Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc (tiếng Anh: United Nations Human Rights Council) là một tổ chức trực thuộc Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, có sứ mệnh thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trên thế giới. Hội đồng gồm 47 quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, các thành viên được Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bầu vào với tư cách đại diện nhóm quốc gia theo phân vùng địa lý tại Liên Hợp Quốc. Mỗi nhiệm kỳ của thành viên kéo dài ba năm.

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc
Tập tin:United Nations Human Rights Council Logo.svg
United Nations Human Rights Council
Tên viết tắtUN HRC
Thành lập2006
LoạiTổ chức liên chính phủ
của Liên Hợp Quốc
Trụ sở chínhLHQ
Vị trí
Vùng phục vụ
Toàn cầu
Ngôn ngữ chính
Đa ngữ theo LHQ
Chủ tịch
Elisabeth Tichy-Fisslberger
 Áo
Chủ quản
Liên Hợp Quốc
Trang webUN HRC Official website
Phòng Nhân quyền và Liên minh các nền văn hóa, được sử dụng bởi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, trong Palais des Nations, Geneva, Thụy Sĩ.
Huy hiệu Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc năm 2006

Tổ chức này được ra đời ngày 15 tháng 3 năm 2006 theo Nghị quyết (A/RES/60/251) sau khi Đại hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua nghị quyết thành lập một tổ chức nhân quyền mới, thay thế Ủy ban Liên Hợp Quốc về Nhân quyền đã chấm dứt hoạt động năm 2006.

Nghị quyết này được sự ủng hộ của hầu hết các thành viên Liên Hợp Quốc, trừ Mỹ, Israel, Palauquần đảo Marshall bỏ phiếu chống và Belarus, IranVenezuela bỏ phiếu trắng.

Việc thành lập Hội đồng Nhân quyền là một trong những hành động nhằm cải tổ Liên Hợp Quốc và các tổ chức thuộc Liên Hợp Quốc; khi Ủy ban Nhân quyền (CHR) bị nhiều nhỉ trích rằng đã để những quốc gia có nhiều hành động phi nhân quyền làm thành viên và thao túng.[1][2]

Ngày 19 tháng 6, Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã họp phiên đầu tiên tại Genève (Thụy Sĩ) với sự tham gia của 47 thành viên đầu tiên và trên 100 quốc gia quan sát viên và các tổ chức quốc tế. Tại đây, ông Luis Alfonso de Alba (người México) đã được bầu là Chủ tịch Hội đồng Nhân quyền.

Cấu trúc của Hội đồng Nhân quyềnSửa đổi

Hội đồng Nhân quyền là một cơ quan liên chính phủ (thành viên là đại diện các quốc gia). Các quyết định của Hội đồng được đưa ra theo các cơ chế là nghị quyết của các kỳ họp thành viên.

Hội đồng Nhân quyền có ba kỳ họp thường xuyên vào tháng 3 (kéo dài bốn tuần), tháng 6 (ba tuần) và tháng 9 (ba tuần) hàng năm. Ngoài ra, Hội đồng có thể họp bất thường, gọi là kỳ họp đặc biệt, để giải quyết các vấn đề khẩn cấp và vi phạm nhân quyền, khi có một phần ba thành viên yêu cầu.Tính đến tháng 5/2020, đã có 28 kỳ họp đặc biệt được tổ chức.[3]

Hội đồng có các cơ quan và cơ chế trực thuộc, mang tính liên chính phủ (đại diện của các quốc gia) hoặc là cơ chế chuyên gia (do các chuyên gia độc lập thực hiện): Nhóm thứ nhất là các cơ quan trực thuộc Hội đồng, bao gồm: Nhóm công tác về Rà soát Định kỳ Phổ quát (cơ chế liên chính phủ); Ủy ban tư vấn (gồm 18 chuyên gia độc lập); Thủ tục khiếu nại; Nhóm thứ hai là các cơ chế chuyên gia để đối thoại và tư vấn về các chủ đề; Nhóm thứ ba là Các thủ tục đặc biệt; và Nhóm thứ tư là các cơ chế liên chính phủ mở chuyên về việc thảo luận và xây dựng các văn kiện và công ước nhân quyền.

