Hannah Arendt

nữ triết gia chính trị người Đức-Mỹ gốc Do Thái (1906-1975)

Hannah Arendt (tiếng Đức: [ˈaːʁənt];[11] 14 tháng 10 năm 1906 – 4 tháng 12 năm 1975) là một nhà triết học chính trị và tác giả người Do Thái sống sót qua thảm họa diệt chủng Holocaust. Bà được nhìn nhận là một trong những nhà lý thuyết chính trị cực kỳ có ảnh hưởng của thế kỷ 20.[12][13][14]

Hannah Arendt
Photo of Hannah Arendt in 1933
Chân dung Arendt năm 1933
SinhJohanna Arendt
(1906-10-14)14 tháng 10 năm 1906
Linden, tỉnh Hanover, Vương quốc Phổ, Đế quốc Đức
Mất4 tháng 12 năm 1975(1975-12-04) (69 tuổi)
Manhattan, Thành phố New York, Hoa Kỳ
Nơi an nghỉĐại học Bard, New York, Hoa Kỳ
Tên khácHannah Arendt Bluecher
Tư cách công dân
Phối ngẫu
Günther Anders
(cưới 1929⁠–⁠1937)

Heinrich Blücher
(cưới 1940⁠–⁠1970)
Cha mẹ
  • Paul Arendt
  • Martha Cohn
Người thânMax Arendt (de) (ông nội)
Henriette Arendt (dì)
Học vịĐại học Berlin
Đại học Marburg
Đại học Freiburg
Đại học Heidelberg (PhD, 1929)
Tác phẩm nổi bật
Thời kỳTriết học thế kỷ 20
VùngTriết học phương Tây
Trường phái
Tư vấn tiến sĩKarl Jaspers[5]
Đối tượng chính
Triết học chính trị, lý thuyết về chủ nghĩa toàn trị, triết học lịch sử, lý thuyết về tính hiện đại
Tư tưởng nổi bật
Chữ ký
Hannah Bluecher-Arendt signature.svg

Arendt sinh ra trong một gia đình Do Thái vào năm 1906 tại Linden, nay là Hanover. Năm lên 3 tuổi, gia đình Arendt chuyển đến sống ở Königsberg, thủ phủ của Đông Phổ, để cha bà là Paul Arendt tiện điều trị giang mai. Ông mắc phải căn bệnh này từ khi còn trẻ, và bệnh tình của ông đã thuyên giảm lúc Arendt chào đời. Ông mất lúc bà mới 7 tuổi. Arendt được nuôi dưỡng trong một gia đình có tư tưởng chính trị vô thần và tiến bộ. Mẹ bà là người nhiệt tình ủng hộ Đảng Dân chủ Xã hội Đức. Sau khi hoàn thành chương trình trung học ở Berlin, bà đỗ Đại học Marburg và học tập dưới sự chỉ bảo của nhà triết học Martin Heidegger. Thời gian đó, giữa bà và Heidegger nảy sinh mối tình kéo dài 4 năm.[15] Arendt nhận bằng tiến sĩ triết học tại Đại học Heidelberg vào năm 1929 với luận văn Tình yêu và Thánh Augustinô theo sự hướng dẫn của nhà triết học hiện sinh Karl Jaspers.

Hannah Arendt kết hôn với Günther Stern vào năm 1929. Vào khoảng những năm 1930 khi Đức Quốc Xã trở nên lớn mạnh, Arendt phải đối diện với thái độ miệt thị người Do Thái ngày càng tăng. Năm 1933 Adolf Hitler lên nắm quyền, Arendt bị cầm tù một thời gian ngắn bởi Gestapo với tội danh thực hiện nghiên cứu bất hợp pháp về chủ nghĩa bài Do Thái ở Đức Quốc xã. Sau khi được thả, bà trốn khỏi Đức sang Tiệp Khắc và Thụy Sĩ rồi định cư tại Paris. Ở đó, bà làm việc cho tổ chức Thanh niên Aliyah, hỗ trợ những người Do Thái trẻ tuổi di cư đến lãnh thổ ủy trị Palestine. Bà ly hôn Stern vào năm 1937, và cưới Heinrich Blücher vào năm 1940. Khi Đức xâm lược Pháp vào năm 1940, Arendt bị chính quyền sở tại giam giữ vì là người ngoại quốc dù bà đã bị tước quyền công dân Đức từ năm 1937. Bà trốn thoát và đặt chân đến Hoa Kỳ vào năm 1941 qua đường Bồ Đào Nha, tới được New York và sống ở đó suốt quãng đời còn lại. Bà trở thành nhà văn, nhà biên tập và công tác tại Tổ chức Tái thiết Văn hóa Do Thái, chính thức nhập quốc tịch Mỹ năm 1950. Sau khi xuất bản cuốn Nguồn gốc của chủ nghĩa toàn trị (The Origins of Totalitarianism) vào năm 1951, Arendt nổi danh trong vai trò một nhà tư tưởng và một nhà văn. Bà tiếp tục cho ra đời nhiều tác phẩm như Thân phận con người (The Human Condition) vào năm 1958, Eichmann ở JerusalemVề cách mạng (On Revolution) vào năm 1963. Ngoài ra, bà còn giảng dạy tại nhiều trường đại học ở Mỹ, nhưng luôn từ chối các hợp đồng thuê theo nhiệm kỳ. Bà đột ngột qua đời vì một cơn đau tim năm 1975, hưởng thọ 69 tuổi, để lại cuốn Đời sống của tâm trí (The Life of the Mind) còn đang dang dở.

Trước tác của Arendt xoay quanh nhiều chủ đề. Nổi bật nhất trong số đó là về bản chất của quyền lựccái ác, cũng như về chính trị, dân chủ trực tiếp, quyền hành (authority) và chủ nghĩa toàn trị. Với công chúng, bà có lẽ được nhớ đến nhiều nhất với tranh cãi xung quanh vụ xét xử Adolf Eichmann, là nỗ lực của bà nhằm giải thích rằng chế độ toàn trị hoàn toàn có khả năng biến những người bình thường thành tác nhân dưới sự thống trị của nó, điều mà một số người bất đồng quan điểm coi là lời biện hộ, và với cụm từ "sự tầm thường của cái ác" (the banality of evil).

Tuổi thơ, thiếu thời và giáo dục (1906-1929)Sửa đổi

Gia cảnhSửa đổi

Cha mẹ
Martha Cohn khoảng năm 1899
Paul Arendt khoảng năm 1900

Hannah Arendt, tên khai sinh là Johanna Arendt,[16][17] chào đời vào năm 1906 trong một gia đình thế tục Do Thái-Đức có học thức tại Linden, Phổ (nay thuộc Hanover), thuộc lãnh thổ Đức thời Wilhelmine. Gia đình bà gốc gác là những thương nhân Nga từ Königsberg,[a] thủ phủ Đông Phổ. Ông bà của Arendt là thành viên của cộng đồng Do Thái Cải cách ở đó. Ông nội của Hannah, Max Arendt (de) (1843–1913), là một doanh nhân thành đạt, chính trị gia địa phương,[18] một trong những nhà lãnh đạo của cộng đồng Do Thái Königsberg và là thành viên của Centralverein deutscher Staatsbürger jüdischen Glaubens (Tổ chức Trung ương các Công dân Đức của Đức tin Do Thái). Giống như các thành viên khác của Centralverein, ông coi bản thân mình là công dân Đức và không tán thành những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái, chẳng hạn như Kurt Blumenfeld trẻ tuổi (1884-1963), người thường xuyên đến thăm nhà họ và sau này trở thành một trong những người thầy của Hannah. Trong số các người con của Max Arendt, Paul Arendt (1873–1913) theo nghiệp kỹ sư và Henriette Arendt (1874–1922) trở thành nữ cảnh sát nhưng sau chuyển sang làm nhân viên xã hội.[19][20]

Hannah là con một của gia đình Paul và Martha Arendt (nhũ danh Cohn) (1874–1948),[21] hai người kết hôn vào ngày 11 tháng 4 năm 1902. Cha mẹ Hannah đặt tên con gái theo người bà nội.[22][23] Họ Cohn chạy khỏi Nga (nay là Lithuania) tới tị nạn tại Königsberg vào năm 1852 bởi thái độ bài Do Thái ở quê nhà, và kiếm sống bằng nghề nhập khẩu trà; họ mở công ty J. N. Cohn & Company rất thành công trong khu vực. Họ Arendt cũng rời Nga tới Đức một thế kỷ trước.[24][25] Gia đình mở rộng của Hannah có rất nhiều người cô dì góa phụ và mất mát con cái. Cha mẹ bà được cho ăn học tử tế, và do vậy, quan điểm của họ tả khuynh hơn thế hệ ông bà đi trước. Cặp vợ chồng trẻ gia nhập Đảng Dân chủ Xã hội Đức[16] thay vì Đảng Dân chủ Đức lúc bấy giờ được nhiều người trạc tuổi ủng hộ. Cha bà là Paul Arendt từng học tập tại trường Albertina (Đại học Königsberg). Mặc dù Paul là một kỹ sư song ông lại rất lấy làm tự hào sở thích nghiên cứu văn học cổ điển của mình. Ông sưu tập và tạo dựng một thư viện tại gia lớn, cho con gái tha hồ đọc sách. Mẹ bà là Martha Cohn từng học 3 năm tại Đại học Paris và trở thành một nhạc sĩ.[20]

Trong bốn năm đầu của cuộc hôn nhân, gia đình Arendt sống tại Berlin, và trở thành những người ủng hộ tạp chí xã hội chủ nghĩa Sozialistische Monatshefte.[b][26] Vào thời điểm Hannah chào đời, Paul Arendt đang làm việc cho một công ty kỹ thuật điện ở Linden, và họ sống trong một căn nhà gỗ trên quảng trường chợ (Marktplatz).[27] Gia đình Arendt chuyển về Königsberg vào năm 1909 vì sức khỏe của Paul ngày càng sa sút.[6][28] Cha của Hannah mắc bệnh giang mai kéo dài và phải nằm điều trị tại bệnh viện tâm thần Königsberg vào năm 1911. Trong nhiều năm sau đó, Hannah phải xét nghiệm Wassermann thường xuyên để tìm triệu chứng giang mai bẩm sinh.[29] Cha bà không may qua đời vào ngày 30 tháng 10 năm 1913, khi Hannah mới 7 tuổi.[22][30] Hannah và mẹ bà chuyển tới sống tại nhà ông nội ở Tiergartenstraße 6, một con phố rợp bóng cây giáp với Königsberg Tiergarten, trong khu Hufen chủ yếu có người Do Thái sinh sống.[31] Mặc dù cha mẹ Hannah không theo tôn giáo nào, họ vẫn vui vẻ cho phép Max Arendt đưa Hannah đến hội đường Cải Cách. Bà nhận được chỉ dẫn tôn giáo từ rabbi Do Thái, Hermann Vogelstein. Vào thời điểm đó, Hannah trẻ tuổi tâm sự rằng bà muốn kết hôn với anh ta khi lớn lên.[20] Gia đình bà thuộc vòng xã hội trí thức và chuyên gia với những tiêu chuẩn và lý tưởng cao. Theo hồi tưởng của bà:

