Mở trình đơn chính

Osama bin Mohammed bin Awad bin Laden ( /ˈsɑːmə bɪn mˈhɑːmɪd bɪn əˈwɑːd bɪn ˈlɑːdən/, tiếng Ả Rập: أسامة بن محمد بن عوض بن لادن‎, ʾUsāmah bin Muḥammad bin ʿAwaḍ bin Lādin, thường được gọi Osama bin Laden hay Usama bin Laden; 10 tháng 3 năm 19572 tháng 5 năm 2011) là một trùm khủng bố theo đạo Hồi chính thống và là người sáng lập ra tổ chức vũ trang al-Qaeda, là một trong số 10 đối tượng bị FBI truy nã toàn cầu. Chính quyền Mỹ treo giải thưởng 25.000.000 USD để lấy tính mạng, sau cái chết của Zarqawi.[5]

Usāmah bin Muḥammad bin `Awaḍ bin Lādin
(tiếng Ả Rập: أسامة بن محمد بن عوض بن لادن‎)
Osama bin Laden portrait.jpg
Chân dung Osama bin Laden
SinhOsama bin Mohammed bin Awad bin Laden
(1957-03-10)10 tháng 3, 1957
Riyadh, Ar Riyād, Ả Rập Xê Út
Mất2 tháng 5, 2011(2011-05-02) (54 tuổi)
Abbottabad, Pakistan 34°10′9″B 73°14′33″Đ / 34,16917°B 73,2425°Đ / 34.16917; 73.24250
Nguyên nhân mấtBị ám sát
Nơi an nghỉBiển Ả Rập
Quốc tịchSaudi Arabian (1957–1994)
None (Stateless) (1994–2011)[1]
Nghề nghiệplãnh đạo al-Qaeda
Năm hoạt động1979–2011
Kế nhiệmAyman al-Zawahiri[2]
Tôn giáoSunni Islam (Qutbism)[3][4]
Vợ/chồngNajwa Ganhem
Khadijah Sharif
Khairiah Sabar
Siham Sabar
Amal Ahmed al-Sadah
Con cái

Dấu hiệu quan hệ giữa bin Laden và al-Qaeda là hàng loạt vụ tấn công khủng bố trên toàn thế giới, mà vụ phá hoại khủng khiếp nhất là sự kiện khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 tấn công vào Thành phố New York và thủ đô Washington, giết chết ít nhất 2.992 người. Bên cạnh tấn công khủng bố, nhiều tổ chức Hồi giáo đã liên kết với Al Qaeda. Trong một cuốn băng phát đi sau vụ tấn công tháng 11 của bin Laden, hắn ta chính thức tuyên bố chống lại phương Tây và đặc biệt là Mỹ. Bên cạnh khủng bố, bin Laden còn là một nhà thơ.[6]

Kể từ năm 2001, Osama bin Laden và al-Qaeda từng là mục tiêu quan trọng của Chiến tranh chống khủng bố của Hoa Kỳ. Quân đội nghi ngờ rằng bin Laden và các thủ lĩnh al-Qaeda trốn gần biên giới AfghanistanCác khu vực Hành chính Bộ lạc Liên bang của Pakistan. Ngày 1 tháng 5 năm 2011, Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama tuyên bố trên truyền hình toàn nước Mỹ rằng cùng ngày đó bin Laden bị quân Mỹ giết chết tại Abbottabad, Pakistan[7].[8] Xác chết của y bị nhấn chìm xuống biển, sau khi đã hỏi ý kiến chính quyền Ả Rập Xê Út[9].

Tiểu sửSửa đổi

Osama bin Mohammed bin Awad bin Laden sinh ra tại Riyadh, Ả Rập Xê Út,[10] là con trai của Mohammed bin Awad bin Laden, một ông trùm tỉ phú về xây dựng của Tập đoàn Bin Laden có mối quan hệ mật thiết với gia đình hoàng gia Ả Rập Xê Út như vua Abdul-Aziz và Bộ trưởng Tài chính Abdullah Suleiman,[11] với người vợ thứ 10, Hamida al-Attas (còn gọi là Alia Ghanem).[12] Trong một cuộc phỏng vấn năm 1998, bin Laden cho biết ngày sinh của ông là vào ngày 10 tháng 3 năm 1957.[13] Cha của bin Laden qua đời trong một tai nạn máy bay vào năm 1967, hưởng thọ 61 tuổi.

