Mở trình đơn chính

Thân thếSửa đổi

Ông xuất thân trong gia tộc Nạp Lan thị hay còn gọi là Diệp Hách Na Lạp thị thuộc Mãn Châu Chính Hoàng kỳ. Gia tộc Nạp Lan thị xuất thân hiển hách - gia tộc và Hoàng gia có quan hệ thân thích. Vì ông là cháu nội của Kim Đài Cát chính là Diệp Hách Bộ Bối lặc cuối cùng, Kim Đài Cát cũng là anh trai của Hiếu Từ Cao Hoàng hậu - là thân mẫu của Thanh Thái Tông Hoàng Thái Cực.

Ông là con trai của Ngưu Lục Thạch Thật (牛录额真) và chú của Huệ phi Nạp Lan thị, mẹ của Dận Thì - Trưởng tử của Khang Hi Đế. Bởi vì bà là con gái Chính ngũ phẩm Lang trung Tác Nhĩ Hòa (索爾和), dòng họ bà là hậu duệ của Diệp Hách Bối lặc Kim Đài Cát. Con trai thứ của Kim Đài Cát, tức Đức Nhĩ Khách Nhĩ (德尔格尔), là tổ phụ của bà. Cha của ông tên Ngưu Lục Thạch Thật (牛录额真), con trai khác của Kim Đài Cát, nên xét tính ra thì ông cùng Tác Nhĩ Hòa là hai anh em họ cùng ông nội (Kim Đài Cát).

Làm quanSửa đổi

Năm Khang Hi thứ 5 (1666), ông đỗ Tiến sĩ (学士), được tham dự quốc chính.

Năm Khang Hi thứ 7(1668), nhậm Hình bộ Thượng thư (刑部尚书).

Năm Khang Hi thứ 9 (1670), ông được chuyển sang làm Đô Sát viện Tả đô Ngự sử (都察院左都御史).

Năm Khang Hi thứ 11 (1672), ông được phong làm Binh bộ Thượng thư (兵部尚书) kiêm Văn Hoa điện Đại học sĩ (文花殿大学士). Cùng năm này, ông cùng với Mễ Tư Hàn, Mạc Lạc, Trần Đình Tính ủng hộ chủ trương triệt phiên nhưng bị Khang Hi Đế từ chối.

Năm Khang Hi thứ 14 (1675), nhậm Lại bộ Thượng thư (吏部尚书).

Năm Khang Hi thứ 16 (1677), nhậm Võ Anh điện Đại học sĩ (武英殿大学士), gia hàm Thái tử Thái sư (太子太师).

Năm Khang Hi thứ 28 (1689), ông chủ trương thu phục Đài Loan và được Khang Hi giao trọng trách chiến lược bình Đài cùng với Diêu Khải Thánh, Thi Lang, Lý Quang Địa.

Năm Khang Hi thứ 33 (1694), ông được phong hàm Thái tử Thái bảo Nhất đẳng công, uy vọng của ông lúc bấy giờ có thể nói là cao trong triều, ngang hàng với Sách Ngạch Đồ.

Năm Khang Hi thứ 40 (1701), ông bị Lý Quang Địa vạch tội nhận hối lộ. Sau đó, ông bị bắt và tước hết mọi chức vụ tước vị, bị giam trong ngục cho đến chết. Khi biết tin ông qua đời, Khang Hi Đế phái Hoàng tam tử Dận Chỉ đến tế điện.

Dưới thời Khang Hi, ông và Sách Ngạch Đồ đều có xuất thân cao quý từ Mãn Châu Chính Hoàng kỳ và uy vọng gia tộc của cả hai người cũng vô cùng hiển hách, nên ông và Sách Ngạch Đồ thường hay tranh đấu trong triều. Vì thế Sách Ngạch Đồ và Nạp Lan Minh Châu có vị thế ngang bằng nhau, chèn ép lẫn nhau, bách tính Bắc Kinh vì thế chế ra ca dao: "trời muốn bình, giết Lão Minh; trời muốn an, giết Sách Tam". Sử sách ghi rằng ông ngoài mặt là người khiêm tốn, nhưng lại lợi dụng sự tín nhiệm của Khang Hi Đế mà độc tài triều chính, tham tài nhận hối lộ, bán quan bán tước, do đó sau này ông không còn được Khang Hi Đế trọng dụng nữa.

Gia quyếnSửa đổi

Cha mẹSửa đổi

  • Ngưu Lục Thạch Thật (牛录额真) (? - ?).

Cháu gáiSửa đổi

  • Huệ phi Nạp Lan thị (? - 1732), phi tần của Khang Hi Đế.
  • Kế Phúc tấn của Trịnh Hiến Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng.
  • Tô Thái, Tam Phúc tấn của Trịnh Hiến Thân vương Tế Nhĩ Cáp Lãng.

Phúc tấnSửa đổi

  • Ái Tân Giác La thị (1637 - 1694), con gái thứ 5 của Anh Thân vương A Tế Cách.

Hậu duệSửa đổi

Con traiSửa đổi

  1. Nạp Lan Tính Đức (纳兰性德; 1656 - 1677): Đại học sĩ dưới thời Khang Hi.
  2. Nạp Lan Quỹ Tự (纳兰揆叙; 1674 - 1717): nghênh thú con gái của Hòa Thạc Ngạch phò Cảnh Tụ Trung và Hòa Thạc Nhu Gia Công chúa (con gái nuôi của Thuận Trị Đế).
  3. Nạp Lan Quỹ Phương (纳兰揆方; 1680 - 1708): nghênh thú Hòa Thạc Quận chúa Ái Tân Giác La Thục Thận (con gái thứ 8 của Khang Lương Thân vương Kiệt Thư), sinh ra Nạp Lan Vĩnh Thụy.

Con gáiSửa đổi

  1. Trưởng nữ, được gả cho Nhất đẳng bá Lý Thiên Bảo (李天保).
  2. Thứ nữ, được gả cho Ôn Quận vương Duyên Thụ (延綬).

CháuSửa đổi

  • Thị lang Nạp Lan Vĩnh Thụy (納蘭永綬; 1702 - 1731): có con gái là Thư phi của Thanh Cao Tông Càn Long.

Tham khảoSửa đổi