Sự hình thành tư tưởng trí thức ban sơ của tôi diễn ra trong bầu không khí nơi mà chẳng ai thèm đặt ra các câu hỏi về đạo đức; chúng tôi được nuôi dạy dưới sự thừa nhận rằng: Das Moralische versteht sich von selbst (Đạo đức không cần phải giãi bày), cách cư xử đạo đức là chuyện thường tình ắt xảy đến.[32]

Gia đình Arendt
Người ông nội Max Arendt bế bồng Hannah, chụp năm 1907
Hannah chụp chung với mẹ vào năm 1912
Hannah chụp chung với mẹ vào năm 1914
Hannah vào năm 1920 đọc sách trong thư viện tại gia

Khoảng thời gian này đặc biệt thuận lợi cho cộng đồng Do Thái ở Königsberg, một tâm điểm của làn sóng Haskalah (khai sáng Do Thái).[33][34] Gia đình của Arendt đã bị đồng hóa triệt để ("Đức hóa")[35] và sau này bà kể lại: "Đối với những người chúng tôi đến từ Đức, cái từ 'đồng hóa' mang một ý nghĩa triết học 'sâu sắc'. Các bạn khó có thể hiểu chúng tôi nghiêm túc với nó như thế nào."[36] Bất chấp những điều kiện này, người Do Thái chưa nhận được quyền công dân hoàn chỉnh, và mặc dù chủ nghĩa bài Do Thái bấy giờ không được công khai, song thực sự vẫn tồn tại.[37] Arendt nhìn nhận bản sắc Do Thái của mình một cách tiêu cực do bị miệt thị khi bà trưởng thành.[36] Bà tự coi mình là một mẫu người kiểu Rahel Varnhagen (1771–1833), một phụ nữ có vai vế trong xã hội Phổ[30] rất muốn được hòa nhập vào văn hóa Đức, song bị khước từ chỉ vì bản thân sinh ra đã là người Do Thái.[36] Arendt chia sẻ rằng Varnhagen là "người bạn nữ thân thiết nhất của tôi, chỉ tiếc rằng cô ấy đã mất cách đây cả trăm năm."[36] Varnhagen sau này trở thành nhân vật chủ đề trong một cuốn tiểu sử được viết bởi Hannah.[38]

Gia đình Beerwald-Arendt
Martin Beerwald, Hannah và mẹ bà chụp vào năm 1923
Eva và Clara Beerwald chụp cùng Hannah vào năm 1922

Vào hai năm cuối của Thế chiến thứ nhất, mẹ của Hannah chủ trì các nhóm thảo luận dân chủ xã hội và trở thành tín đồ của Rosa Luxemburg (1871–1919) khi các cuộc nổi dậy xã hội chủ nghĩa nổ ra trên khắp nước Đức.[26][39] Các bài viết của Luxemburg ảnh hưởng đến tư duy chính trị của Hannah sau này. Năm 1920, Martha Cohn kết hôn với Martin Beerwald (1869–1941),[c] một người thợ sắt góa vợ đã bốn năm. Họ chuyển đến nhà ông, cách đó hai dãy nhà, tại Busoldstrasse 6.[40][41] Cuộc kết hôn này đã cải thiện an ninh tài chính và vị thế xã hội của gia đình bà. Lúc đó Hannah mới 14 tuổi và có thêm hai người chị gái Clara (1901–1932) và Eva (1902–1988).[40]

Giáo dụcSửa đổi

Thời nhỏSửa đổi

Các mái trường nơi Hannah từng học tập
Hufen-Oberlyzeum khoảng năm 1923
Königin-Luise-Schule tại Königsberg khoảng năm 1914

Mẹ của Hannah Arendt, người tự cho mình là có tư tưởng tiến bộ, tìm cách nuôi dạy con gái theo đường lối nghiêm khắc của Goethe, bao gồm việc bắt Hannah đọc hết đống tác phẩm hoàn chỉnh của Goethe, thường được tóm tắt bằng câu văn Was aber ist deine Pflicht? Die Forderung des Tages (Và nhiệm vụ của bạn là gì? Những yêu cầu trong ngày) trong tác phẩm Wilhelm Meisters Lehrjahre (1796). Goethe lúc bấy giờ được coi là chuyên gia về công cuộc Bildung (giáo dục), sự hình thành có ý thức của tâm trí, cơ thể và tinh thần. Các yếu tố then chốt của quá trình đó bao gồm sự kỷ luật tự giác, sự truyền tải đam mê mang tính xây dựng, sự quên mình và trách nhiệm đối với người khác. Quá trình giáo dục của Hannah (Entwicklung) được mẹ bà ghi lại cẩn thận trong một cuốn sổ đặt tựa là Unser Kind (Con chúng ta), và bà thường xuyên so sánh Hannah với tiêu chuẩn normale Entwicklung ("phát triển bình thường") lúc bấy giờ.[42]

Arendt đi học mẫu giáo từ năm 1910, nơi giáo viên rất ấn tượng trước sự thông minh lanh lợi của cô bé. Bà vào học trường Szittnich, Königsberg (Hufen-Oberlyzeum), trên phố Bahnstraße vào tháng 8 năm 1913,[43] nhưng việc học ở đó bị gián đoạn do chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, buộc gia đình bà phải tạm lánh đến Berlin vào ngày 23 tháng 8 năm 1914 để tránh cuộc tiến công của quân Nga.[44] Họ trú nhờ tại nhà người dì Margarethe Fürst (1884–1942),[d] cùng ba đứa con, trong thời gian đó Hannah theo học tại trường Lyzeum dành cho nữ sinh ở Berlin-Charlottenburg. Sau 10 tuần, gia đình Arendt quay trở lại Königsberg sau khi chiến sự đã lắng xuống,[44] rồi trải qua những năm tháng chiến tranh còn lại tại nhà ông nội. Arendt học tiếng Hy Lạp cổ đại từ khi còn rất nhỏ,[45] biết viết thơ khi tới tuổi thiếu niên,[46] và mở một câu lạc bộ triết học và Hy Lạp tên là Graecae tại ngôi trường mà bà đang học. Bà rất độc lập trong học tập và là người ham mê đọc sách,[e] thuộc lòng văn thơ và triết học của Pháp và Đức. Năm 14 tuổi, bà đã đọc được các tác phẩm của Kierkegaard, cuốn Psychologie der Weltanschauungen của JaspersPhê phán lý tính thuần túy của Kant. Vị triết gia Kant, vốn cũng là người Königsberg, đã có ảnh hưởng vô cùng lớn đến tư tưởng của bà, và chính Kant đã bình phẩm như sau về Königsberg "một thị trấn như đây là nơi thích hợp để thu thập kiến ​​thức về loài người và thế giới mà chẳng cần phải chu du phiêu bạt".[48][49]

Arendt học trung học tại trường Königin-Luise-Schule, một trường gymnasium nữ sinh nằm trên phố Landhofmeisterstraße.[50] Hầu hết bạn bè của bà tại đây là những đứa trẻ có năng khiếu được sinh thành trong các gia đình Do Thái chuyên nghiệp, hầu hết đều lớn tuổi hơn bà và đỗ đạt lên bậc đại học. Trong số đó có anh chàng Ernst Grumach (1902–1967), người đã giới thiệu bà với người bạn gái của mình là Anne Mendelssohn,[f] sau này trở thành người bạn tri kỷ của Arendt. Sau khi Anne chuyển đi, Ernst và Arendt nảy sinh tình cảm, và Ernst cũng là mối tình đầu tiên trong đời bà. Giống như Arendt, Anne trở thành một nhà triết học, lấy bằng tiến sĩ tại Hamburg,[47] còn Ernst trở thành một nhà bác ngữ.[52]

Những ngôi nhà thời trẻ của Hannah
Ngôi nhà tuổi thơ của Hannah Arendt tại Linden
Tiergartenstraße, Königsberg khoảng những năm 1920
Lutherstraße 4, Marburg
Schlossberg, Heidelberg

Bậc đại học và cao họcSửa đổi

 
Chân dung Hannah năm 1924
Berlin (1922–1924)Sửa đổi

Arendt bị đình chỉ khỏi Luise-Schule vào năm 1922 hồi 15 tuổi vì đầu trò tẩy chay một giáo viên đã xúc phạm bà. Mẹ bà đành sắp xếp cho con gái lên Berlin nhờ vả những người bạn của gia đình trong Đảng Dân chủ Xã hội. Tại Berlin, Arendt sống tại khu ký túc xá dành cho sinh viên và dự thính các khóa học do bà chọn tại Đại học Berlin (1922–1923), bao gồm các khóa nghiên cứu kinh điển và thần học Kitô giáo của Romano Guardini. Điều này giúp bà có thể tham dự kỳ thi tuyển sinh abitur của Đại học Marburg, nơi Ernst Grumach từng học hỏi người thầy Martin Heidegger được bổ nhiệm làm giáo sư ở đó vào năm 1922. Để đạt kết quả tốt trong kì thi tới, mẹ bà đã thuê một gia sư riêng, còn cô dì Frieda Arendt,[g] vốn là một giáo viên, cũng giúp đỡ bà, và Ernst Aron, chồng của Frieda, đã hỗ trợ tài chính để bà theo đuổi ước mơ đại học.[54]

Marburg (1924–1926)Sửa đổi

Tại Berlin, Guardini giới thiệu Arendt với Kierkegaard, khiến bà quyết tâm chọn thần học là lĩnh vực chính của mình.[49]Tại Marburg (1924–1926) bà học ngôn ngữ cổ điển, văn học Đức, thần học Tin lành dưới sự dìu dắt của Rudolf Bultmann và triết học dưới trướng Nicolai Hartmann và Heidegger.[55] Arendt đến Marburg vào đúng thời điểm cuộc cách mạng tri thức đang được Heidegger khởi xướng, người mà bà vô cùng ngưỡng mộ, mô tả ông ấy thời đó là "vị vua ẩn mình ngự trị ở cõi tư duy".[56]

Trước khi tới Marburg, Heidegger từng làm phụ tá cho Edmund Husserl thời còn ở Đại học Freiburg, và sau này ông đã tách khỏi phong trào trí thức do người thầy cũ khơi mào.[57] Đây là thời kỳ Heidegger đang chuẩn bị các bài giảng về Kant, mà về sau sẽ phát triển thành hai cuốn Sein und Zeit (Tồn hữu và Thời gian) vào năm 1927 và Kant und das Problem der Metaphysik (Kant và Vấn đề Siêu hình học) vào năm 1929. Tuy rằng Heidegger thể hiện sự kính trọng Edmund Husserl trong cuốn Sein und Zeit, Husserl đã đánh giá tác phẩm này khá tệ, nên trong ấn bản thứ hai, Heidegger đã lược bỏ phần tỏ sự kính trọng đó.