Gia đình và thời niên thiếuSửa đổi

Mohammed bin Laden ly dị với Hamida ngay sau khi Osama bin Laden chào đời. Mohammed tiến cử vợ cho Mohammed al-Attas, một người cộng sự của mình. Al-Attas kết hôn với Hamida vào cuối những năm 50 hay đầu những năm 60 và hiện vẫn đang chung sống.[14] Cặp đôi này có bốn con và bin Laden sống trong gia đình mới với 3 người anh cùng mẹ khác cha và 1 em gái.[12] Gia đình bin Laden đã thu được $5 tỉ trong ngành công nghiệp xây dựng, mà về sau ông cũng được thừa kế khoảng $25–30 triệu.[15]

Bin Laden được giáo dục như một Tín đồ Hồi giáo sùng đạo theo chủ nghĩa Wahhabi.[16] Từ 1968 đến 1976, học cấp 2 tai trường Al-Thager Model School.[12][17] Bin Laden học ngành Quản trị kinh doanh [18] tại Đại học King Abdulaziz, Jeddah. Vài báo cáo đề cập đến việc Bin Laden đã nhận bằng cử nhân ngành xây dựng vào năm 1979,[19] hoặc một tấm bằng cho ngành hành chính công vào năm 1981.[20] Một nguồn khác mô tả ông là một người chăm chỉ,[21] số khác cho rằng ông bỏ dở sau 3 năm khi chưa hoàn thành chương trình.[22]

Ở đại học, sở thích chính của bin Laden là tín ngưỡng, ở đó ông bị thu hút bởi cái gọi là "hiểu thấu Quranjihad" và công việc từ thiện.[23] Những sở thích khác bao gồm làm thơ;[24] đọc sách, ngoài ra Bernard MontgomeryCharles de Gaulle còn tiết lộ thêm những sở thích của Osama như cưỡi ngựa một cách thuần thục, chơi bóng đá cũng rất tốt và thường là ở vị trí tiền đạo, cùng với việc hâm mộ câu lạc bộ bóng đá của Anh là Arsenal F.C.. Và ngoài ra Osama cũng rất giỏi về toán học.[25]

Hình thành ý thức hệSửa đổi

Khi theo học Đại học King Abdul Aziz, Osama đã gặp Sheik Abdallah Azzam là người đã hướng Osama vào con đường tôn giáo và chính trị phức tạp của cộng đồng Ả Rập.

Vào khoảng cuối 1979, Osama sang Pakistan, bắt đầu từ công việc hậu cần, tài trợ tiền, xây dựng trường học, nhà ở cho dân tị nạn Afghanistan ở Pakistan, và khuếch trương hình ảnh, uy tín từ đó, tạo nên một danh tiếng là người lương thiện và khả kính trong cộng đồng Afghanistan.

Khoảng giữa thập niên 1980, Osama chuyển sang sống ngay tại Afghanistan, điều hành việc xây dựng đường sá, đào hệ thống hầm trú ẩn cho các phiến quân Hồi giáo hay còn gọi là các mujahadeen – những người đang chống lại Liên Xô. Tại Afghanistan, Osama đã đóng góp tài chính phát triển tổ chức Maktab Al-Khidamat (MAK), là một tổ chức tuyển dụng nhân sự nhằm kiếm tài chính cho các tổ chức từ thiện Hồi giáo trên khắp thế giới.

