vì có 3 lá nên gọi là sảnh 3 cây, cứ như vây có 4, 5, 6... 12 sảnh. Sảnh lớn đè sảnh nhỏ, đôi lớn đè đôi nhỏ theo nguyên tắc cơ rô chuồn bích. Bốn quân cùng số gọi là tứ quý chặt được hai (trong cách chơi miền Nam, ba đôi liền nhau gọi là ba đôi thông chặt được một heo, bốn quân bài cùng số là tứ quý chặt được hai heo và ba đôi thông, bốn đôi thông thì lớn hơn tứ quý và ba đôi thông...) Cứ thế đánh ai hết bài trước là thắng. Bài này dễ đánh, bạn càng đánh càng có kinh nghiệm và chơi hay hơn.

Bài càoSửa đổi

Bài cào hay gọi là bài 3 lá chơi bằng cách đếm nút, ví dụ 123 cộng lại 6 nút. Ai cao nút hơn thì thắng. 10, 20 nút gọi là bù, thấp nhất. Ba con JQK đi liền nhau thì gọi là ba tây hay ba tiên... Nó lớn hơn 9 nút.

TấnSửa đổi

Mỗi người có 8 quân bài. Sau khi chia xong bài thì con bốc lên là chất nào thì chất đó là chất chủ, được đặt ngửa ở giữa, chồng quân bài còn lại xếp úp đè lên nhưng được đặt chệch đi để mọi người nhìn rõ chất chủ của từng ván bài.

Từng người một tấn người bên cạnh theo vòng tròn. Người tấn ra bất kỳ lá nào, người bị tấn phải đỡ lá bài đó bằng một lá khác cùng chất và số lớn hơn, không có thì đỡ trưởng. Những người còn lại tấn người bị tấn bằng con bài có số bằng một trong các con bài trước. Nếu tấn mà thiếu bài thì bốc thêm số quân bài còn thiếu ở phần bài úp lên để đánh tiếp và làm cho đến khi hết bài.

Một lượt tấn kết thúc khi người tấn và 2 người còn lại không còn con tương tự (số bằng nhau) hoặc có nhưng không muốn đưa ra (con chủ, lá bài có số to...) hoặc người bị tấn không thể đỡ được nữa. Trong trường hợp không thể đỡ được nữa thì người bị tấn phải lên tất cả các con bài mà những người kia tấn cho mình. Nếu người bị tấn không phải lên thì có quyền tấn người kế tiếp theo vòng. Sau mỗi một lượt tấn, mỗi người phải bốc cho đủ 8 quân bài trên tay theo thứ tự ưu tiên: người tấn, người bị tấn, người kế người bị tấn và người còn lại. Ngược lại, quyền tấn kế tiếp dành cho người kế cạnh. Ai hết bài trước là thắng.

Bài tấn còn có thể chơi theo bè: cứ 2 người ngồi đối diện là 1 bè, 4 người chơi có 2 bè. Chơi bè sẽ giảm tải cho người bị tấn, chỉ bị 2 người tấn công thay vì 3 như khi chơi lẻ. Thứ tự về 1-2-3-4 của 4 người sẽ xác định bên thắng: Nếu một bên có một người về nhất, người kia về bét, còn bè kia một người về nhì, một người về ba thì ván đó hòa.

Tá lả/PhỏmSửa đổi

Tá lả/Phỏm chia một người 10 quân, những người còn lại 9 quân. Nhà có 10 quân đánh đầu tiên 1 cây bất kỳ. Nhà sau có thể ăn được cây đó ghép vào những cây mình đang có (2 cây) để tạo được "phỏm" thì là hợp lệ. Phỏm là 3 quân giống nhau hoặc 3 quân đồng chất (Ví dụ: 3 cây át, 3 cây 2 hoặc 2-3-4 rô, 5-6-7 cơ). Nếu không ăn được thì "bốc nọc", và quân bốc nếu có thể ghép được thành phỏm thì đánh cây lẻ đi. Mục đích chờ ăn, bốc nọc tạo được càng nhiều phỏm càng tốt và không cho nhà dưới ăn cây của mình tránh bị mất cược ăn cây và bị đền

1. Phân biệt thắng thua, mức cược

- Sau khi hạ phỏm, nhà nào còn ít điểm nhất là thắng

- Khi có nhà ù. Ù là khi nhà đó có 3 phỏm trên tay là thắng làng luôn.