Ở các lớp giảng, ông và các sinh viên của mình cố gắng mổ xẻ ý nghĩa của "Tồn hữu" trong khi dần dần làm quen với khái niệm ἀλήθεια (sự thật) của Aristotle và đọc qua tác phẩm Ngụy biện của Platon.[57] Nhiều năm sau, Arendt nhớ lại khoảng thời gian này, mọi người lũ lượt kéo về Marburg để nghe ông thuyết giảng, và trên hết, cách mà ông truyền đạt ý tưởng Denken ("suy nghĩ") như thể một sinh hoạt, mà bà đánh giá là "lối suy nghĩ nồng nhiệt".[58]

Arendt hồi đó bồn chồn. Cho đến nay con đường học vấn của bà chẳng hề thỏa mãn về cả mặt tinh thần lẫn trí tuệ. Bà đã sẵn sàng cho một đam mê, hoàn thành bài thơ Trost (sự an ủi, 1923) với những vần thơ tiếng Đức:

Die Stunden verrinnen,
Die Tage vergehen,
Es bleibt ein Gewinnen
Das blosse Bestehen.

Cuộc gặp gỡ của bà với Heidegger thể hiện một sự thoát ly đầy kịch tính khỏi quá khứ. Ông ấy là một thiên tài, đẹp trai, lãng mạn, và dạy rằng tư duy và "sống động" chỉ là một.[59] Arendt hồi 17 tuổi bắt đầu mối tình lãng mạn lâu dài với Heidegger 35 tuổi,[60] người đã kết hôn và có hai đứa con trai nhỏ.[h][57] Arendt sau đó bị chỉ trích vì điều này do Heidegger ủng hộ Đảng Quốc xã sau khi ông được bầu làm hiệu trưởng của Đại học Freiburg vào năm 1933. Tuy nhiên, ông vẫn là một trong những nhân vật có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến lối suy nghĩ của bà,[61] và về sau ông cũng thổ lộ rằng bà chính là nguồn cảm hứng cho công trình của ông về suy nghĩ đam mê hồi đó. Họ đồng ý giữ bí mật các chi tiết của mối quan hệ, lưu giữ các bức thư tình mà không công bố.[62] Mối quan hệ lén lút này bị phát hiện sau khi cuốn tiểu sử về cuộc đời Arendt của tác giả Elisabeth Young-Bruehl được xuất bản vào năm 1982. Vào thời điểm đó, Arendt và Heidegger đã qua đời còn người vợ của Heidegger, Elfride (1893–1992), vẫn còn sống. Mối tình này không được nhiều người quan tâm cho đến năm 1995, khi Elzbieta Ettinger được quyền truy cập vào các thư từ niêm phong[63] và công bố một tường thuật gây tranh cãi, bị lợi dụng bởi những người không ủng hộ Arendt nhằm công kích tính chính trực của bà. Tường thuật đó[i] đã dẫn đến một vụ bê bối mà rốt cuộc bị bác bỏ.[65][66][64]

Tại Marburg, Arendt sống tại địa chỉ Lutherstraße 4.[67] Trong số những người bạn của bà có Hans Jonas, người bạn cùng lớp gốc Do Thái duy nhất của bà. Một học trò khác của Heidegger là bạn của Jonas, nhà triết học Do Thái Gunther Siegmund Stern (1902–1992) – con trai của nhà tâm lý học nổi tiếng Ludwig Wilhelm Stern – sau này sẽ trở thành người chồng đầu tiên của Arendt.[68] Stern hoàn thành luận văn tiến sĩ với sự giúp đỡ của Edmund Husserl tại Freiburg, và bấy giờ đang làm luận văn habilitation cùng Heidegger, nhưng Arendt vào thời điểm đó đang lưu luyến với Heidegger nên ít để mắt đến Stern.[69]

Die Schatten (1925)Sửa đổi
Những người thầy của Hannah

Vào mùa hè năm 1925, trong khi bà về thăm Königsberg, Arendt đã sáng tác tự truyện duy nhất về chính mình mang tên Die Schatten (Những cái bóng), một "mô tả về bản thân bà"[70][71] để gửi gắm cho Heidegger.[j][73] Trong tác phầm tràn đầy sự dằn vặt khổ tâm này, bà bày tỏ những nỗi bất an liên quan đến sự nữ tính và gốc gác Do Thái của mình bằng ngôn ngữ của Heidegger, viết theo kiểu trừu tượng ở ngôi thứ ba.[k] Bà miêu tả trạng thái "Fremdheit" (xa lánh), một mặt là sự mất mát đột ngột của thanh xuân và sự ngây thơ, mặt khác là một "Absonderlichkeit" (sự lạ kỳ), tức là sự phát hiện điều đáng chú ý trong điều tầm thường.[74] Trong những dòng tâm tư giãi bày nỗi đau thời thơ ấu và khao khát được chở che, bà để lộ những tổn thương trong lòng và kể về tình yêu đối với ông đã giải phóng bà như thế nào và một lần nữa lấp đầy thế giới của bà với sắc màu và huyền bí. Bà coi mối quan hệ của mình với Heidegger là "Eine starre Hingegebenheit an ein Einziges" ("một sự tận tâm cứng nhắc đối với một người đàn ông độc nhất").[36][75][76] Khoảng thời gian khám phá nội tâm này cũng là một trong những giai đoạn bà sáng tác nhiều thơ nhất,[77] chẳng hạn như bài In sich versunken (Lạc vào sự tự chiêm nghiệm).[78]

Freiburg và Heidelberg (1926–1929)Sửa đổi

Sau một năm tại Marburg, Arendt dành một học kỳ tại Freiburg, tham dự các bài giảng của Husserl.[8] Năm 1926, bà chuyển đến Đại học Heidelberg, nơi vào năm 1929, bà hoàn thành luận văn của mình dưới sự chỉ bảo tận tình của triết gia đại tài dẫn đầu phong trào triết học hiện sinh mới và mang tính cách mạng lúc bấy giờ,[45] Karl Jaspers (1883–1969), một bằng hữu của Heidegger.[45] Luận văn của bà mang tên Der Liebesbegriff bei Augustin: Versuch einer Philosophischen Interpretation (Về khái niệm tình yêu trong tư tưởng của Thánh Augustinô: Phân tích một diễn giải triết học).[79] Bà trở thành bạn với Jaspers và vợ ông là Gertrud Mayer (1879–1974), hai người phát triển mối quan hệ tri thức sâu sắc với nhau.[80] Tại Heidelberg, nhóm bạn của bà bao gồm Hans Jonas, người cũng đã chuyển từ Marburg để hoàn thiện tác phẩm Augustin und das paulinische Freiheitsproblem. Ein philosophischer Beitrag zur Genesis der christlich-abendländischen Freiheitsidee của mình,[l] và ngoài ra có ba nhà triết học trẻ: Karl Frankenstein, Erich NeumannErwin Loewenson.[81] Những người bạn và học trò khác của Jaspers bao gồm các nhà ngôn ngữ học Benno von WieseHugo Friedrich (chụp chung với Hannah ở ảnh dưới). Bà cùng với Hugo tham dự các bài giảng của Friedrich Gundolf theo gợi ý của Jaspers, điều này đã khiến bà quan tâm đến chủ nghĩa lãng mạn Đức. Bà cũng quen biết với Kurt Blumenfeld vào một buổi giảng và được tiếp xúc lần đầu với chính trị Do Thái. Tại Heidelberg, bà sống ở khu phố cổ (Altstadt) gần lâu đài Heidelberg có địa chỉ là Schlossberg 16. Ngôi nhà nơi bà sống đã bị phá bỏ vào những năm 1960, nhưng hiện trên vách tường phế tàn của ngôi nhà đó, người ta có treo một tấm bảng tưởng nhớ Arendt.[82]

Arendt tại Đại học Heidelberg 1926–1929
Hannah Arendt (thứ hai từ phải sang), Benno von Wiese (ngoài cùng bên phải), Hugo Friedrich (thứ hai từ trái sang) và một người bạn tại Đại học Heidelberg năm 1928
Bảng kỷ niệm ngôi nhà Arendt từng sống tại Heidelberg

Sau khi hoàn thành luận văn, Arendt theo đuổi chứng chỉ Habilitationsschrift, ban đầu là về chủ nghĩa lãng mạn Đức,[83] và sau đó là một sự nghiệp giảng dạy hàn lâm. Tuy nhiên năm 1929 lại là năm cuộc Đại khủng hoảng xảy ra, khép lại kỷ nguyên vàng (Goldene Zwanziger) của Cộng hòa Weimar, một chế độ chênh vênh suốt bốn năm cuối đời nó. Arendt, vì là người Do Thái, ít có cơ hội được đứng giảng tại các trường học ở Đức lúc đó.[84] Dù gì đi chăng nữa, bà đã hoàn thành hầu hết các công trình học thuật trước khi hoàn cảnh ép buộc bà rời khỏi Đức.[85]

Sự nghiệpSửa đổi

Đức (1929–1933)Sửa đổi

Berlin-Potsdam (1929)Sửa đổi

 
Günther Stern và Hannah Arendt vào năm 1929

Năm 1929, Arendt hội ngộ với Günther Stern ở Berlin tại một yến hội hóa trang mừng năm mới, kể từ đó hai người bắt đầu một mối quan hệ gần gũi.[m][39][68] Trong vòng một tháng, bà chuyển đến ở cùng ông trong một căn hộ một phòng, dùng chung với một trường dạy múa ở Berlin-Halensee. Sau đó, họ chuyển đến Merkurstraße 3, Nowawes,[86]Potsdam[87] và kết hôn vào ngày 26 tháng 9.[n][89] Họ chia sẻ nhiều điểm chung và cuộc hôn nhân được cả hai bên gia đình hoan nghênh.[69] Vào mùa hè, Hannah Arendt nộp đơn lên Notgemeinschaft der Deutschen Wissenschaft để xin trợ cấp cho Habilitation của bà, được hỗ trợ bởi Heidegger và Jaspers cùng nhiều người khác, và trong lúc chờ đợi, bà tiếp tục nghiên cứu hiệu đính để xuất bản luận văn của mình với sự giúp đỡ của Günther.[90]