Quan hệ với Hoa KỳSửa đổi

Một số cáo buộc cho rằng Osama bin Laden đã nhận được sự hỗ trợ đáng kể từ CIA trong thời kỳ này, thậm chí được chính CIA đào tạo. Tuy vậy trên thực tế sự trợ giúp của chính phủ Hoa Kỳ cho nhóm Mujahideed Afghanistan bản xứ không nhiều, và sự tham dự của Osama bin Laden vào cuộc xung đột không liên quan tới các chương trình của CIA [26]. Nhiều học giả và phóng viên đã gọi những cáo buộc cho rằng Al Qaeda từng được CIA hậu thuẫn là "hoàn toàn vô nghĩa",[27] "hoàn toàn tưởng tượng" [28], và "đơn giản chỉ là một câu chuyện hoang đường" [29]. Theo nhà báo Peter Bergen của CNN, người từng thực hiện cuộc phỏng vấn trên truyền hình đầu tiên với Osama bin Laden vào năm 1997 thì "bin Laden có nguồn tài chính riêng của mình, ông ta chống Mỹ, ngoài ra ông ta hoạt động hoàn toàn bí mật và độc lập" [29]. Một học giả tên là Steve Coll, người từng viết một cuốn sách về cuộc chiến tranh Liên Xô-Afghanistan có tên "Ghost War" thì cho biết: "bin Laden hoạt động dưới sự che chở của tình báo Ả Rập Xê Út, nằm ngoài tầm ảnh hưởng của CIA. Các tài liệu lưu trữ của CIA không có hồ sơ về bất kỳ mối liên hệ trực tiếp nào giữa một sĩ quan CIA với bin Laden trong những năm 1980" [30]. Vincent Cannistraro, người đã lãnh đạo Nhóm Công tác Afghanistan của chính quyền Reagan từ năm 1985 đến 1987 thì cho biết Milton Bearden, Giám đốc của CIA trong thời kỳ này, đã từng nhấn mạnh với ông rằng CIA hoàn toàn không liên quan gì đến bin Laden. Bản thân Cannistraro khi điều phối các chính sách liên quan đến Chiến tranh Afghanistan của chính quyền Tổng thống Reagan cũng chưa bao giờ nghe đến cái tên bin Laden [31]. Phóng viên của đài Fox News là Richard Miniter đã từng tiến hành phỏng vấn với hai cựu giám đốc của CIA là Bill Peikney và Milt Bearden cũng kể lại rằng: "Cả hai đều thẳng thừng phủ nhận rằng bất kỳ khoản tiền nào của CIA đã từng đến tay bin Laden. Họ tỏ ra rất chắc chắn về điều này đến nỗi họ đồng ý cho tôi xem các hồ sơ từ thời đó, một động thái bất thường của các sĩ quan tình báo vốn thường xuyên kín đáo. Ông Peikney còn nói thêm trong một bức e-mail rằng: Tôi [Peikney] chưa từng nhìn thấy cái tên UBL [bin Laden] xuất hiện trên màn hình khi còn làm việc ở đó [CIA]" [32]. Trên thực tế có hai phong trào nổi dậy hoàn toàn riêng biệt tại Afghanistan chống lại Liên Xô, họ chỉ thống nhất với nhau bởi một kẻ thù chung là chủ nghĩa cộng sản. Một phong trào được tài trợ bởi Ả Rập Saudi và các quốc gia vùng Vịnh và bao gồm các phần tử Hồi giáo cực đoan di cư đến Afghanistan từ khắp thế giới Hồi giáo, họ tự gọi mình là người Ả Rập Afghanistan, Osama bin Laden nằm trong số những phần tử này. Trong khi đó, nguồn tài trợ của Hoa Kỳ đã được dành riêng cho phong trào nổi dậy của những nhóm người khác trong xã hội Afghanistan, bao gồm những người Afghanistan bản địa. Milt Bearden cũng nói rằng: Tôi đố bất cứ ai đưa ra bất kỳ bằng chứng nào cho thấy chúng tôi [CIA] đã cung cấp dù chỉ một USD cho bất kỳ người Ả Rập Afghanistan nào, chứ đừng nói đến bin Laden [32].

