Đại học Columbia

Viện Đại học tinh hoa Ivy League nằm tại quận Manhattan, thành phố New York
(đổi hướng từ Columbia University)

Viện Đại học Columbia (tiếng Anh: Columbia University in the City of New York), còn gọi là Đại học Columbia, là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở quận Manhattan, thành phố New York, Hoa Kỳ.[2] Một thành viên của Ivy League, Columbia là cơ sở giáo dục đại học lâu đời nhất tại tiểu bang New York, lâu đời thứ năm tại Hoa Kỳ, và là một trong chín đại học thuộc địa được thành lập trước Cách mạng Hoa Kỳ. Trường được thành lập vào năm 1754 với tên King's College dưới hiến chương hoàng gia của vua George đệ Nhị của Vương quốc Anh, và là một trong ba trường đại học duy nhất tại Hoa Kỳ được thành lập dưới đặc quyền này.

Viện Đại học Columbia
Huy hiệu Đại học Columbia
Tên bản địaColumbia University in the City of New York
Khẩu hiệuIn lumine Tuo videbimus lumen (tiếng Latinh) (Thánh Vịnh 36:9)
Trong ánh sáng của Ngài chúng con sẽ thấy ánh sáng
Thông tin chung
Loại hìnhĐại học tư thục
Thành lập1754
Tài trợ$6,5 tỉ[1]
Tổ chức và quản lý
Hiệu trưởngLee Bollinger
Nhân viên3.224
Sinh viên đại học5.530
Sinh viên sau đại học14.692
Thông tin khác
Khuôn viên(tổng cộng) 1,23 km²
Vị tríNew York, New York, Hoa Kỳ
Biệt danhSư tử Columbia
Thể thao29 đội thể thao
Websitewww.columbia.edu

Columbia là trường đại học tốt thứ 3 nước Mỹ và thứ 6 thế giới, theo US News & World Report.[3][4] Trường cũng là một trong những thành viên sáng lập của Hiệp hội Viện Đại học Mỹ. Columbia có số lượng sinh viên và giảng viên đạt giải Nobel nhiều hơn bất kỳ học viện nào khác trên thế giới. Columbia hàng năm điều hành giải thưởng văn học Mỹ Pulitzer. Quỹ tài trợ và tài chính dành cho nghiên cứu hàng năm của Columbia thuộc vào loại lớn nhất trong các viện đại học tại Hoa Kỳ. Viện Đại học Columbia hiện tại có bốn trung tâm toàn cầu tại Amman (Jordan), Bắc Kinh (Trung Quốc), Paris (Pháp) và Mumbai (Ấn Độ).

Cựu học sinh và các thành viên nổi bật có liên kết với Columbia bao gồm: năm nhà Khai Quốc Hoa Kỳ (Founding Fathers of the United States); bốn Tổng thống Hoa Kỳ; chín Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ; 15 Nguyên thủ Quốc gia (ngoài Mỹ); 97 chủ nhân giải Nobel, nhiều hơn bất cứ viện đại học nào khác; 101 chủ nhân giải Pulitzer, nhiều hơn bất cứ viện đại học nào khác; 25 chủ nhân giải Oscar, với tổng số giải Oscar giành được là 30 giải, nhiều hơn bất cứ viện đại học nào khác; và hàng loạt chủ nhân của các giải thưởng danh giá trong nhiều lĩnh vực. Columbia hiện là nơi công tác và giảng dạy của chín chủ nhân giải Nobel, 30 chủ nhân giải MacArthur Genius, bốn chủ nhân của Huy chương Khoa học Quốc gia Mỹ, 143 thành viên của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ, 38 thành viên của Viện Y tế thuộc nhóm các Viện Hàn lâm Quốc gia Mỹ, 20 thành viên của Viện Hàn lâm Kỹ thuật Hoa Kỳ, và 43 thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ.

Thư viện Tưởng niệm Low

Lịch sửSửa đổi

Columbia là học viện cấp cao lâu đời nhất tại tiểu bang New York. Được thành lập và ban đặc quyền dưới tên King's College vào năm 1754, Columbia là trường lâu đời thứ sáu tại Hoa Kỳ căn cứ theo năm thành lập, và thứ năm căn cứ theo năm được trao hiến chương. Viện Đại học hiện tại hoạt động dưới hiến chương trao năm 1787, nghĩa là dưới sự quản lý của một hội đồng tín nhiệm tư. Trong vòng hơn 250 năm, trải qua nhiều biến cố và phải thay đổi địa điểm giảng dạy, Columbia đã phát triển từ một đại học nhỏ, trở thành một viện đại học bao gồm 20 đại học và học viện liên kết khác nhau.