Wanderjahre (1929–1931)Sửa đổi

Giai đoạn hai năm đầu của cuộc hôn nhân giữa Arendt và Günther được nhà nghiên cứu Christian Dries gọi là Wanderjahre (những năm lang thang). Hồi đó họ chỉ cố gắng vô ích nhằm đưa Günther lên một chức vị học thuật nào đó.[91] Họ sống ở Drewitz lân cận phía nam Potsdam trong một thời gian ngắn,[92] rồi chuyển đến Heidelberg, nơi họ ở nhờ nhà của Jaspers. Tại Heidelberg, Günther viết xong bản thảo đầu tiên của luận văn Habilitation. Đôi vợ chồng trẻ sau đó chuyển đến Frankfurt nơi Günther hy vọng sẽ hoàn thiện nốt luận văn. Ở đó, Arendt đắm mình trong cuộc sống đại học, tham dự các bài giảng của nhiều giảng viên, trong đó bao gồm Karl MannheimPaul Tillich.[93] Gia đình Stern cộng tác cùng viết bài báo[94] bình phẩm về Duino Elegies của Rilke (1923)[95] và về Ideologie und Utopie của Mannheim (1929).[96] Bài đánh giá đó là đóng góp duy nhất của Arendt dành cho ngành xã hội học.[68][69][97] Trong cả hai bài viết về Mannheim và Rilke, Arendt nhận xét rằng tình yêu là một nguyên tắc siêu nghiệm "Bởi vì không tồn tại sự siêu nghiệm thực sự trong thế giới trật tự này, một người cũng chẳng thể vượt trên thế giới, mà chỉ có thể đạt lên những cấp bậc cao hơn".[o] Bà xem Rilke như thể một Augustinô thế tục ngày trước, ví tác phẩm Elegies như một "hình thức tối thượng của kinh sách" (letzten literarischen Form religiösen Dokumentes). Sau này, bà phát hiện những hạn chế của tình yêu siêu nghiệm trong việc lý giải các sự kiện lịch sử đưa đẩy bà sang hành động chính trị.[98] Một chủ đề khác mà bà sau này sẽ xây dựng thêm dựa theo Rilke đó là sự tuyệt vọng khi không được lắng nghe. Suy ngẫm về những dòng mở đầu của Rilke:

Wer, wenn ich schriee, hörte mich denn aus der Engel Ordnungen?
(Ai, khi ta thét lên, sẽ nghe thấy ta trong số các phẩm trật thiên thần?)

Arendt và Stern viết như sau:

Cái hoàn cảnh nghịch lý, mơ hồ, và tuyệt vọng mà từ cái quan điểm đó Duino Elegies mới thật sự được hiểu sở hữu hai đặc trưng: cái thiếu vắng một sự vang vọng và cái hiểu biết về sự vô ích. Sự quên mình có ý thức của cái nhu cầu cần được lắng nghe, sự tuyệt vọng vì không được lắng nghe, và cuối cùng là cái thôi thúc cất tiếng ngay cả khi không nhận được lời hồi đáp–đây là những nguyên nhân thực sự của bóng đêm, sự khắc nghiệt, và sự căng thẳng của phong cách mà trong đó thơ ca bộc lộ những khả năng của chính nó và ý chí của nó để thành hình[p][99]

Arendt cũng xuất bản thêm một bài báo về Augustinô (354–430) đăng trên tờ Frankfurter Zeitung[100] để kỷ niệm 1.500 năm ngày mất của ông. Theo bà, bài đăng này đóng vai trò là cầu nối giữa quan điểm về Augustinô trong luận văn khi trước của bà và những nghiên cứu hiện tại của bà về chủ nghĩa lãng mạn.[101][102] Khi họ nhận ra Stern không thể có được một vị trí ở đại học,[q] đôi vợ chồng đành quay về Berlin vào năm 1931.[30]

Quay về Berlin (1931–1933)Sửa đổi

Tại Berlin, vợ chồng Stern ban đầu sống tại khu phố Do Thái mang tên Bayerisches Viertel (Khu phố Bavaria hay "Thụy Sĩ của người Do Thái") ở Schöneberg,[103][104] Stern, với sự trợ giúp của Bertold Brecht, làm biên tập viên góc văn hóa của tờ Berliner Börsen-Courier do Herbert Ihering chủ biên. Tại đây ông lấy bút danh Günther Anders, tức "Günther Tha Nhân".[r][68] Arendt phụ giúp Günther trong công việc, nhưng cái bóng của mối tình cũ với Heidegger vẫn bao trùm mối quan hệ hai người họ. Trong lúc Günther nỗ lực hoàn thiện Habilencesschrift, Arendt từ bỏ chủ đề luận văn ban đầu là chủ nghĩa lãng mạn Đức vào năm 1930, đổi hướng sang phân tích Rahel Varnhagen và câu hỏi về sự đồng hóa.[83][106] Anne Mendelssohn vô tình nhận được một bản sao thư từ của Varnhagen và hào hứng giới thiệu nó cho Arendt, ngoài ra còn tặng bộ sưu tập của bà cho Arendt. Một thời gian sau, chính công trình của Arendt về chủ nghĩa lãng mạn đã đưa bà đến nghiên cứu các salon Do Thái, và rốt cuộc tới salon của Varnhagen. Hannah thấy ở Rahel những phẩm chất phản ánh bản thân bà, đặc biệt là sự nhạy cảm và dễ bị tổn thương.[107] Rahel, giống như Hannah, tìm ra số phận của mình trong bản sắc Do Thái. Hannah Arendt sau này cho rằng sự chấp nhận phải chung sống với số phận của Rahel Varnhagen là một "sự bị ruồng bỏ có ý thức".[108] Đó là đặc điểm cá nhân mà Arendt đã tìm thấy trong thâm tâm, nhưng phải mãi về sau bà mới chấp nhận điều đó.[109]

Trở lại Berlin, Arendt ngày càng vương vấn với chính trị. Bà đọc các tác phẩm của MarxTrotsky, đồng thời mở rộng quan hệ xã giao tại Deutsche Hochschule für Politik.[110] Bất chấp khuynh hướng chính trị của mẹ và chồng, bà chưa từng coi mình là một người cánh tả, khăng khăng biện minh rằng đó chỉ là do cái tính Do Thái của bà.[111] Mối quan tâm lớn dần đối với chính trị Do Thái cộng thêm những suy ngẫm trước đây về Varnhagen và sự đồng hóa đã được Arendt đúc kết thành bài báo đầu tiên luận về Do Thái giáo, Aufklärung und Judenfrage ("Sự khai sáng và câu hỏi Do Thái", 1932).[112][113] Blumenfeld là người đã giới thiệu bà với "Vấn đề Do Thái", chủ đề được ông nghiền ngẫm suốt đời.[114] Cùng khoảng thời gian đó, quan điểm của bà về chủ nghĩa lãng mạn Đức cũng đang có nhiều tiến triển. Bà viết một bài phê bình tác phẩm Die Entstehung des deutschen Bildungsprinzips của Hans Weil (Nguồn gốc nguyên tắc giáo dục Đức, 1930),[115] đề cập đến sự khai sinh của Bildungselite (giới tinh hoa giáo dục) thời Rahel Varnhagen.[116] Đồng thời, bà cũng bị cuốn hút bởi mô tả của Max Weber về địa vị của người Do Thái như thể một quốc gia-dân tộc Pariavolk (dân tộc bị ruồng bỏ) trong cuốn Wirtschaft und Gesellschaft (1922),[117][118] và mượn thuật ngữ paria conscient (kẻ bị ruồng bỏ có ý thức) của Bernard Lazare[119] mà bà rất tâm đắc.[s][120][121][122] Trong cả hai bài báo đó, bà đề cao và phát triển quan điểm của Johann Gottfried von Herder.[113] Một mối quan tâm khác của bà vào thời điểm đó là địa vị của phụ nữ trong xã hội, vì đó mà vào năm 1932[123] bà đã viết bài đánh giá cuốn sách Das Frauenproblem in der Gegenwart. Eine psychologische Bilanz (Các vấn đề của phụ nữ đương đại: Bảng cân đối tâm lý) của Alice Rühle-Gerstel.[124] Mặc dù bà không quá ủng hộ phong trào nữ quyền, nhưng cũng rất đồng cảm với quan điểm trong cuốn sách. Xét về địa vị phụ nữ bấy giờ, Arendt hoài nghi rằng phong trào thật sự có thể xoay chuyển tình thế chính trị hiện tại.[125] Hơn nữa bà cũng chỉ trích phong trào này, vì nó là phong trào dành riêng cho phụ nữ thay vì cùng với nam giới tập hợp thành phong trào mạnh mẽ hơn, và vì nó còn quá trừu tượng thay vì phấn đấu cho các mục tiêu cụ thể. Ở đây rõ ràng bà đã chịu ảnh hưởng của Rosa Luxemburg. Giống Luxemburg, bà về sau cũng chỉ trích các phong trào Do Thái vì lý do tương tự. Vậy mới thấy Arendt là người luôn ưu tiên các vấn đề chính trị trước các vấn đề xã hội.[126]

Đến năm 1932, đối mặt trước tình hình chính trị ngày càng trở xấu, Arendt vô cùng bất an trước những báo cáo cho hay Heidegger đã phát biểu tại các cuộc họp quốc xã. Bà viết thư yêu cầu Heidegger phủ nhận những lùm xùm chính trị xoay quanh ông. Heidegger đáp rằng ông sẽ không tìm cách phủ nhận những tin đồn đó (tất cả đều là sự thật), và đảm bảo với bà rằng tình cảm trước kia ông dành cho bà vẫn chưa hề nhạt phai.[36] Là một người Do Thái sống dưới chế độ Quốc xã, Arendt vấp phải khó khăn khi đi kiếm sống và bị phân biệt đối xử. Bà tâm sự với Anne Mendelssohn rằng bà đang tính tản đi nơi khác. Jaspers thuyết phục Arendt phải tự coi mình là người Đức trước tiên; điều mà bà muốn cách ly khỏi, khẳng định bản thân chỉ là người Do Thái và rằng "Für mich ist Deutschland die Muttersprache, die Philosophie und die Dichtung" (Đối với tôi, nước Đức là tiếng mẹ đẻ, triết học và thơ ca), chứ không phải danh tính của bà. Quan điểm đó khiến Jaspers rất đỗi bối rối, đáp "Thật kỳ lạ với tôi rằng chỉ vì là một người Do Thái mà cô muốn khác người Đức".[127]

Đến năm 1933, cuộc sống của dân Do Thái ở Đức trở nên bấp bênh hơn bao giờ hết. Adolf Hitler nhậm chức Reichskanzler (Thủ tướng) vào tháng Giêng, và vào ngay tháng sau Reichstag bị thiêu rụi. Quyền tự do dân sự ngay lập tức bị chèn ép. Đảng cầm quyền liên tục đả kích các tổ chức cánh tả, nhắm đặc biệt vào các thành viên của Kommunistische Partei Deutschlands (Đảng Cộng sản Đức: KPD). Stern vốn là người cộng sản, phải vội lánh sang Paris. Arendt không theo chồng mà bám trụ tại Đức, trở thành nhà hoạt động chính trị. Nhận thức rõ thời gian rất cấp bách, Arendt sử dụng căn hộ tại Opitzstraße 6, Berlin-Steglitz, nơi bà từng chung sống với Stern từ năm 1932, làm chặng nghỉ của tuyến hỏa xa ngầm dành cho những người đào tẩu. Hành động nhân nghĩa của bà vẫn được tôn vinh tại Đức cho đến ngày nay.[128][129]