- Ù tròn: Là khi nhà đó có 3 phỏm, trong đó có 1 phỏm 4 cây hoặc hạ được 3 phỏm và gửi đi cây lẻ còn lại vào phỏm nhà khác. Trường hợp gửi chỉ dành cho người hạ sau, gửi phỏm thì gửi vào bất kỳ nhà nào hạ trước có phỏm mà mình có cây gửi vào để ghép thêm phỏm

- Móm: Là khi nhà đó không có phỏm nào trên tay. Với trường hợp nhiều nhà móm thì ai móm đầu tiên, hạ đầu tiên là thắng và ăn theo cược móm chứ không phải cược nhất, nhì, ba

2. Các trường hợp bị phạt (mức phạt tùy quy định từng nơi chơi)

- Ăn láo: Ăn cây mà không ghép được phỏm

- Ù đền: Là khi nhà trên đánh cho nhà dưới ăn 3 cây liền thì bị đền thay cho 2 nhà còn lại. Hoặc khi nhà trên hạ, hết vòng đánh. Nhà dưới ăn cây lẻ nhà trên đánh (cây chốt) làm cho họ được thêm lượt đánh, sau đó họ ù thì nhà ăn cây chốt sẽ bị đền làng.

Klondike/SolitaireSửa đổi

Klondike/Solitaire là trò chơi dành cho một người, Loại bài này A là nhỏ nhất, K là lớn nhất. Cơ, rô, chuồn, bích không theo thứ tự.

Mục tiêu là đưa hết các quân bài lên bốn ngăn trên.

BóiSửa đổi

Ngoài chơi bài giải trí, người ta còn dùng tú lơ khơ để bói, gọi là bói bài Tây. Trong đó, từng chất và từng quân bài có ý nghĩa khác nhau:

  • Rô tương ứng "đời"
  • Cơ tương ứng "tình"
  • Bích tương ứng "tai nạn"
  • Nhép tương ứng với "tiền"

Có nhiều cách xem bói bài tây khác nhau.

LiêngSửa đổi

Liêng là một trong những kiểu chơi bài lá hiện nay rất phổ biến Việt Nam. Chơi bài Liêng dùng bộ bài tây 52 lá để chơi

Lưu ý: bộ J,Q,K với sự sắp xếp bất kỳ được tính là đĩ

Thứ tự các xấp bài theo độ lớn từ thấp đến cao là đĩ,liêng,sáp.

Hình ảnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Wilkinson, W.H. (1895). “Chinese Origin of Playing Cards”. American Anthropologist VIII (1): 61–78. doi:10.1525/aa.1895.8.1.02a00070. 
  2. ^ a ă Needham 2004, tr. 132
  3. ^ a ă Temple, Robert K.G. (2007). The Genius of China: 3,000 Years of Science, Discovery, and Invention (3rd edition). London: André Deutsch, pp. 130-1. ISBN 978-0-233-00202-6.
  4. ^ a ă â Lo (2000), p. 390.
  5. ^ Needham 2004, tr. 131–132
  6. ^ Needham 2004, tr. 328 "it is also now rather well-established that dominoes and playing-cards were originally Chinese developments from dice."
  7. ^ Needham 2004, tr. 334 "Numbered dice, anciently widespread, were on a related line of development which gave rise to dominoes and playing-cards (+9th-century China)."
  8. ^ Zhou, Songfang. "On the Story of Late Tang Poet Li He", Journal of the Graduates Sun Yat-sen University, 1997, Vol. 18, No. 3:31-35
  9. ^ Needham, Joseph and Tsien Tsuen-Hsuin. (1985). Science and Civilization in China: Volume 5, Chemistry and Chemical Technology, Part 1, Paper and Printing. Cambridge University Press., reprinted Taipei: Caves Books, Ltd.(1986)

Liên kết ngoàiSửa đổi