Các Thành viênSửa đổi

Hội đồng Nhân quyền có 47 thành viên là các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, được bầu tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Các thành viên được bầu sẽ giữ nhiệm kỳ 03 năm, và các nhiệm kỳ này gối nhau. Vì vậy việc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc diễn ra hàng năm với khoảng một phần ba số ghế của Hội đồng được bầu (lần lượt 14, 15 hoặc 18 ghế được bầu cử hàng năm). Một thành viên Hội đồng được phép giữ hai nhiệm kỳ liên tiếp.

Thành viên của Hội đồng Nhân quyền được cơ cấu theo nhóm vùng quốc gia như sau:[4]

  • 13 ghế dành cho các nước châu Phi (4-6 vị trí được bầu hàng năm)
  • 13 ghế dành cho nhóm các nước châu Á - Thái Bình Dương (4-6 vị trí được bầu hàng năm)
  • 6 ghế dành cho các nước Đông Âu (1-2 vị trí được bầu hàng năm)
  • 8 ghế dành cho các nước Mỹ Latinh và vùng Carribea (2-3 vị trí được bầu hàng năm)
  • 7 ghế dành các các nước Tây Âu và các nước khác (2-3 vị trí được bầu hàng năm)

Khi là thành viên của Hội đồng Nhân quyền, các quốc gia có trách nhiệm bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền như được thống nhất trong Nghị quyết thành lập ra Hội đồng 60/251. Theo khoản 8 của nghị quyết này, các quốc gia được bầu chon căn cứ vào "đóng góp vào việc thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền cũng như những lời hứa tự giác và cam kết của ứng cử viên".[5] Vì vậy khi tuyên bố ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền, một quốc gia thường công bố một bản Cam kết tự nguyện với tư cách thành viên.

Khi một quốc gia thành viên Hội đồng Nhân quyền có vi phạm nhân quyền rộng lớn và mang tính hệ thống, tư cách thành viên có thể bị bãi bỏ bằng một cuộc bỏ phiếu thống nhất bởi ít nhất 2/3 đa số quốc gia thành viên có mặt và bỏ phiếu.[5]

Danh sách các quốc gia đang là thành viên Hội đồng Nhân quyền được Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp quốc cập nhật tại đây.

47 thành viên đầu tiên của Hội đồng Nhân quyền được bầu chọn vào ngày 9 tháng 5 năm 2006. Để có bầu cử gối đầu, nhóm thành viên đầu tiên gồm 14 nước chỉ có nhiệm kỳ 01 năm, nhóm thứ hai là nhóm 15 nước có nhiệm kỳ 02 năm và nhóm thứ ba là nhóm 18 nước có nhiệm kỳ 03 năm.