 
Bảng tưởng niệm tại Opitzstraße 6
 
Thư viện Nhà nước Phổ

Arendt đã quyết lập trường chính trị, phê phán Đảng Quốc xã vào năm 1932 với bài viết "Adam-Müller-Renaissance?"[130] đề cập đến hành vi chiếm đoạt cuộc đời của Adam Müller nhằm ủng hộ hệ tư tưởng cánh hữu. Pháp luật tẩy chay và chống Do Thái lần đầu được thông qua vào mùa xuân năm 1933. Đối mặt với chủ nghĩa bài Do Thái có hệ thống, Arendt hô hào mô-típ "Nếu một kẻ bị tấn công vì tư cách là người Do Thái, thì kẻ đó phải tự bảo vệ mình với tư cách là người Do Thái. Không phải với tư cách là người Đức, không phải với tư cách là công dân thế giới, không phải với tư cách là người duy trì Quyền con người."[45][131] Đây là lời tuyên bố đanh thép của Arendt để tượng trưng cho khái niệm người Do Thái như thể giống dân bị ruồng bỏ, khái niệm mà sẽ bao trùm các tác phẩm Do Thái của bà trong tương lai.[132] Bà dần được biết tới bởi công chúng với bài viết bàn về Rahel Varnhagen, có tiêu đề "Originale Assimilation: Ein Nachwort zu Rahel Varnhagen 100 Todestag" ("Gốc gác đồng hóa: Hồi kết cho kỷ niệm một trăm năm ngày mất của Rahel Varnhagen"), đăng trên tờ Kölnische Zeitung vào ngày 7 tháng 3 năm 1933 và chút sau nữa còn được đăng trên tờ Jüdische Rundschau.[t][84] Trong đó, bà lập luận rằng thời đại đồng hóa bắt đầu từ thế hệ của Varnhagen đã kết thúc với chính sách bài trừ Do Thái của nhà nước. Bà mở đầu với lời tuyên bố:

Ngày nay tại nước Đức, dường như cái quá trình đồng hóa Do Thái đành phải tuyên bố sự phá sản của nó. Tư tưởng bài Do Thái chung của xã hội và sự chính thức hóa cái tư tưởng ấy đã ảnh hưởng trước tiên đến những người Do Thái đã bị đồng hóa, những người mà chẳng còn có thể tự bảo vệ bản thân bằng cách rửa tội hoặc nhấn mạnh sự tách ly của họ khỏi Do Thái giáo phương Đông.[u][135]

Arendt nóng lòng muốn được cho cả thế giới biết về những tai họa đã và đang ập đến với đồng bào Do Thái giữa những năm 1930–1933.[45] Bà hoạt động sát hơn với phái phục quốc Do Thái, bao gồm những nhân vật như Kurt Blumenfeld, Martin BuberSalman Schocken, đồng thời cũng bắt đầu tìm hiểu về chủ nghĩa bài Do Thái. Arendt có quyền truy cập Thư viện Nhà nước Phổ vì bà từng khảo cứu về Varnhagen tại đó. Tổ chức Zionistische Vereinigung für Deutschland (Liên đoàn phục quốc Do Thái của Đức) của Blumenfeld thuyết phục bà sử dụng quyền truy cập đó để thu thập bằng chứng liên quan đến chủ nghĩa chống Do Thái và tổng hợp thành một bài phát biểu dự kiến ​​trước Đại hội Phục quốc Do Thái ở Praha, bất hợp pháp lúc bấy giờ.[136] Đáng tiếc thay, một thủ thư phát giác công việc này và tố cáo bà tội tuyên truyền chống nhà nước. Đơn vị Gestapo được lệnh bắt giữ cả hai mẹ con Arendt. Họ bị cầm tù tám ngày nhưng may mắn được một sĩ quan cảnh sát trẻ tuổi thông cảm thả ra để chờ ngày xét xử. [30][55][137]

Lưu vong tại Pháp (1933–1941)Sửa đổi

Paris (1933–1940)Sửa đổi

 
Rahel Varnhagen khoảng năm 1800

Ngay khi được thả, nhận ra hiểm nguy kề cận, Arendt và mẹ bà bèn trốn khỏi Đức[30] theo con đường tị nạn đã được thiết lập sẵn, băng qua dãy núi Erzgebirge lúc ban đêm, để sang Tiệp Khắc và đến Praha, rồi đi tàu hỏa đến Geneva. Tại đó, bà quyết định cống hiến đời mình cho "đại nghiệp Do Thái". Nhờ một người bạn của mẹ, bà được giao công việc phân phát thị thực và các bài phát biểu tại Cơ quan Do Thái hướng về Palestine của Hội Quốc Liên.[138]

Từ Geneva, gia đình Arendt hòa vào dòng người tị nạn tới được Paris vào mùa thu, nơi bà đoàn tụ với Stern.[139] Arendt rời Đức mà không có giấy tờ tùy thân, còn mẹ bà cầm theo giấy thông hành nên quyết định trở về Königsberg để gặp chồng.[138] Tại Paris, bà kết bạn với anh họ của Stern, nhà phê bình văn học kiêm triết gia Mác-xít Walter Benjamin (1892–1940), và nhà triết học người Pháp gốc Do Thái Raymond Aron (1905–1983).[139]

Arendt hiện là một émigrée, tức là một người sống lưu vong, không quốc tịch, không giấy tờ, và quay lưng với nước Đức và nhân dân Đức của Nazizeit.[45] Tình trạng pháp lý của bà cực kỳ bấp bênh, ngoài ra còn phải đương đầu với một ngôn ngữ và nền văn hóa quá xa lạ. Tất cả những trắc trở đó đã ảnh hưởng xấu đến tinh thần và thể chất của bà.[140] Năm 1934, bà bắt đầu làm việc cho chương trình tiếp cận cộng đồng do nhóm phục quốc tài trợ là Agriculture et Artisanat,[141] giảng dạy và chu cấp quần áo, tài liệu, thuốc men cho các thanh niên Do Thái đang tìm đường di cư đến Lãnh thổ Ủy trị Palestine của Anh để làm nông dân. Arendt được tuyển dụng làm thư ký, sau thăng chức giám đốc văn phòng. Để nâng cao kỹ năng và xoay sở kiếm sống cho gia đình, bà học tiếng Pháp, tiếng Do Tháitiếng Yiddish.[142] Khi tổ chức đóng cửa vào năm 1935, Arendt được tiếp xúc với nhà từ thiện nữ giàu có tên là Germaine Alice de Rothschild (tên khai sinh là Halphen, 1884–1975),[143] vợ của Édouard Alphonse James de Rothschild, và trở thành trợ lý của bà ấy. Ở vị trí này, bà quản lý những đóng góp của nữ nam tước cho các tổ chức từ thiện danh cho người Do Thái thông qua Consistoire Paris.[138] Gia đình Rothschild đã kiểm soát Consistoire trong vòng một thế kỷ nhưng họ bất đồng quan điểm với Arendt về mọi mặt, phản đối việc nhập cư và phủ nhận bất kỳ mối liên hệ nào với người Do Thái Đức.[139][144]

Vào năm 1935, Arendt gia nhập Thanh niên Aliyah (Thanh niên nhập cư)[v] và trở thành Tổng thư ký trong giai đoạn 1935–1939.[17][139] Đây là một tổ chức tương tự như Agricultural et Artisanat, được thành lập ở Berlin vào cùng ngày Hitler lên nắm quyền. Nó có liên kết với tổ chức Hadassah,[145][146] nổi tiếng vì đã cứu rất nhiều mạng người trước cuộc Holocaust sắp đến.[147][148][30] Công việc Arendt tại Thanh niên Aliyah bao gồm tìm kiếm lương thực, quần áo, nhân viên xã hội và luật sư, nhưng trên hết vẫn là gây quỹ.[55] Bà tới thăm Palestine thuộc Anh vào năm 1935 và gặp gỡ với người anh họ Ernst Fürst ở đó.[w][140] Sự kiện Đức Quốc xã sáp nhập Áoxâm lược Tiệp Khắc vào năm 1938 đã tạo ra một dòng người tị nạn đổ dồn về Paris; trong hoàn cảnh đó, bà đã tham gia vào nỗ lực cứu trợ những đứa trẻ tản cư bất hạnh.[17] Năm 1938, Arendt hoàn thành tác phẩm tiểu sử về Rahel Varnhagen,[38][150][151] nhưng phải tới tận năm 1957 mới được xuất bản.[30][152] Vào tháng 4 năm 1939, sau vụ thảm sát pogrom Kristallnacht vào tháng 11 năm 1938, Martha Beerwald (mẹ của Arendt) nhận ra rằng Arendt sẽ không thể nào hồi hương nên quyết định rời bỏ chồng tới Paris ở với con gái. Một người chị kế của Arendt đã qua đời còn người chị gái kế kia đã chuyển đến sống ở Anh, Martin Beerwald (cha dượng của Arendt) không đi cùng vợ mà ở lại quê nhà. Kể từ đó, bà không một lần trở về Königsberg nữa.[153]

Heinrich BlücherSửa đổi

Năm 1936, Arendt gặp gỡ nhà thơ/nhà triết học Mác-xít người Berlin Heinrich Blücher (1899–1970) tại Paris.[30][154] Blücher là thành viên của Liên đoàn Spartakus và là một trong những nhân vật kiến lập Đảng KPD nhưng bị đình chỉ tư cách đảng viên vì chọn phe Versöhnler trong nội bộ đảng.[114][155][156] Mặc dù Arendt tái ngộ Stern vào năm 1933, hôn nhân của họ giờ chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa sau khi ông rời bỏ bà tại Berlin. Bà đã làm tròn bổn phận của một người vợ, đổi theo họ chồng và dùng tên Hannah Stern. Song mối quan hệ giữa hai người chấm dứt khi, có lẽ bởi Stern nhận ra mối hiểm họa tốt hơn Arendt, ông quyết định di cư sang Mỹ cùng bố mẹ vào năm 1936.[140] Năm 1937, Arendt bị tước quốc tịch Đức, và bà với Stern ly hôn. Bà ngày càng thân mật hơn với Blücher, và chuyển tới sống chung với ông. Sự nghiệp hoạt động chính trị lâu dài của Blücher đã góp phần biến tư tưởng của Arendt thành hành động chính trị.[114] Arendt và Blücher kết hôn vào ngày 16 tháng 2 năm 1940, ít lâu sau khi thủ tục ly hôn được hoàn tất.[157]