King’s CollegeSửa đổi

 
Hiệu trưởng đầu tiên của King's College, Samuel Johnson

Thảo luận xung quanh việc thành lập một đại học cấp cao tại tỉnh New York (bấy giờ còn là thuộc địa của Anh) bắt đầu từ năm 1704. Tuy nhiên, những dự kiến đưa ra chỉ nhận được sự cân nhắc nghiêm túc sau khi một số cựu học sinh Đại học Yale sinh sống tại thành phố New York tỏ ra lo ngại trước việc Đại học New Jersey (nay là Viện Đại học Princeton) được thành lập vào năm 1746. Lo ngại này xuất phát từ khác biệt về tôn giáo giữa New York trực thuộc Giáo hội Anh và New Jersey vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Giáo hội Trưởng Lão; bên cạnh đó, cư dân địa phương sợ rằng New York sẽ trở nên kém cạnh về văn hóa và tri thức so với bờ bên kia sông Hudson. Do vậy, họ thành lập học viện riêng của New York như là một trường cạnh tranh với Đại học New Jersey. Các lớp học bắt đầu vào ngày 17 tháng 7 năm 1754 tại sân của nhà thờ Trinity với Samuel Johnson là hiệu trưởng và cũng là người giảng dạy duy nhất. Ngày 31 tháng 10 năm 1754, trường chính thức nhận hiến chương thành lập từ vua George đệ Nhị với tên King’s College (nghĩa đen: Đại học của Nhà Vua). Năm 1760, King’s College chuyển về Park Place, khu vực gần Tòa thị chính thành phố hiện nay. Từ đó, trường phát triển nhanh chóng, trở thành trường Y đầu tiên tại thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ vào năm 1767.

Tuy vậy, ngay từ ban đầu đã có nhiều tranh cãi về việc thành lập một học viện cấp cao tại thuộc địa mà trực thuộc Giáo hội Anh, chưa kể bộ máy quản lý chịu nhiều ảnh hưởng của Hoàng gia Anh. Sự vượt trội về tài chính của King’s College so với các đại học thuộc địa khác càng tạo cơ sở cho mối e ngại này.

 
Alexander Hamilton, một trong những cựu học sinh nổi tiếng nhất của King's College

Cách mạng Hoa Kỳ và cuộc chiến kéo theo ngay sau đó giữa các thuộc địa và quân đội Anh khiến cho King’s College suy sụp trong một thời gian dài, từ 1776 khi Lục quân Lục địa tấn công New York đến 1783 khi binh lính Anh rút lui. Trong tám năm này, trường đã phải ngừng hoạt động, trong khi thư viện chính bị cải tạo thành bệnh viện phục vụ chiến tranh.

Dù bị coi là một hiện thân của Hoàng gia Anh, song King’s College lại là nơi sản sinh ra không ít nhân vật đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng giành độc lập của các thuộc địa. Tiêu biểu trong số những học sinh đầu tiên của trường bao gồm: John Jay, người đàm phán Hiệp định Paris (1783) kết thúc chiến tranh với Anh và cũng là người sau này trở thành Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đầu tiên; Alexander Hamilton, quân sư của George Washington, tác giả của phần lớn các bài luận Người Liên Bang (ủng hộ một Chính phủ liên bang mạnh), Bộ trưởng Ngân Khố Hoa Kỳ đầu tiên; Gouverneur Morris, tác giả của bản Hiến pháp Hoa Kỳ hoàn thiện; Robert R. Livingston, một trong năm người soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ; và Egbert Benson, đại biểu Quốc hội Lục địa và một trong những người ký thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ.

Đại học Columbia: thời kỳ đầu (1784–1857)Sửa đổi

Nhân vật nổi tiếngSửa đổi

Columbia có nhiều cựu sinh viên đáng chú ý, trong đó có 5 nhà Khai Quốc Hoa Kỳ và tác giả của Hiến pháp Hoa Kỳ, 4 tổng thống Hoa Kỳ, 125 người đoạt giải Pulitzer, 39 người đoạt giải Oscar,[5] 101 thành viên Học viện Quốc gia Hoa Kỳ.[6] Trường cũng đã đào tạo 26 nguyên thủ quốc gia.

Columbia xếp thứ hai trên thế giới, sau Harvard, về số lượng cựu sinh viên là tỷ phú.[7][8] Các cựu sinh viên của Columbia đã nắm các vị trí hàng đầu ở Phố Wall và giới doanh nghiệp toàn cầu với những nhân vật đáng chú ý như nhà đầu tư Warren Buffett,[9] Gia đình Astor,[10][11] CEO PBSNBC Larry Grossman, [12] Chủ tịch Walmart S. Robson Walton,[13] Giám đốc Bain Capital Jonathan Lavine.[14][15] Lãnh đạo của công ty hàng đầu trong danh sách Fortune 500 từng theo học tại Columbia bao gồm James P. Gorman của Morgan Stanley,[16] Robert J. Stevens của Lockheed Martin,[17] Philippe Dauman của Viacom,[18] Ursula Burns của Xerox,[19]Vikram Pandit của Citigroup.[20]

Về khoa học và công nghệ, các cựu sinh viên Columbia bao gồm người sáng lập IBM Herman Hollerith,[21] người phát minh đài FM Edwin Armstrong,[22] nhà phát triển tàu ngầm hạt nhân Hyman Rickover Francis Mechner,[23] người sáng lập Google Kai-Fu Lee,[24] nhà khoa học Stephen Jay Gould,[25] Robert Millikan,[26] người phát minh laser Heli-neon Ali JavanMihajlo Pupin,[27] kỹ sư trưởng của tàu điện ngầm Thành phố New York William Barclay Parsons,[28] nhà triết học Irwin Edman [29]Robert Nozick,[30] nhà kinh tế học Milton Friedman,[31] nhà tâm lý học Harriet Babcock,[32] và nhà xã hội học Lewis A. CoserRose Laub Coser.[33][34]