Thành viên Hội đồng Nhân quyền
Nhiệm kỳ Châu Phi (13) Châu Á (14) Đông Âu (5) Mỹ Latin
và Caribe (8)
Tây Âu và các
nước còn lại (7)
2020–2022
[6]
  Libya
  Mauritanie
  Sudan
  Namibia
  Armenia
  Indonesia
  Nhật Bản
  Quần đảo Marshall
  Hàn Quốc
  Ba Lan   Brasil
  Venezuela
  Đức
  Hà Lan
2019–2021
[7]
  Burkina Faso
  Cameroon
  Eritrea
  Somalia
  Togo
  Bahrain
  Bangladesh
  Fiji
  Ấn Độ
  Philippines
  Bulgaria
  Cộng hòa Séc
  Argentina
  Bahamas
  Uruguay
  Áo
  Đan Mạch
  Ý
2018–2020
[8]
  Angola
  CHDC Congo
  Nigeria
  Senegal
  Afghanistan
    Nepal
  Qatar
  Pakistan
  Slovakia
  Ukraina
  Chile
  México
  Peru
  Úc
  Tây Ban Nha
Trước đây:
2017-19[9]   Ai Cập
  Rwanda
  Nam Phi
  Tunisia
  Trung Quốc
  Iraq
  Nhật Bản
  Ả Rập Xê Út
  Croatia
  Hungary
  Brasil
  Cuba
  Anh Quốc
  Hoa Kỳ
2016-18[10]   Burkina Faso
  Bờ Biển Ngà
  Ethiopia
  Kenya
  Togo
  Hàn Quốc
  Kyrgyzstan
  Mông Cổ
  Philippines
  Các TVQA Thống nhất
  Gruzia
  Slovenia
  Ecuador
  Panama
  Venezuela
  Bỉ
  Đức
  Thụy Sĩ
2015-17[11]   Botswana
  Cộng hoà Congo
  Ghana
  Nigeria
  Ấn Độ
  Indonesia
  Qatar
  Albania
  Latvia
  Bolivia
  El Salvador
  Paraguay
  Hà Lan
  Bồ Đào Nha
2014-16   Algérie
  Maroc
  Namibia
  Nam Phi
  Trung Quốc
  Maldives
  Ả Rập Xê Út
  Việt Nam
  Bắc Macedonia
  Nga
  Cuba
  México
  Pháp
  Anh Quốc
2013-15   Ethiopia
  Bờ Biển Ngà
  Gabon
  Kenya
  Sierra Leone
  Nhật Bản
  Kazakhstan
  Pakistan
  Hàn Quốc
  Các TVQA Thống nhất
  Estonia
  Montenegro
  Argentina
  Brasil
  Venezuela
  Đức
  Ireland
  Hoa Kỳ
2012-14   Bénin
  Botswana
  Burkina Faso
  Cộng hoà Congo
  Ấn Độ
  Indonesia
  Kuwait
  Philippines
  România
  Cộng hòa Séc
  Chile
  Costa Rica
  Peru
  Ý
  Áo
2011-13   Angola
  Libya
  Mauritanie
  Uganda
  Qatar
  Malaysia
  Maldives
  Thái Lan
  Moldova
  Ba Lan
  Ecuador
  Guatemala
  Thụy Sĩ
  Tây Ban Nha
2010-12   Djibouti
  Cameroon
  Mauritius
  Nigeria
  Senegal
  Bangladesh
  Trung Quốc
  Jordan
  Kyrgyzstan
  Ả Rập Xê Út
  Nga
  Hungary
  Cuba
  México
  Uruguay
  Bỉ
  Na Uy
  Hoa Kỳ
2009-11   Burkina Faso
  Gabon
  Ghana
  Zambia
  Bahrain
  Nhật Bản
  Pakistan
  Hàn Quốc
  Slovakia
  Ukraina
  Argentina
  Brasil
  Chile
  Pháp
  Anh Quốc
2008-10   Ai Cập
  Angola
  Madagascar
  Nam Phi
  Ấn Độ
  Indonesia
  Qatar
  Philippines
  Bosna và Hercegovina
  Slovenia
  Bolivia
  Nicaragua
  Hà Lan
  Ý
2007-09   Djibouti
  Cameroon
  Mauritius
  Nigeria
  Senegal
  Azerbaijan
  Bangladesh
  Trung Quốc
  Jordan
  Malaysia
  Ả Rập Xê Út
  Nga   Cuba
  México
  Uruguay
  Đức
  Canada
  Thụy Sĩ
2006-08   Gabon
  Ghana
  Mali
  Zambia
  Nhật Bản
  Pakistan
  Sri Lanka
  Hàn Quốc
  România
  Ukraina
  Brasil
  Guatemala
  Peru
  Pháp
  Anh Quốc
2005-07   Algérie
  Maroc
  Nam Phi
  Tunisia
  Bahrain
  Ấn Độ
  Indonesia
  Bangladesh
  Ba Lan
  Cộng hòa Séc
  Argentina
  Ecuador
  Phần Lan
  Hà Lan

Chủ tịch và các phó Chủ tịch Hội đồngSửa đổi

Hội đồng Nhân quyền có một Chủ tịch và bốn Phó Chủ tịch, trong đó một Phó Chủ tịch kiêm báo cáo viên của Hội đồng. Chủ tịch và các phó Chủ tịch được bầu hàng năm tại Hội đồng.