Giam cầm và trốn thoát (1940–1941)Sửa đổi

 
Bảng tưởng niệm tại Trại Gurs

Vào ngày 5 tháng 5 năm 1940, theo kế hoạch đề phòng cuộc tiến công của Đức vào Pháp và các nước Vùng thấp trong tháng đó, thống đốc quân sự của Paris đã chỉ đạo tất cả "kẻ thù ngoại quốc" trong độ tuổi 17-55 đến từ Đức (chủ yếu là dân Do Thái) phải báo cáo riêng để tập trung giam cầm. Những người phụ nữ được triệu tập tới Vélodrome d'Hiver vào ngày 15 tháng 5. Mẹ của Hannah Arendt, do đã trên 55, được phép ở lại Paris. Arendt mô tả những người tị nạn là "giống người mới được tạo ra bởi lịch sử đương đại ... bị kẻ thù của họ đưa vào trại tập trung và bạn bè của họ đưa vào trại giam giữ".[157][158] Những người đàn ông, bao gồm Blücher, được chuyển đến Trại Vernet miền nam nước Pháp, gần biên giới với Tây Ban Nha. Arendt và những người phụ nữ khác được gửi đến Trại Gurs, phía tây Gurs, một tuần sau đó. Trại này vốn được dựng lên để đón người tị nạn Tây Ban Nha. Ngày 22 tháng 6, Pháp đầu hàng và ký hiệp định Compiègne chia đôi đất nước. Gurs nằm trong khu vực do ngụy quyền Vichy kiểm soát. Arendt kể lại rằng "trong cơn hỗn loạn kèm theo, chúng tôi đã thành công lấy được các giấy tờ thả tự do và được phép rời trại".[159] Bà cùng với khoảng 200 trong số 7.000 phụ nữ bị giam giữ tại đó trốn thoát khoảng bốn tuần sau đó.[160] Bà đi bộ và đi nhờ xe lên phía bắc đến Montauban,[x] gần Toulouse, nơi bà biết mình sẽ tìm thấy sự trợ giúp.[158][161]

Montauban trở thành tâm điểm nương náu của những người trốn trại giam giữ;[y] bạn của Arendt là Lotta Sempell Klembort là một trong những người may mắn đó. Trại của Blücher được sơ tán sau cuộc tiến công của quân Đức. Ông trốn thoát trên đường tuần hành cưỡng bức, rồi tìm đến Montauban và gặp lại vợ ở đó. Ít lâu sau Anne Mendelssohn và mẹ của Arendt cũng tìm tới nơi. Việc xuất cảnh Pháp bấy giờ rất khó khăn nếu thiếu giấy tờ chính thức; người bạn của họ là Walter Benjamin đã tự kết liễu đời mình vì bị bắt khi mới đặt chân sang đất Tây Ban Nha. Một trong những tuyến bất hợp pháp khét tiếng nằm ngay ở ngoại ô Marseilles; nơi nhà báo người Mỹ tên là Varian Fry đang làm việc gây quỹ. Nhờ sự bao che của phó lãnh sự Mỹ Hiram Bingham,[z] ông còn tham gia các hoạt động giả mạo giấy tờ, hối lộ quan chức nhằm đảm bảo thủ tục xuất cảnh và thị thực Mỹ cho hàng nghìn người đào tẩu.

Nhờ hai người Mỹ, cùng với sự giúp đỡ của người chồng cũ Günther Stern; Arendt, chồng bà và mẹ bà có được giấy phép cần thiết để lên chuyến tàu hỏa băng qua Tây Ban Nha đến thủ đô Lisbon của Bồ Đào Nha vào tháng 1 năm 1941. Họ thuê một căn hộ trên đường Rua da Sociedade Farmacêutica, 6b.[aa][165] Họ kiếm được vé đến New York trên tàu S/S Guiné II của Công ty Companhia Colonial de Navegação vào tháng 5.[166] Vài tháng sau, Fry bị buộc dừng hoạt động và biên giới bị phong tỏa.[167][168]

New York (1941–1975)Sửa đổi

Chiến tranh thế giới lần II (1941–1945)Sửa đổi

Họ cập bến thành phố New York vào ngày 22 tháng 5 năm 1941 và nhận được sự trợ giúp từ Tổ chức phục quốc Do Thái của Mỹ và cộng đồng người Đức nhập cư địa phương, bao gồm Paul Tillich và những người hàng xóm từ Königsberg. Họ thuê căn hộ tại 317 West 95th Street và mẹ bà tới đó vào tháng 6. Do cần học tiếng Anh gấp, họ quyết định cho Hannah Arendt dành hai tháng sống chung với một gia đình người Mỹ ở Winchester, Massachusetts nhờ chương trình Tự lực cho Người tị nạn (Self-Help for Refugees) từ tháng 7.[169] Bà thấy trải nghiệm này khá khó khăn và đánh giá như sau về cuộc sống tại Hoa Kỳ: Der Grundwiderspruch des Landes ist politische Freiheit bei gesellschaftlicher Knechtschaft (Mâu thuẫn căn bản của đất nước này đó là tự do chính trị kèm với nô lệ xã hội).[ab][170]

Ngay khi quay về New York, Arendt tiếp tục viết lách và trở thành một nhà hoạt động trong cộng đồng Đức-Do Thái, xuất bản bài viết, "Từ vụ Dreyfus cho tới nước Pháp ngày nay" (dịch sang tiếng Anh từ bản thảo tiếng Đức của bà) vào tháng 7 năm 1942.[ac][172] Trong lúc hoàn thiện bài viết, bà cũng chạy vạy nhiều nơi để tìm việc làm. Vào tháng 11 năm 1941, tờ Aufbau của cộng đồng Do Thái-Đức tại New York thuê bà vào làm. Từ năm 1941 đến năm 1945, bà là chủ biên góc chính trị của tờ báo này, chuyên bàn luận về chủ nghĩa bài Do Thái, người tị nạn và sự cần thiết nhằm xây dựng một quân đội của người Do Thái. Bà cũng đóng góp nhiều bài viết cho tờ tạp chí Mỹ-Do Thái Menorah Journal,[173] và nhiều ấn phẩm émigré khác.[30]

 
Arendt và Blücher chuyển tới sống tại 370 Riverside Drive ở Thành phố New York

Arendt kiếm được công việc toàn thời gian có lương đầu tiên vào năm 1944. Bà được nhận làm giám đốc nghiên cứu kiêm điều hành cho tổ chức Ủy ban Tái thiết Văn hóa Do Thái Châu Âu mới nổi, một dự án của Hội nghị Quan hệ Do Thái.[ad] Bà được chiêu mộ "bởi vì mối quan tâm rất lớn của bà đối với các hoạt động của Uỷ ban, kinh nghiệm trước đó của bà trong vai trò quản lý, và mối liên kết của bà với nước Đức". Tại đó bà tổng hợp danh sách các tài sản văn hóa Do Thái tại Đức và tại châu Âu bị Đức quốc xã đô hộ nhằm hậu thuẫn công cuộc tái thiết thời hậu chiến.[176] Cùng với chồng, bà sống tại 370 Riverside Drive ở Thành phố New York và Kingston, New York, nơi mà Blücher dạy học tại Bard College lân cận trong nhiều năm.[30][177]

Hậu chiến (1945–1975)Sửa đổi

 
Hannah Arendt cùng với Heinrich Blücher, New York, năm 1950

Vào tháng 7 năm 1946, Arendt thôi việc tại Ủy ban Tái thiết Văn hóa Do Thái châu Âu để sang làm biên tập viên cho Schocken Books,[ae] công ty mà sau này sẽ xuất bản một số tác phẩm của bà.[30][179] Năm 1948, bà tham gia vào chiến dịch của Judah Magnes nhằm tìm giải pháp cho cuộc xung đột Israel–Palestine.[114] Bà phản đối việc thành lập một quốc gia Do Thái ở Palestine và vốn cũng phản đối việc thành lập một song quốc Ả Rập-Do Thái. Thay vào đó, bà ủng hộ việc chuyển đổi Palestine thành một liên bang đa sắc tộc. Chỉ đến năm 1948 trong nỗ lực ngăn chặn sự chia cắt lãnh thổ, bà mới ủng hộ giải pháp một quốc gia hai dân tộc.[180] Bà quay trở lại Ủy ban vào tháng 8 năm 1949. Với tư cách là thư ký điều hành, bà quay về châu Âu, tới Đức, Anh và Pháp (tháng 12 năm 1949-tháng 3 năm 1950) để đàm phán với họ trả lại các tài liệu lưu trữ của các cơ quan Đức, một trải nghiệm mà bà cảm thấy cực kỳ mệt nhọc, song bà vẫn cố gắng cung cấp thường xuyên các báo cáo hiện trường.[181] Vào tháng 1 năm 1952, bà trở thành thư ký của Hội đồng quản trị, mặc dù tổ chức lúc đó đang xuống dốc[af] và bà đồng thời đang theo đuổi các hoạt động trí thức của riêng mình; bà sẽ giữ chức vụ này suốt phần đời còn lại.[ag][176][182][183] Đóng góp của Arendt trong công cuộc phục hồi văn hóa đã cung cấp thêm tài liệu cho nghiên cứu của bà về chủ nghĩa toàn trị.[184]

Trong những năm 1950, Arendt chắp bút viết các tác phẩm The Origins of Totalitarianism (1951),[185] The Human Condition (1958)[186]On Revolution (1963).[30][187] Arendt gặp mặt và trao đổi với tác giả người Mỹ Mary McCarthy, kém bà 6 tuổi, vào năm 1950. Họ nhanh chóng trở thành bạn tri kỉ.[188][189] Cũng vào năm 1950, Arendt nhập quốc tịch Hoa Kỳ.[190] Cùng năm đó, bà tái ngộ với tình nhân cũ Martin Heidegger khi trước, rồi nảy sinh "mối tình nửa vời" (theo cách nói của Adam Kirsch) kéo dài hai năm.[36] Trong khoảng thời gian này, Arendt bênh vực Heidegger trước những lời trách móc vì ông ta dám ủng hộ Đảng Quốc xã. Bà cho rằng Heidegger khi đó chỉ là một người đàn ông ngây thơ bị lôi kéo bởi những thế lực ngoài tầm kiểm soát, còn chỉ ra rằng triết học của Heidegger không liên quan gì đến Chủ nghĩa Quốc gia Xã hội.[36] Năm 1961, bà đến Jerusalem để tường thuật phiên tòa xét xử Eichmann cho tờ The New Yorker. Bản tường thuật của bà tuy vậy đã gây ra nhiều tranh cãi trong dư luận Mỹ. Dựa trên những đóng góp lớn lao của bà đối với văn minh châu Âu, Arendt được vinh dự trao tặng Giải Sonning bởi Đan Mạch vào năm 1975.[45][191]

Vài năm sau tại Thành phố New York, bà phát biểu như sau về tính hợp lý của bạo lực như một hành động chính trị: "Nói chung, bạo lực luôn bùng phát từ sự bất lực. Đó là hy vọng của những người không có quyền nhằm tìm sự thay thế cho nó và hy vọng đó theo tôi là vô ích. Bạo lực có thể phá vỡ quyền lực, nhưng không bao giờ thay thế được nó."[192]