Một bài viết từ trang web của Đại sứ quán Hoa Kỳ tuyên bố rằng Hoa Kỳ chưa từng có quan hệ với Osama bin Laden: "Hoàn toàn không có cơ sở khi nói rằng CIA và người Ả Rập Afghanistan đã từng có mối liên hệ với nhau. Người Ả Rập Afghanistan hoạt động độc lập và có nguồn tài trợ riêng. CIA không cần người Ả Rập Afghanistan, và người Ả Rập Afghanistan cũng không cần CIA. Vì vậy, quan điểm cho rằng Cơ quan Tình báo Trung ương tài trợ và đào tạo người Ả Rập Afghanistan là hoàn toàn sai lầm[33]

Marc Sageman, một nhân viên đối ngoại, người từng công tác tại Islamabad từ năm 1987- 1989, và từng hợp tác chặt chẽ với các chiến binh Mujahideen của Afghanistan tuyên bố rằng không có bất kỳ khoản tiền nào của Mỹ được chuyển cho quân tình nguyện nước ngoài, và người Ả Rập Afghanistan cũng hoàn toàn không phải ngoại lệ [28].

Nhân vật đứng thứ hai của tổ chức Al Qaeda, Ayman al-Zawahiri, cũng xác nhận rằng những người Ả Rập Afghanistan không nhận được bất kỳ khoản tài trợ nào của Mỹ trong cuộc chiến ở Afghanistan. Trong cuốn sách có tên là Knights Under the Prophet's Banner, được xuất bản vào tháng 12 năm 2001, al-Zawahiri nói rằng người Ả Rập Afghanistan được tài trợ bằng tiền từ các nguồn Ả Rập, số tiền này đến hàng trăm triệu USD: "Trong khi Hoa Kỳ ủng hộ Pakistan và phe phái mujahidin bằng tiền bạc và vũ khí, mối quan hệ của người Ả Rập Afghanistan với Hoa Kỳ lại hoàn toàn khác..." [33]. Abdullah Anas, người Algérie, một trong những phần tử khủng bố người Ả Rập Afghanistan và là con rể của Abdullah Azzam (một trong những người sáng lập của Al Qaeda), cũng đã xác nhận rằng CIA không hề có mối quan hệ nào với người Ả Rập Afghanistan, bao gồm cả Osama bin Laden: "Nếu bạn nói rằng đã từng có một mối quan hệ theo nghĩa là CIA đã từng gặp người Ả Rập, thảo luận với họ, chuẩn bị kế hoạch với họ và chiến đấu với họ - thì điều đó chưa bao giờ xảy ra[33].

Tuy nhiên, Sir Martin Ewans lại cho rằng: "(Al-Qaeda) đã được hưởng lợi gián tiếp từ nguồn tài trợ của CIA, thông qua ISI (tình báo Pakistan) và các tổ chức thánh chiến", bởi vũ khí mà Pakistan cấp cho họ vốn lấy từ viện trợ Mỹ[34], và rằng "có thể cho rằng có tới 35.000 'quân người Ả Rập Afghanistan' ở Pakistan với chi phí ước tính 800 triệu đô la trong những năm tới và kể cả năm 1988." Một số người hưởng lợi lớn nhất của CIA chính là các chỉ huy Ả Rập như Haqqani và Hekmatyar, vốn là đồng minh chủ chốt của Bin Laden trong nhiều năm qua[35][36]. Haqqani là một trong những cộng sự thân cận nhất của bin Laden trong thập niên 1980, đã nhận được các khoản thanh toán trực tiếp từ các đặc vụ CIA, mà không qua trung gian của ISI. Nguồn tài trợ độc lập này đóng một vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển của al Qaeda, với việc Jalalhuddin Haqqani cho phép bin Laden đào tạo các tình nguyện viên Mujahideen trên lãnh thổ của Haqqani và xây dựng cơ sở hạ tầng rộng lớn ở đó[37].