Trong số những người Việt nổi tiếng có Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng học thạc sĩ tôn giáo tại Chủng viện Thần học Union (thuộc Đại học Columbia) và sau đó giảng dạy tại đây trong thập niên 1960.[35]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Columbia's Endowment Posts 17% Return” (html). New York Times. 16/9 2010. Truy cập 13/11. Đã bỏ qua tham số không rõ |accessyear= (gợi ý |access-date=) (trợ giúp); Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |ngày truy cập=|year= (trợ giúp)
  2. ^ “History of the University”. Columbia University in the City of New York.
  3. ^ “2021 Best National University Rankings”. US News & World Report. 2020.
  4. ^ “2021 Best Global Universities Rankings”. US News & World Report. 2021.
  5. ^ “Columbia Arts Alumni”. Columbia University. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011.
  6. ^ “Members By Parent Institution”. National Academy of Engineering. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2006.
  7. ^ “The Universities Churning Out The Most Billionaires”. Forbes. 29 tháng 11 năm 2016.
  8. ^ Marie Thibault. “In Pictures: Billionaire University”. Forbes. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  9. ^ “World's Billionaires: Warren Buffett”. Forbes Magazine. 1 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  10. ^ “Letters To The Editor; The Interesting Career Of John Jacob Astor Ii. A Man Of Broad And Generous Sympathies Who Appreciated The Responsibilities Of Wealth”. The New York Times. 24 tháng 8 năm 1890. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011.
  11. ^ Reynolds, Cuyler (1914). Genealogical and family history of southern New York and the Hudson River Valley. Lewis Historical Pub. Co. tr. 1263. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011. William Waldorf Astor columbia law school.
  12. ^ Murray, Michael (1999). Encyclopedia of Television News. Greenwood Publishing. ISBN 978-1-57356-108-2.
  13. ^ Serwer, Andy (15 tháng 11 năm 2004). “The Waltons: Inside America's Richest Family”. Fortune.com. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011.
  14. ^ “Bain to Manage Harvard Endowment's $3.4 Billion of Real Estate”. Bloomberg.com (bằng tiếng Anh). 15 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  15. ^ “Columbia College awards highest honor to Jonathan S. Lavine, CC '88 – Columbia Daily Spectator”. Columbiaspectator.com. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2018.
  16. ^ The Age (2009).
  17. ^ “Robert J. Stevens”. Lockheed Martin. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  18. ^ “Business Profile: Philippe P. Dauman”. Bloomberg Business. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  19. ^ “Xerox's next CEO: Ursula Burns”. Fortune Magazine. 22 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  20. ^ “Office of the Secretary of The University”. Columbia University. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011.
  21. ^ “Herman Hollerith”. IBM. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2011.
  22. ^ Tsividis, Yannis (Spring 2002). “Edwin Armstrong: Pioneer of the Airwaves”. Columbia Alumni Magazine. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2011.
  23. ^ Allen, Thomas (2007). Rickover: Father of the Nuclear Navy. Brassey's. tr. 12. ISBN 978-1-57488-704-4.
  24. ^ Richmond Ezer Escolar (11 tháng 6 năm 2008). “Google Conquers China: An Interview with Kai-Fu Lee”. Columbia Business School Chazen Web Journal. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2012.
  25. ^ Green, Michelle (1986).
  26. ^ David Goodstein. “In the Case of Robert Andrews Millikan” (PDF). American Scientist: 54–60.
  27. ^ “Michael Pupin”. Columbia University: Department of Physics. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  28. ^ “William Barclay Parsons”. Columbia University. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  29. ^ “Irwin Edman”. Columbia University. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  30. ^ Ryan, Alan (30 tháng 1 năm 2001). “Obituary: Professor Robert Nozick”. The Independent. London. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  31. ^ “Columbia University 250: Milton Friedman”. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2011.
  32. ^ Ogilvie, Marilyn; Harvey, Joy biên tập (2000). The biographical dictionary of women in science : pioneering lives from ancient times to the mid-20th century. New York, NY [u.a.]: Routledge. tr. 65. ISBN 978-0-415-92039-1.
  33. ^ Saxon, Wolfgang. “Rose L. Coser, 78; Taught Sociology At Stony Brook”. The New York Times.
  34. ^ Vromen, Suzanne. “Rose Laub Coser”. Jwa.org.
  35. ^ “Thich Nhat Hanh '63—Zen Buddhist Monk, Teacher, Author and Peace Activist—Will Receive Union Medal on September 6th”. Union Theological Seminary. 22 tháng 8 năm 2017.
  36. ^ “Thich Nhat Hanh '63—Zen Buddhist Monk, Teacher, Author and Peace Activist—Will Receive Union Medal on September 6th”. Union Theological Seminary. 22 tháng 8 năm 2017.

Liên kết ngoàiSửa đổi