Bệnh tình và qua đờiSửa đổi

Heinrich Blücher qua khỏi một cơn phình mạch não vào năm 1961, song sức khỏe của ông kiệt quệ cho tới năm 1963. Ngày 31 tháng 10 năm 1970, ông qua đời sau một cơn đau tim dữ dội. Arendt trước đó đã từng chia sẻ với Mary McCarthy rằng, "[Tôi] không thể tưởng tượng được cuộc sống nếu thiếu ông ấy".[193] Bản thân Arendt là người nghiện hút thuốc lá, điều mà có thể thấy trong nhiều tấm ảnh chụp bà. Tháng 5 năm 1974, trong chuyến giảng thuyết tại Scotland, Arendt đã suýt mất mạng do một cơn đau tim. Tuy hồi phục qua khỏi, sức khỏe của bà bị giảm sút nghiêm trọng, nhưng bà vẫn cố chấp hút thuốc.[194] Chiều tối ngày 4 tháng 12 năm 1975, ít lâu sau sinh nhật tuổi thứ 69 của mình, bà đột quỵ do đau tim tại căn hộ riêng trong lúc tiếp đãi bạn bè.[195][196] Tro cốt của bà được chôn cất cạnh ngươi chồng Blücher tại Đại học Bard, Annandale-on-Hudson, New York vào tháng 5 năm 1976.[177][197]

Sau khi Arendt mất, trang đề tựa của tập cuối The Life of the Mind ("Judging") được tìm thấy bên cạnh chiếc máy đánh chữ của bà, trong đó mới chỉ kịp viết vài dòng nhan đề và hai đoạn trích. Di cảo này đã được sao chép lại (xem ảnh).[198]

Đóng góp học thuậtSửa đổi

Arendt viết các tác phẩm về lịch sử trí thức trong vai trò là một nhà lý luận chính trị, vận dụng các sự kiện và thực tiễn hành động để phân tích sâu sắc các phong trào toàn trị thời bấy giờ và các mối nguy hại cho sự tự do của con người được biểu trưng bởi sự trừu tượng hóa khoa học và đạo đức áp đặt của giai cấp tư sản. Về mặt trí thức, bà là nhà tư tưởng độc lập, một kẻ đơn độc chứ không phải một "kẻ tham gia," cách li bản thân khỏi các trường phái tư tưởng và hệ tư tưởng.[199] Ngoài các tác phẩm lớn, bà cũng đã cho ra đời nhiều tập tuyển văn như Between Past and Future (1961),[200] Men in Dark Times (1968)[201]Crises of the Republic (1972).[202] Bà cũng đã có nhiều đóng góp lớn cho một số nhà xuất bản như The New York Review of Books, Commonweal, DissentThe New Yorker.[30] Công trình vang danh nhất của bà có lẽ là bản tường thuật về phiên tòa xét xử Adolf Eichmann,[203] vì các tranh cãi gay gắt xung quanh nó.[204]

Lý luận chính trị và hệ thống triết họcSửa đổi

Phụ chúSửa đổi

  1. ^ Sau Thế chiến II, Königsberg được đổi tên thành Kaliningrad, Nga.
  2. ^ Sozialistische Monatshefte được biên tập bởi học giả Do Thái Königsberg, Joseph Bloch, và góp phần hình thành tâm điểm của nhóm thảo luận chủ nghĩa xã hội tại Königsberg của Martha Arendt
  3. ^ Gia đình Beerwald trước đây cũng từng sống chung nhà với người mẹ góa phụ của Martha Arendt[40]
  4. ^ Margarethe nán lại Đức sau khi người chị đã rời đi, bị bắt tới trại tập trung vào năm 1941 và không qua khỏi[21]
  5. ^ Anne Mendelssohn miêu tả bà là người đã "đọc mọi thứ"[47]
  6. ^ Anne Mendelssohn: Hậu duệ của Moses Mendelssohn (1729–1786) và Felix Mendelssohn (1809–1847), một gia đình địa phương có ảnh hưởng. Anne rời Đức tới Paris cùng khoảng thời gian với Arendt, cưới nhà triết học Eric Weil (1904–1977) vào năm 1934, và gia nhập Kháng chiến Pháp với bí danh Dubois. Bà mất vào ngày 5 tháng 7 năm 1984[51]
  7. ^ Frieda Arendt. Sau khi mẹ của Paul Arendt mất vào năm 1880, Max Arendt kết hôn với Klara Wohlgemuth và sinh hai người con, Alfred (1881) và Frieda (1884–1928). Frieda kết hôn với Ernst Aron.[53]
  8. ^ Martin Heidegger, một tín đồ Công giáo La Mã, kết hôn với Elfride Petri vào ngày 21 thảng 3 năm 1917. Họ sinh hai đứa con trai, Jorg và Hermann[57]
  9. ^ Ettinger có ý định viết một tiểu sử về Arendt, nhưng do sức khỏe sa sút, không thể hoàn thành tác phẩm, và chỉ duy nhất chương này được xuất bản riêng thành một cuốn trước khi bà mất[64]
  10. ^ Tác phầm này được lưu giữ trong đống thư từ giữa Arendt và Heidegger đã được công bố[72]
  11. ^ Một câu ví dụ là "có lẽ thanh xuân của cô sẽ tự giải thoát khỏi bùa chú này"
  12. ^ Vấn đề tự do của Augustinô và Pôn. Một đóng góp triết học cho sự khởi nguồn của tư tưởng tự do của Kitô giáo-Tây phương
  13. ^ "Tôi chiếm trọn trái tim của Hannah tại một yến hội, trong lúc khiêu vũ: Tôi từng cho rằng "tình yêu là hành động người ta chuyển cái hậu nghiệm, thứ mà người kia mới bất chợt gặp phải – thành cái tiên nghiệm của cuộc đời bản thân." – Song phải thú thật rằng cái công thức tuyệt đẹp ấy hóa ra lại sai bét."[68]
  14. ^ Chung sống mà chưa tổ chức hôn nhân không quá xa lạ đối với giới trí thức Berlin, song sẽ khá tai tiếng nếu trong các cộng đồng đại học ở địa phương khác, khiến họ phải tổ chức hôn lễ trước khi chuyển đến Heidelberg và Frankfurt để tiện cho Günther theo nghiệp học thuật.[88]
  15. ^ Da es nun wahre Transzendenz in dieser geordneten Welt nicht gibt, gibt es auch nicht wahre Übersteigung, sondern nur Aufsteigen in andere Ränge
  16. ^ Echolosigkeit und das Wissen um die Vergeblichkeit ist die paradoxe, zweideutige und verzweifelte Situation, aus der allein die Duineser Elegien zu verstehen sind. Dieser bewußte Verzicht auf Gehörtwerden, diese Verzweiflung, nicht gehört werden zu können, schließlich der Wortzwang ohne Antwort ist der eigentliche Grund der Dunkelheit, Abruptheit und Überspanntheit des Stiles, in dem die Dichtung ihre eigenen Möglichkeiten und ihren Willen zur Form aufgibt.
  17. ^ Stern được mách rằng các trường đại học khó nhận được ông vì quyền uy ngày càng lớn mạnh của Đức Quốc xã.
  18. ^ Anders – có nhiều giả thuyết suy đoán về lý do tại sao ông lại lấy bút danh này: Herbert Ihering cho rằng hồi đó có nhiều cây bút tên là Stern nên ông mới chọn biệt danh "khác" (anders) đi như vậy, hoặc để khiến cái tên nghe ít vẻ Do Thái hơn,[68] hoặc để giấu giếm quan hệ ruột thịt với người cha nổi tiếng hơn[105]
  19. ^ Pariavolk: Trong Religionssoziologie (Xã hội học về tôn giáo). Tuy Arendt mượn nhiều ý tưởng từ Weber, rất nhiều các cây bút đi trước cũng đã từng sử dụng những thuật ngữ này, đơn cử là Theodor Herzl[120]
  20. ^ "Original Assimilation" được xuất bản lần đầu bằng tiếng Anh vào năm 2007, một phần của loạt bài Jewish Writings.[133]
  21. ^ "Die jüdische Assimilation scheint heute in Deutschland ihren Bankrott anmelden zu müssen. Der allgemein gesellschaftliche und offiziell legitimierte Antisemitismus trifft in erster Linie das assimilierte Judentum, das sich nicht mehr durch Taufe und nicht mehr durch betonte Distanz zum Ostjudentum entlasten kann."[134]
  22. ^ Thanh niên Aliyah, nghĩa đen là Thanh niên Di cư, phản ảnh giáo lý của chủ nghĩa phục quốc Do Thái đó chính là "thẳng tiến" tới Jerusalem
  23. ^ Mẹ của Hannah Arendt, Martha Arendt (nhũ danh Cohn) có một người em gái là Margarethe Fürst sống tại Berlin, người đã cưu mang nhà Arendt hồi thế chiến thứ nhất. Con trai của Margarethe là Ernst (tức em họ của Hannah Arendt) cưới bạn thời thơ ấu của Hannah là Käthe Lewin, và đôi vợ chồng chuyển tới sống tại Palestine Ủy trị vào năm 1934. Ở đó, họ sinh đứa con gái đầu lòng mang tên Hannah theo tên của Arendt ("Hannah Cả"). Con gái thứ hai của họ là Edna Fürst (sinh năm 1943), về sau cưới Michael Brocke, tham dự phiên tòa xét xử Eichmann cùng với Hannah Arendt[149]
  24. ^ Khoảng cách từ Gurs tới Montauban ít nhất phải 300 km
  25. ^ Thị trưởng Huguenot của Montauban thông qua chính sách cho phép người di cư chính trị cư trú tại đó[162]
  26. ^ ông này là con trai của Hiram Bingham III từng có công tái khám phá cổ trấn Machu Picchu
  27. ^ Vào tháng 12 năm 2018, bảng kỷ niệm chốn nương thân của Arendt tại Lisbon được ra mắt tại góc con phố Rua da Sociedade Farmacêutica và Conde Redondo, bao gồm một trích đoạn từ "We Refugees" (xem ảnh)[163][164]
  28. ^ Arendt gửi Jaspers ngày 29 tháng 1 năm 1946
  29. ^ Trong đó, bà lập luận rằng chủ nghĩa bài Do Thái tại Pháp là một chuỗi liên tục kể từ Dreyfus tới Pétain[171]
  30. ^ Hội nghị về Quan hệ Do Thái, được thành lập vào năm 1933 bởi Salo BaronMorris Raphael Cohen, sau đổi tên thành Hội nghị nghiên cứu xã hội của người Do Thái vào năm 1955, và bắt đầu phát hành ấn bản Jewish Social Studies vào năm 1939[174][175]
  31. ^ Schocken Books có thương hiệu gốc là Schocken Verlag, một nhà xuất bản Đức-Do Thái chuyển trụ sở đến New York vào năm 1945[178]
  32. ^ Công lao xây dựng Ủy ban này, lúc bấy giờ được gọi là Phục nguyên Văn hóa Do Thái (JCR), phụ thuộc phần lớn vào Hannah Arendt và Salo Baron
  33. ^ JCR giải thể vào năm 1977