Trang tin tức News One (Pakistan) cáo buộc Hoa Kỳ đã tài trợ cho Gulbuddin Hekmatyar, một nhà lãnh đạo mujahideen và được cho là kẻ buôn bán heroin, và cũng là đồng minh chặt chẽ với Bin Laden. Hekmaytyar và nhóm bán quân sự của ông ta nhận được hơn 600 triệu đôla từ Hoa Kỳ. Tác giả Alfred McCoy tuyên bố rằng CIA đã hỗ trợ Hekmatyar trong việc buôn bán heroin bất hợp pháp để cho phép anh ta tài trợ cho mujahideen. Giống như Bin Laden, Hekmatyar cũng đã trở thành kẻ thù của Hoa Kỳ, tiến hành một cuộc chiến chống lại lực lượng Hoa Kỳ ở Afghanistan sau năm 2001. CIA cũng đã huấn luyện quân Mujahideen trong nhiều chiến thuật mà Al-Qaeda sử dụng sau này, như xe hơi mang bom, ám sát và các hành động khác mà ngày nay sẽ bị coi là khủng bố[38].

Một bài viết trên tờ The Guardian cho rằng Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã giúp Osama bin Laden xây dựng một trại huấn luyện ngầm tại Khost, nơi bin Laden sử dụng để huấn luyện binh lính Mujahideen.[39]

Trong một bài viết năm 2004 có tên "Nguồn gốc và liên kết của Al-Qaeda", đài BBC (Anh) viết rằng: "Trong cuộc chiến chống Liên Xô, Bin Laden và các chiến binh của ông đã nhận được tài trợ của Mỹ và Ả Rập Saudi. Một số nhà phân tích tin rằng chính Bin Laden đã được đào tạo về an ninh từ CIA".[40]

Robin Cook, Bộ trưởng Ngoại giao Anh từ năm 1997 tới 2001, tin rằng CIA đã cung cấp vũ khí cho người Hồi giáo Ả Rập, bao gồm cả Osama bin Laden, "Tuy nhiên, Bin Laden là sản phẩm của một tính toán sai lầm to lớn của các cơ quan an ninh phương Tây. Thập niên 1980, ông được CIA trang bị vũ khí và được Ả Rập Saudi tài trợ để tiến hành chiến tranh chống lại sự chiếm đóng của người Nga ở Afghanistan". Al-Qaeda, nghĩa đen là "cơ sở dữ liệu", ban đầu là một tập tin máy tính gồm hàng ngàn người Hồi giáo được tuyển dụng và huấn luyện với sự giúp đỡ từ CIA để đánh bại người Nga. Dường như chưa bao giờ Hoa Kỳ ngờ được rằng, một khi người Nga tránh sang một bên, tổ chức của Bin Laden sẽ hướng sự chú ý về phương tây.[41]

Nhà báo người Pakistan Ahmed Rashid thì cáo buộc CIA đã ủng hộ một sáng kiến của ​​ISI (tình báo Pakistan) nhằm tuyển mộ những người Hồi giáo cực đoan từ khắp nơi trên thế giới đến Pakistan và chiến đấu cho quân Mujaheddin của Afghanistan. Từ năm 1982 đến 1992, khoảng 35.000 người Hồi giáo cực đoan từ 43 quốc gia Hồi giáo ở Trung Đông, Bắc và Đông Phi, Trung Á và Viễn Đông đã tới Afghanistan, trong đó có Bin Laden, khi đó chỉ là một sinh viên trẻ[42]

William Jasper đã viết 1 bài báo năm 1998 về "bin Laden và những kẻ khủng bố do người Mỹ tạo ra" cho tạp chí The New American. Theo Alex Newman, bin Laden đã từng là một "người bạn tốt" của chính phủ Hoa Kỳ, và theo nhiều cách, ông ta thậm chí có thể được coi là một sản phẩm của các quan chức Mỹ và các đồng minh của họ[43].

Trong cuộc trò chuyện với cựu Bộ trưởng Quốc phòng Anh Michael Portillo, Thủ tướng Pakistan là Benazir Bhutto nói Osama bin Laden ban đầu là người thân Mỹ.[44] Hoàng tử Bandar bin Sultan của Ả Rập Saudi, cũng đã tuyên bố rằng bin Laden từng bày tỏ sự đánh giá cao sự giúp đỡ của Hoa Kỳ ở Afghanistan. Trong chương trình Larry King của CNN, ông nói:[45]

Bandar bin Sultan: Điều này thật mỉa mai. Vào giữa thập niên 80, nếu anh còn nhớ, chúng tôi - Ả Rập Xê Út và Hoa Kỳ đã hỗ trợ Mujahideen giải phóng Afghanistan khỏi Liên Xô. Ông ta [Osama bin Laden] đã đến cảm ơn tôi vì những nỗ lực của tôi để đưa tới người Mỹ, bạn bè của chúng ta, giúp chúng ta chống lại những kẻ vô thần (ám chỉ những người cộng sản). Không phải là mỉa mai sao?