Các chủ tịch
Tt Chủ tịch Từ nước Thời gian
15. Nazhat Shameem Khan Fiji 01/01/2021 - 31/12/2021[12]
14. Elisabeth Tichy-Fisslberger   Áo 1/1/2020 – ...[13]
13. Coly Seck   Senegal 1/1/2019 – 31/12/2019
12. Vojislav Šuc   Slovenia 1/1/2018 – 31/12/2018
11. Joaquín Alexander Maza Martelli   El Salvador 2017 [14]
10. Choi Kyonglim   Hàn Quốc 2016
9. Mr. Joachim Rücker   Đức 2015 [15]
8. Mr. Baudelaire Ndong Ella   Gabon 16/06/2014 – 2015[16]
7. Mr. Remigiusz Henczel   Ba Lan 10/12/2012 – 15/06/2014
6. Mrs. Laura Dupuy Lasserre   Uruguay 19/06/2011 – 9/12/2012
5. Mr. Sihasak Phuangketkeow   Thái Lan 19/06/2010 – 18/06/2011
4. Mr. Alex Van Meeuwen   Bỉ 19/06/2009 – 18/06/2010
3. Mr. Martin Ihoeghian Uhomoibhi   Nigeria 19/06/2008 – 18/06/2009
2. Mr. Doru Romulus Costea   România 19/06/2007 – 18/06/2008
1. Mr. Luis Alfonso de Alba   México 19/06/2006 – 18/06/2007[17]

Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR)Sửa đổi

Các thủ tục đặc biệt của Hội đồng Nhân quyềnSửa đổi

Thủ tục khiếu nạiSửa đổi

Các nhóm làm việc mởSửa đổi

Các diễn đànSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “BBC NEWS”. Truy cập 9 tháng 2 năm 2015.
  2. ^ http://daccess-ods.un.org/access.nsf/Get?Open&DS=A/60/PV.72&Lang=E
  3. ^ https://www.ohchr.org/EN/HRBodies/HRC/Pages/Sessions.aspx
  4. ^ Quy định tại đoạn 7 Nghị quyết Đại hội đồng LHQ số 60/251 (A/RES/60/251 đoạn 7) ngày 03/4/2006. Truy cập tại http://undocs.org/en/A/RES/60/251 ngày 27/02/2021.
  5. ^ a ă Quy định tại đoạn 8 Nghị quyết Đại hội đồng LHQ số 60/251 (A/RES/60/251 đoạn 7) ngày 03/4/2006. Truy cập tại http://undocs.org/en/A/RES/60/251 ngày 27/02/2021.
  6. ^ “Election of the Human Rights Council (17 October 2019)”. United Nations General Assembly. United Nations. 17 tháng 10 năm 2019.
  7. ^ < (12 tháng 10 năm 2018). “Election of the Human Rights Council (12 October 2018)”. United Nations General Assembly. United Nations. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2019. Đã bỏ qua văn bản “--Not stated-->” (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  8. ^ < (16 tháng 10 năm 2017). “Election of the Human Rights Council (16 October 2017)”. United Nations General Assembly. United Nations. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2019. Đã bỏ qua văn bản “--Not stated-->” (trợ giúp)Quản lý CS1: tên số: danh sách tác giả (liên kết)
  9. ^ Current Membership of the Human Rights Council, 1 January - 31 December 2017 by regional groups. Truy cập 01/04/2017.
  10. ^ Bauzon, Bernice Camille (ngày 29 tháng 10 năm 2015). “PH reelected to UNHRC”. The Manila Times. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2015.
  11. ^ HRC > Current Membership of the Human Rights Council by regional groups. Retrieved 15/05/2015.
  12. ^ https://www.ohchr.org/EN/HRBodies/HRC/Pages/Presidency.aspx
  13. ^ “President of the 14th Cycle”. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2020.
  14. ^ ​​​​President of the 11th Cycle. Truy cập 22/04/2017.
  15. ^ Joachim Rücker, President of the Human Rights Council, Ninth Cycle (2015). Retrieved 22/05/2015.
  16. ^ HRC President of the 8th Cycle. Truy cập 22/05/2015.
  17. ^ HRC President of the First Cycle 2006 - 2007. Retrieved 22/05/2015.

Liên kết ngoàiSửa đổi