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Allen 1982.
  2. ^ Bowen-Moore 1989, tr. 119.
  3. ^ Kristeva 2001b, tr. 48.
  4. ^ Lovett 2018.
  5. ^ Grunenberg 2017, tr. 3.
  6. ^ a b Yar 2018.
  7. ^ Fry 2009.
  8. ^ a b d'Entreves 2014.
  9. ^ Berkowitz 2012b.
  10. ^ Lefort 2002.
  11. ^ Duden 2015, tr. 199.
  12. ^ d’Entreves, Maurizio Passerin (11 tháng 1 năm 2019). “Hannah Arendt”. Stanford Encyclopedia of Philosophy.
  13. ^ Winston, Morton (tháng 2 năm 2009). “Hannah Arendt and the Challenge of Modernity: A Phenomenology of Human Rights by Serena Parekh”. Human Rights Quarterly. 31 (1): 278–282. doi:10.1353/hrq.0.0062. JSTOR 20486747. S2CID 144735049.
  14. ^ “Remembering the Theorist of the Banality of Evil”. Deutsche Welle. 14 tháng 10 năm 2006.
  15. ^ Các bức thư tình của Hannah Arendt và Martin Heidegger Open Culture ngày 10 tháng 5 năm 2017
  16. ^ a b Wood 2004.
  17. ^ a b c LoC 2001.
  18. ^ Heller 2015, tr. 33–34.
  19. ^ Riepl-Schmidt 2005.
  20. ^ a b c Young-Bruehl 2004, tr. 8–9.
  21. ^ a b Geni 2018.
  22. ^ a b Young-Bruehl 2004, tr. 17.
  23. ^ McGowan 1998.
  24. ^ Gould 2009, tr. 65.
  25. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 5–7.
  26. ^ a b Young-Bruehl 2004, tr. 27.
  27. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 13.
  28. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 5.
  29. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 22.
  30. ^ a b c d e f g h i j k l m Berkowitz 2013.
  31. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 10, 16, 26.
  32. ^ Arendt 1964, tr. 6.
  33. ^ Schuler-Springorum 1999.
  34. ^ Heller 2015, tr. 33.
  35. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 7.
  36. ^ a b c d e f g h Kirsch 2009.
  37. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 10–11.
  38. ^ a b Arendt 1997.
  39. ^ a b Villa 2000, tr. xiii.
  40. ^ a b c Young-Bruehl 2004, tr. 28.
  41. ^ Grunenberg 2017, tr. 62.
  42. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 12–13.
  43. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 16, 19.
  44. ^ a b Young-Bruehl 2004, tr. 21.
  45. ^ a b c d e f g Villa 2009.
  46. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 3.
  47. ^ a b Young-Bruehl 2004, tr. 32.
  48. ^ Kant 2006, tr. 4.
  49. ^ a b Young-Bruehl 2004, tr. 36.
  50. ^ Heller 2015a.
  51. ^ Kirscher 2003.
  52. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 29.
  53. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 34, 477.
  54. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 32, 34.
  55. ^ a b c Maier-Katkin 2010.
  56. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 44.
  57. ^ a b c d Young-Bruehl 2004, tr. 47.
  58. ^ Arendt 1971.
  59. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 49.
  60. ^ Grunenberg 2017.
  61. ^ Maier-Katkin 2010a.
  62. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 50.
  63. ^ Kohler 1996.
  64. ^ a b Brent 2013.
  65. ^ Lilla 1999.
  66. ^ Young-Bruehl 2004, tr. xiv.
  67. ^ Young-Bruehl 2004.
  68. ^ a b c d e f Dries 2018.
  69. ^ a b c Ettinger 1997, tr. 31.
  70. ^ May 1986, tr. 24.
  71. ^ Balber 2017.
  72. ^ Arendt & Heidegger 2004.
  73. ^ Heidegger 1925.
  74. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 51.
  75. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 50–54.
  76. ^ Brightman 2004.
  77. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 50–56.
  78. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 50–51, 481–82.
  79. ^ Arendt 1929.
  80. ^ Arendt & Jaspers 1992.
  81. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 66.
  82. ^ Jen 2016.
  83. ^ a b Zebadúa Yáñez 2018.
  84. ^ a b Saussy 2013.
  85. ^ Weissberg & Elon 1999.
  86. ^ Kramer 2017.
  87. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 74.
  88. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 78.
  89. ^ Grunenberg 2017, tr. 84.
  90. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 77.
  91. ^ Dries 2011.
  92. ^ Berkowitz 2012a.
  93. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 82.
  94. ^ Arendt & Stern 1930.
  95. ^ Rilke 1912–1922.
  96. ^ Kettler 2009.
  97. ^ Arendt 1930b.
  98. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 84–85, 500.
  99. ^ Hill 2015.
  100. ^ Arendt 1930a.
  101. ^ Scott & Stark 1996.
  102. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 79, 81.
  103. ^ Rosenberg 2012.
  104. ^ KGB 2018.
  105. ^ Jonas 2006.
  106. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 85.
  107. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 56.
  108. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 38.
  109. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 39.
  110. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 92.
  111. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 104–05.
  112. ^ Arendt-Stern 1932.
  113. ^ a b Young-Bruehl 2004, tr. 93.
  114. ^ a b c d Young-Bruehl 2004, tr. xxxix.
  115. ^ Weil 1967.
  116. ^ Arendt 1931.
  117. ^ Weber 1978, tr. 493ff.
  118. ^ Swedberg & Agevall 2016, tr. 245–46.
  119. ^ Lazare 2016, tr. 8.
  120. ^ a b Momigliano 1980.
  121. ^ Arendt 1944.
  122. ^ Ray & Diemling 2016.
  123. ^ Arendt 1932a.
  124. ^ Rühle-Gerstel 1932.
  125. ^ Bagchi 2007.
  126. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 95–97.
  127. ^ Arendt & Jaspers 1992, tr. 52ff.
  128. ^ Heller 2015, tr. 62–64.
  129. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 102–04.
  130. ^ Arendt 1932b.
  131. ^ Arendt 1964.
  132. ^ Grunenberg 2017, tr. 133.
  133. ^ Arendt 2009a, tr. 22–28.
  134. ^ Goethe Institut 2011.
  135. ^ Arendt 2009a, tr. 22.
  136. ^ Heller 2015, tr. 63.
  137. ^ EWB 2010.
  138. ^ a b c Heller 2015, tr. 64.
  139. ^ a b c d Villa 2000, tr. xiv.
  140. ^ a b c Grunenberg 2017, tr. 136.
  141. ^ Vowinckel 2004, tr. 33.
  142. ^ Heller 2015, tr. 64–65.
  143. ^ Adelman 2016.
  144. ^ Maier-Katkin 2010a, tr. 90–91.
  145. ^ Grunenberg 2017, tr. 135.
  146. ^ Cullen-DuPont 2014, tr. 16–17.
  147. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 137–39.
  148. ^ Whitfield 1998.
  149. ^ Brocke 2009a.
  150. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 91.
  151. ^ Azria 1987.
  152. ^ Zohn 1960.
  153. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 149.
  154. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 139.
  155. ^ Kippenberger 1936, tr. 1185 n. 110.
  156. ^ Weber et al 2014, tr. 1392 n. 343.
  157. ^ a b Young-Bruehl 2004, tr. 152.
  158. ^ a b Bernstein 2013, tr. 71.
  159. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 155.
  160. ^ Heller 2015, tr. 72–73.
  161. ^ Vowinckel 2004, tr. 38.
  162. ^ Heller 2015, tr. 73.
  163. ^ Tavares 2018.
  164. ^ Paula 2018.
  165. ^ Moreira 2017.
  166. ^ Teixeira 2006.
  167. ^ Heller 2015, tr. 73–74.
  168. ^ Bernstein 2013, tr. 72–73.
  169. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 164.
  170. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 166.
  171. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 168.
  172. ^ Arendt 1942.
  173. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 196.
  174. ^ Baron 2007.
  175. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 186–87.
  176. ^ a b Herman 2008.
  177. ^ a b Bird 1975a.
  178. ^ Howe 2013.
  179. ^ Miller 2017.
  180. ^ Rubin, Gil (tháng 8 năm 2015). “From Federalism to Binationalism: Hannah Arendt's Shifting Zionism”. Contemporary European History. Cambridge University Press. 24 (3): 393–413, 414. doi:10.1017/S0960777315000223. JSTOR 26294065. S2CID 159871596 – qua JSTOR.
  181. ^ Arendt 1950.
  182. ^ Swift 2008, tr. 12.
  183. ^ Sznaider 2006.
  184. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 188.
  185. ^ Arendt 1976.
  186. ^ Arendt 2013.
  187. ^ Arendt 2006.
  188. ^ Young-Bruehl 2004, tr. xii.
  189. ^ Arendt & McCarthy 1995.
  190. ^ Pfeffer 2008.
  191. ^ Arendt 1975a.
  192. ^ Most 2017, tr. 5757.
  193. ^ Heller 2015, tr. 109.
  194. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 459.
  195. ^ Young-Bruehl 2004, tr. 468.
  196. ^ Bird 1975b.
  197. ^ Young-Bruehl 2004, tr. xlviii, 469.
  198. ^ Arendt 1992, tr. 4.
  199. ^ Young-Bruehl 2004, tr. xxxviii.
  200. ^ Arendt 1961.
  201. ^ Arendt 1968.
  202. ^ Arendt 1972.
  203. ^ Arendt 2006a.
  204. ^ Heller 2015, tr. 1–32.

Thư mụcSửa đổi

Bài viết (tập san và biên bản hội thảo)Sửa đổi

Rahel VarnhagenSửa đổi

Ấn bản đặc biệt và biên bản hội thảoSửa đổi

Thính thịSửa đổi

Sách và chuyên khảoSửa đổi

Tự truyện và tiểu sửSửa đổi

Công trình phê phánSửa đổi

Lịch sửSửa đổi

Đóng góp học thuậtSửa đổi

Từ điển và bách khoa thưSửa đổi

Tạp chíSửa đổi

Báo chíSửa đổi

Luận vănSửa đổi

Trang webSửa đổi

Thư mục, phả hệ và dòng thời gianSửa đổi

xem thêm: Principal Dates trong Arendt (2000, tr. lv–lvii)

Viện, địa điểm và tổ chứcSửa đổi

Trung tâm Hannah Arendt (Bard)Sửa đổi

Bản đồSửa đổi

Ảnh bên ngoàiSửa đổi

Chú thích tiểu sửSửa đổi

  1. ^ Đề tựa ấn bản lần thứ nhất: ix–xxv; Đề tựa ấn bản thứ hai: ix–xxxvi, Đề tựa xxxvii–l

Liên kết ngoàiSửa đổi