Larry King: Thật mỉa mai. Nói cách khác, ông ta (Bin Laden) đến để cảm ơn ngài vì đã mang nước Mỹ đến giúp đỡ ông ấy.

Bandar bin Sultan: Đúng thế.[46]

Bản thân Osama bin Laden đã hơn một lần phủ nhận việc ông ta từng nhận được sự hậu thuẫn từ Hoa Kỳ, và việc Liên Xô tan rã theo ông ta "là nhờ có Chúa trời và các chiến binh mujahideen ở Afghanistan... Hoa Kỳ không có vai trò đáng chú ý nào", nhưng "sự sụp đổ [của Liên Xô] đã khiến Mỹ trở nên kiêu căng và ngạo mạn hơn"[47]. Trong cuộc phỏng vấn với nhà báo Anh Robert Fisk vào năm 1993, về sau được tổng hợp thành một bài báo đăng lên tờ Independent của Anh với tựa đề: "Anti-Soviet warrior puts his army on the road to peace", Osama bin Laden đã tuyên bố rằng: "Cá nhân tôi cũng như những người anh em của tôi đều không thấy bất cứ dấu hiệu nào về sự giúp đỡ của người Mỹ" [48]. Trong một cuộc phỏng vấn khác với Robert Fisk vào tháng 7 năm 1996 và sau đó được đăng lên báo Independent vào năm 1997, bin Laden lại một lần nữa nhấn mạnh rằng ông ta chưa từng hợp tác với Mỹ: "chúng tôi chưa bao giờ là bạn của người Mỹ. Chúng tôi vào thời điểm đó đã biết rằng người Mỹ ủng hộ người Do TháiPalestine và họ là kẻ thù của chúng tôi [49].

Hoạt độngSửa đổi

tổ chức khủng bố quy mô lớn,đào tạo phiên quân,khủng bố tòa tháp đôi, làm thiệt mạng rất người dân vô tội,chỉ đạo khủng bố,phá hoại tại sản thế giới

Nhận dạngSửa đổi

FBI mô tả Osama là một người đàn ông khá cao khoảng 1m93 - 1m98, nặng khoảng 75kg, da ngăm nâu màu ô liu, thuận tay trái, hay sử dụng gậy chống (en:cane) trong đi lại.[50]

Vợ conSửa đổi

Bài chi tiết: Gia đình Bin Laden

Osama bin Laden có năm vợ, trong đó có hai người đã ly dị,

  1. Najwa Ghanem: sinh năm 1961, là em họ (con của cậu) và là vợ đầu tiên (cưới năm 1974), có với Osama bin Laden 11 con
  2. Abdallah Osama bin Laden (Abdallah bin Osama bin Muhammad bin 'Awad bin Laden): sinh năm 1976
  3. Saad bin Laden (Sa'd bin Osama bin Muhammad bin 'Awad bin Laden) sinh 1979
  4. Omar Osama bin Laden (Omar bin Osama bin Muhammad bin 'Awad bin Laden): sinh năm 1981, là người đứng ra nhận làm đại sứ vì hòa bình[51] và là người có bà vợ thứ hai Jane Felix-Browne (Zaina Mohamed Al-Sabah) lớn hơn 24 tuổi, đã từng có 5 đời chồng[52]
  5. Muhammad bin Laden: sinh năm 1983, lấy con của Mohammed Atef, một thủ lĩnh al-Qaida năm 2001
  6. Umm Hamza, giáo sư tâm lý trẻ em, được cho là vợ ưa thích nhất của bin Laden. Bà cũng là bà vợ già nhất và hơn bin Laden tới 7 tuổi. Mặc dù có cơ thể mảnh dẻ và yếu ớt cũng như sắc đẹp khiêm tốn, bà xuất thân từ một gia đình "cao quý và giàu có", tỏa ra "những phẩm chất tốt của hoàng gia" và rất trung thành với lý tưởng tử vì đạo (jihad).[53]
  7. Umm Khaled, giáo viên ngữ pháp tiếng Arab (cả hai phụ nữ này đều tiếp tục làm việc tại trường đại học và thường xuyên tới Ả Rập hàng ngày để làm việc trong thời gian họ ở Sudan.[54]
  8. Umm Ali bin Laden, đã từng xin ly dị khi ở Sudan. Theo Abu Jandal, cận vệ trưởng cũ của bin Laden, bà vợ Umm Ali đã từng xin bin Laden ly dị vì theo lời bà là "bà không thể sống một cuộc sống quá cứng nhắc và khổ cực"[55]
    1. Ali,
    2. Hamza bin Laden (Hamza bin Osama bin Muhammad bin 'Awad bin Laden): sinh năm 1991, được cho là người có tham gia vào vụ ám sát bà Benazir Bhutto, cựu thủ tướng Pakistan.

Tham khảoSửa đổi

[56]

  1. ^ Dan Ackman. "The Cost Of Being Osama Bin Laden". 2001-09-14. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2011.
  2. ^ “Ayman al-Zawahiri appointed as al-Qaeda leader”. BBC News. Ngày 16 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2011. 
  3. ^ Osama Bin Laden (2007) Suzanne J. Murdico
  4. ^ Armstrong, Karen (ngày 11 tháng 7 năm 2005). “The label of Catholic terror was never used about the IRA”. The Guardian (London). 
  5. ^ Zarqawi chết, 25 triệu USD về tay ai?Tăng gấp đôi cái giá đầu bin Laden
  6. ^ Osama bin Laden là nhà thơ
  7. ^ Cooper, Helene (ngày 1 tháng 5 năm 2011). “Bin Laden dead, U.S. official says”. The New York Times (bằng tiếng Anh) (Công ty New York Times). Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011. President Obama said that on Sunday, a small team of U.S. operatives launched a "targeted assault" on a compound in the Pakistani city of Abbottabad where months of intelligence work had established that Mr. Bin Laden was living.  Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp); Đã định rõ hơn một tham số trong |author=|last= (trợ giúp)
  8. ^ “Lãnh tụ al-Qaeda Bin Laden 'đã chết'. BBC Việt ngữ. BBC. Ngày 2 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2011. 
  9. ^ Schmidle, Nicholas, "Getting Bin Laden", The New Yorker, ngày 8 tháng 8 năm 2011.
  10. ^ “Frontline: Hunting Bin Laden: Who is Bin Laden?: Chronology”. PBS. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  11. ^ David Johnson. “Osama bin Laden infoplease”. Infoplease. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  12. ^ a ă â Steve Coll (ngày 12 tháng 12 năm 2005). “Letter From Jedda: Young Osama- How he learned radicalism, and may have seen America”. The New Yorker. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  13. ^ “Osama bin Laden”. GlobalSecurity.org. Ngày 11 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  14. ^ “The Mysterious Death of Osama Bin Laden”. Ngày 3 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2011. 
  15. ^ The Economist, "Osama bin Laden", ngày 5 tháng 5 năm 2011, p. 93.
  16. ^ Beyer, Lisa (ngày 24 tháng 9 năm 2001). “The Most Wanted Man In The World”. Time. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  17. ^ Bergen 2006, tr. 52
  18. ^ Messages to the World: The Statements of Osama bin Laden, Verso, 2005, p. xii.
  19. ^ Encyclopedia of World Biography Supplement, Vol. 22. Gale Group, 2002. (link requires username/password)
  20. ^ “A Biography of Osama Bin Laden”. PBS Frontline. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  21. ^ Aziz Hug (ngày 19 tháng 1 năm 2006). “The Real Osama”. The American Prospect. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2012. 
  22. ^ Gunaratna, Rohan (2003). Inside Al Qaeda (ấn bản 3). Berkley Books. tr. 22. ISBN 0-231-12692-1. 
  23. ^ Wright 2006, tr. 79
  24. ^ Michael Hirst (ngày 24 tháng 9 năm 2008). “Analysing Osama's jihadi poetry”. BBC News. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2010. 
  25. ^ “Osama bin Laden's bodyguard: I had orders to kill him if the Americans tried to take him alive”. Daily Mirror. Ngày 4 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. 
  26. ^ Did the U.S. "Create" Osama bin Laden?([[ngày 14 tháng 1 năm 2005]])”. US Department of State. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2007.  Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  27. ^ Roy O (2004). Globalized Islam: The Search for a New Ummah. New York: Columbia University Press. tr. 291–92. ISBN 9780231134996. 
  28. ^ a ă Sageman M (2004). Understanding Terror Networks. Philadelphia: University of Pennsylvania Press. tr. 57–8. ISBN 9780812238082. 
  29. ^ Coll S (2004). Ghost Wars: The Secret History of the CIA, Afghanistan, and Bin Laden, from the Soviet Invasion to September 10, 2001. Penguin Group. tr. 87. ISBN 9781594200076. 
  30. ^ Beinart P (2001). “Back To Front”. The New Republic. 
  31. ^ a ă Miniter R (2003). “Dispelling the CIA-Bin Laden Myth”. International. Fox News. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  32. ^ a ă â https://www.globalsecurity.org/intell/ops/afghanistan.htm
  33. ^ Ewans, Martin (1 tháng 12 năm 2004). “Conflict in Afghanistan: Studies in Asymetric Warfare”. Routledge. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018 – qua Google Books. 
  34. ^ Anand Gopal, et al, "Taliban in North Waziristan" in Talibanistan: Negotiating the Borders Between Terror, Politics, and Religion, Peter Bergen, Katherine Tiedemann eds, p.132-142
  35. ^ “The Haqqani History: Bin Ladin's Advocate Inside the Taliban”. nsarchive.gwu.edu. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018. 
  36. ^ Cassman, Daniel. “Haqqani Network - Mapping Militant Organizations”. web.stanford.edu. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2018. 
  37. ^ https://newsone.com/1205745/cia-osama-bin-laden-al-qaeda/
  38. ^ Harding L (2000). “Bin Laden: the question facing the next US president”. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2017. 
  39. ^ “Al-Qaeda's origins and links”. BBC News. 2004. 
  40. ^ Cook R (2005). “The struggle against terrorism cannot be won by military means”. The Guardian (London: Guardian Unlimited). Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2005. 
  41. ^ https://publicintegrity.org/accountability/osama-bin-laden-how-the-u-s-helped-midwife-a-terrorist/
  42. ^ https://www.thenewamerican.com/culture/history/item/4708-bin-laden--al-qaeda-us-govt-creations
  43. ^ Bhutto B (20 tháng 3 năm 2003). Dinner with Portillo. BBC Four. 
  44. ^ King L (1 tháng 10 năm 2001). “America's New War: Responding to Terrorism”. Larry King Live. CNN Transcripts. CNN. 
  45. ^ “Bin Laden comes home to roost”. BBC News. 
  46. ^ Messages to the World, 2006, p.50. (March 1997 interview with Peter Arnett
  47. ^ Fisk, Robert (6 tháng 12 năm 1993). “Anti-Soviet warrior puts his army on the road to peace”. The Independent. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. 
  48. ^ The World According to Al Qaeda - Brad K. Berner - page 3
  49. ^ Osama bin Laden trong danh sách truy nã của FBI
  50. ^ Con trai bin Laden muốn thành 'đại sứ vì hòa bình'
  51. ^ Con trai bin Laden cưới vợ già
  52. ^ Wright, Looming Tower, (2006), p.252
  53. ^ Wright, Looming Tower, (2006), p.194
  54. ^ http://www.peterbergen.com/bergen/articles/details.aspx?id=233
  55. ^ Bin Laden: Goal is to bankrupt U.S.

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi