Mở trình đơn chính

Phan Trọng Tuệ

Thiếu tướng Việt Nam

Phan Trọng Tuệ (19171991) là một tướng lĩnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam với quân hàm Thiếu tướng và là Tư lệnh đầu tiên của Lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang; nguyên là Phó Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1974–1975), Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.

Phan Trọng Tuệ
Thiếu tướng QĐNDVN Phan Trọng Tuệ.jpg
Chức vụ
Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (lần 2)
Nhiệm kỳ1976 – 7 tháng 2 năm 1980
Tiền nhiệmDương Bạch Liên
Kế nhiệmĐinh Đức Thiện
Nhiệm kỳ28 tháng 3 năm 1974 – tháng 7 năm 1976
Thủ tướngPhạm Văn Đồng
Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (lần 1)
Nhiệm kỳtháng 2 năm 1960 – 28 tháng 3 năm 1974
Tiền nhiệmNguyễn Văn Trân
Kế nhiệmDương Bạch Liên
Thông tin chung
Sinh(1917-07-07)7 tháng 7, 1917
Sài Sơn, Quốc Oai, Sơn Tây , Bắc Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất18 tháng 12, 1991(1991-12-18) (74 tuổi)
Thành phố Hồ Chí Minh
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam

Tóm tắt quá trình hoạt độngSửa đổi

Phan Trọng Tuệ sinh ngày 7 tháng 7 năm 1917, quê ở Thôn Đa Phúc, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây (nay thuộc Hà Nội); tham gia cách mạng từ những năm 1930. Năm 1934, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương.

Từ năm 1939 đến năm 1940, ông làm Bí thư tỉnh ủy Sơn TâyHà Đông; phụ trách Liên tỉnh Hà Nội - Hà Đông - Sơn Tây.

Năm 1943, ông bị thực dân Pháp bắt, kết án 27 năm tù và đày đi Côn Đảo.

Cách mạng tháng 8 năm 1945, ông được giải thoát và công tác trong Ban trật tự Côn Đảo rồi trở về đất liền.

Hoạt động trong các lực lượng vũ trangSửa đổi

Sau đó ông làm Thanh tra kháng chiến Hậu Giang, Ủy viên liên tỉnh ủy (gồm 10 tỉnh miền Tây Nam Bộ); Chính ủy Khu 9.

Từ tháng 12 năm 1948 đến năm 1950, ông làm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn; Chính ủy Khu 7; Thanh tra Bộ Tư lệnh Nam Bộ. Từ năm 1952 đến năm 1954, ông làm Tư lệnh, sau đó Phó Tư lệnh kiêm Chính ủy Phân Liên khu miền Tây Nam Bộ.

Từ tháng 8 năm 1954, ông làm Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Nam Bộ rồi Phó Trưởng đoàn Liên hiệp đình chiến Trung ương, hàm Đại tá. Năm 1955, ông được thăng quân hàm Thiếu tướng theo Sắc lệnh 243/SL ngày 3 tháng 11 năm 1955 của Chủ tịch nước [1].

Tháng 3 năm 1957, ông làm Phó Tổng Thanh tra Quân đội.

Năm 1958, ông được bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Công an, phụ trách lực lượng Cảnh vệ. Khi lực lượng Công an Nhân dân vũ trang được thành lập, ông được cử làm Tư lệnh kiêm Chính ủy đầu tiên của Lực lượng Công an Nhân dân Vũ trang.

Hoạt động trong ngành Giao thông vận tảiSửa đổi

Năm 1961, ông làm Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải.[1]

Năm 1965, ông được cử vào tuyến chiến lược Trường Sơn, làm Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 có quy mô tương đương một quân khu.

Năm 1968, ông làm Tư lệnh Bộ Tư lệnh đảm bảo giao thông vận tải Quân khu 4.

Từ tháng 3 năm 1974 đến 1975, ông thôi giữ Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải để làm Phó Thủ tướng, kiêm Thường trực Hội đồng Chi viện giải phóng miền Nam. Người kế nhiệm ông ở chức Bộ trưởng Giao thông Vận tải là Thứ trưởng thường trực Dương Bạch Liên (3 - 1974 đến 1976).

Năm 1976 đến tháng 2 năm 1980, ông làm Bộ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải lần thứ hai kiêm Bí thư Đảng đoàn Bộ.

Ông từng giữ chức Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt Nam - Cam Pu Chia.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa IIIIV; đại biểu Quốc hội từ khóa II đến khóa VI.

Ngày 18 tháng 12 năm 1991, vì bệnh nặng, ông qua đời tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Tôn vinhSửa đổi

Gia đìnhSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi