Phước Long (huyện)

Huyện thuộc tỉnh Bạc Liêu

Phước Long là một huyện nằm ở phía bắc tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam.

Phước Long
Huyện
Huyện Phước Long
Trung tâm Phước Long, Phước Long, Bạc Liêu.jpg
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhBạc Liêu
Huyện lỵthị trấn Phước Long
Trụ sở UBNDĐường Nguyễn Minh Thành, ấp Hành Chính, thị trấn Phước Long
Phân chia hành chính1 thị trấn, 7 xã
Thành lập
  • 20/05/1920: thành lập
  • 16/10/2000: tái lập
Tổ chức lãnh đạo
Chủ tịch UBNDPhạm Thanh Hải
Chủ tịch HĐNDLê Văn Năm
Chủ tịch UBMTTQTrần Thanh Khôi
Chánh án TANDHồng Văn Bào
Viện trưởng VKSNDTrần Quốc Tuấn
Bí thư Huyện ủyNguyễn Chí Thiện
Địa lý
Tọa độ: 9°24′B 105°24′Đ / 9,4°B 105,4°Đ / 9.4; 105.4
Bản đồ huyện Phước Long
Phước Long trên bản đồ Việt Nam
Phước Long
Phước Long
Vị trí huyện Phước Long trên bản đồ Việt Nam
Diện tích417,84 km²[1]
Dân số (1/11/2021)
Tổng cộng125.186 người[2]
Thành thị21.273 người (16,99%)
Nông thôn103.913 người (84,01%)
Mật độ300 người/km²
Dân tộcKinh, Hoa, Khmer
Khác
Mã hành chính957[3]
Mã bưu chính96xxxx
Mã điện thoại291
Biển số xe94-E1, 94-AH
Websitephuoclong.baclieu.gov.vn

Địa lýSửa đổi

Huyện Phước Long nằm ở phía Bắc tỉnh Bạc Liêu, có vị trí địa lý:

Huyện Phước Long có diện tích 417,84 km², dân số năm 2019 là 124.405 người, mật độ dân số đạt 298 người/km².[4]

Địa hình, địa mạoSửa đổi

Nhìn chung tương đối bằng phẳng, bề mặt bị chia cắt bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt, nằm ở độ cao phổ biến từ trên dưới 0,8m so với mực nước biển, độ dốc trung bình từ 1–1,5cm/km, có xu hướng thấp dần từ Tây Bắc xuống Tây Nam. Địa hình của huyện thuận lợi cho việc tận dụng thủy triều đưa nước mặn vào nội đồng phục vụ nuôi trồng thủy sản, song cũng tạo thành những vùng trũng cục bộ đọng nước chua phèn gây trở ngại cho canh tác. Ngoài ra, còn gây khó khăn cho việc phát triển hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, sinh hoạt trên địa bàn.[5]

Khí hậuSửa đổi

Huyện Phước Long nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, với những đặc trưng chủ yếu sau:

  • Chế độ nhiệt: nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 26,6°C, thường tháng 4 là tháng có nhiệt độ cao nhất khoảng 27,3°C, tháng 1 thấp nhất khoảng 24,5°C.
  • Chế độ mưa: một năm phân ra 2 mùa rõ rệt; mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 dương lịch; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.800mm, tập trung chủ yếu vào mùa mưa (chiếm 90% tổng lượng mưa).
  • Chế độ ẩm: cao và ổn định, ít biến đổi qua các năm, bình quân cả năm khoảng 80 - 85%, thấp nhất vào mùa khô, cao nhất vào mùa mưa.
  • Chế độ nắng: số giờ nắng trong năm khá cao, khoảng 2.227 giờ/năm. Với những đặc điểm khí hậu như trên tạo thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, thủy sản đa canh và thâm canh có hiệu quả cao. Tuy nhiên, vào mùa mưa phải tốn một khoản chi phí khá lớn để đầu tư trang thiết bị kỹ thuật cho khâu phơi sấy, tồn trữ và bảo quản nông sản.[5]

Thủy vănSửa đổi

Huyện Phước Long có tuyến kênh tạo nguồn Quản Lộ - Phụng Hiệp, là tuyến quan trọng cả về lưu thông đường thủy lẫn cấp thoát nước cho hoạt động sản xuất. Đặc biệt, có hệ thống ranh phân chia mặn – ngọt nên sản xuất trên địa bàn được chia thành hai tiểu vùng. Cụ thể:

  • Tiểu vùng mặn: gồm các xã Phong Thạnh Tây A, Phong Thạnh Tây B, Phước Long, một phần xã Vĩnh Phú Tây (Phía Tây kênh Ông Âu, Chủ Đống) và một phần thị trấn Phước Long (phía Bắc kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp). Khu vực này chịu ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều biển Đông và một phần nhật triều của biển Tây qua các trục kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, Kênh Cộng Hòa và chịu ảnh hưởng mặn qua sự điều tiết bởi các cống dọc theo Quốc lộ 1 (Cống Chủ Chí, Nọc Nạn, Giá Rai). Đây là tiểu vùng có thể phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản nước lợ và mô hình sản xuất tôm – lúa kết hợp.
  • Tiểu vùng giữ ngọt ổn định: bao gồm phần còn lại của huyện, được ngăn mặn triệt để và nhận nguồn nước ngọt từ sông Hậu thông qua tuyến kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp. Khu vực này có điều kiện thuận lợi cho canh tác lúa,màu, lúa – màu và nuôi trồng thủy sản nước ngọt.[5]

Tài nguyên đấtSửa đổi

Hiện nay, trên địa bàn huyện Phước Long có 3 nhóm đất chính là đất mặn, đất phèn và đất nhân tác. Trong đó:

  • Nhóm đất mặn: bao gồm đất mặn ít mùa khô và đất mặn ít mùa khô có tầng loang lổ đỏ vàng với diện tích khoảng 7.434,63 ha, chiếm 17,79% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Hưng Phú, Vĩnh Thanh, Vĩnh Phú Đông. Nhóm đất này có hàm lượng dinh dưỡng cao, chỉ bị nhiễm mặn vào mùa khô trong thời gian ngắn nên xét về khả năng sử dụng thì thích hợp đối với canh tác lúa, rau màu các loại.
  • Nhóm đất phèn: bao gồm đất phèn tiềm tàng, đất phèn hoạt động, đất phèn hoạt động bị thủy phân với diện tích khoảng 31.454,83 ha, chiếm 75,27% tổng diện tích tự nhiên, phân bố tập trung chủ yếu ở các xã Phong Thạnh Tây B, Phong Thạnh Tây A, Phước Long, Vĩnh Phú Tây và thị trấn Phước Long. Loại đất này hình thành do quá trình xâm nhập mặn thường xuyên nên bị hạn chế bởi yếu tố chua phèn hoặc chịu đồng thời cả yếu tố phèn và yếu tố mặn, do đó gây bất lợi cho sản xuất và canh tác. Vì vậy, khi sử dụng và cải tạo nhóm đất này cần hết sức chú ý việc hạn chế tối đa những ảnh hưởng bất lợi kể trên. Nhóm đất này thích hợp cho trồng các loại cây ngắn ngày và có tính chịu phèn như khóm, mía,... và thích hợp cho nuôi trồng thủy sản nước lợ.
  • Nhóm đất nhân tác: với diện tích 2.476,33 ha, chiếm 5,93% tổng diện tích tự nhiên, hình thành do có sự tác động của con người, nhóm đất này phân bố tập trung dọc theo các tuyến kênh rạch, các trục lộ giao thông lớn, các cụm, tuyến dân cư tập trung. Đất nhân tác bao gồm đất thổ cư, đất xây dựng, một số loại đất chuyên dùng khác,...không dùng cho sản xuất nông nghiệp. Các loại đất này bị tác động với lớp phủ thổ nhưỡng khá dày khoảng 150cm. Đất nhân tác do tác động từ hoạt động sản xuất nông nghiệp bao gồm đất lên líp trồng màu, lập vườn,... chỉ chịu tác động trong khoảng 50 - 100cm tính từ mặt đất.

Ngoài ra, đất sông, kênh, rạch có diện tích 425,97 ha, chiếm 1,02% diện tích tự nhiên, phân đều trên địa bàn huyện.[5]

Tài nguyên nướcSửa đổi

Nước mặt: rất dồi dào do được cung cấp từ nước mưa và hệ thống sông, kênh, rạch khá dày đặc trên địa bàn, đặc biệt là nguồn nước từ sông Hậu thông qua kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp. Nguồn nước chủ yếu phục vụ cho mục đích sản xuất nông nghiệp, phi nông nghiệp và sinh hoạt của người dân.

Nước dưới đất: được phân bố khá rộng, nước ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleistoxen, Plioxen, Mioxen ở độ sâu 80 - 500m, chất lượng khá tốt chủ yếu phục vụ cho mục đích sinh hoạt của nhân dân, một số nơi chưa đến 50m đã có nước dưới đất nên rất thuận lợi cho việc khai thác sử dụng.[5]

Hành chínhSửa đổi

Huyện Phước Long có 8 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Phước Long (huyện lỵ) và 7 xã: Hưng Phú, Phong Thạnh Tây A, Phong Thạnh Tây B, Phước Long, Vĩnh Phú Đông, Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Thanh.

Danh sách đơn vị hành chính cấp xã

Đơn vị hành chính cấp xã Thị trấn
Phước Long

Hưng Phú

Phong Thạnh Tây A

Phong Thạnh Tây B

Phước Long

Vĩnh Phú Đông

Vĩnh Phú Tây

Vĩnh Thanh
Diện tích (km²) 49,30 37,93 55,13 61,31 76,41 48,68 51,72 37,37
Dân số (người) 21.273[2] 14.664 11.116 12.719 15.859 17.796 15.950 14.891
Mật độ dân số (người/km²) 432 387 202 208 208 366 308 399
Số đơn vị hành chính 11 ấp 9 ấp 6 ấp 7 ấp 9 ấp 11 ấp 11 ấp 14 ấp
Năm thành lập 1979 1990 2003 2003 1987 1990 1990 1979
Loại đô thị V V
Năm công nhận 2022 2022
Nguồn: Công bố kết quả điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu năm 2019[6]

Lịch sửSửa đổi

Nguồn gốc địa danh Phước LongSửa đổi

Ban đầu, địa danh Phước Long chỉ là tên một làng thuộc tỉnh Rạch Giá. Sau này, thực dân Pháp thành lập quận và đặt tên là quận Phước Long do lấy theo tên gọi làng Phước Long vốn là nơi đặt quận lỵ.

Lịch sửSửa đổi

Thời Pháp thuộcSửa đổi

Quận Phước Long thuộc tỉnh Rạch Giá được thực dân Pháp thành lập vào ngày 20 tháng 5 năm 1920, gồm có hai tổng: Thanh Bình và Thanh Yên với tổng cộng 14 làng. Quận lỵ đặt tại làng Phước Long.

Ngày 24 tháng 11 năm 1925, quận Phước Long nhận thêm tổng Thanh Biên từ quận Gò Quao chuyển sang.

Ngày 1 tháng 1 năm 1936, thực dân Pháp lập đại lý hành chánh An Biên thuộc tỉnh Rạch Giá, trụ sở đặt tại chợ Thứ Ba, gồm 1 tổng có tên là Thanh Biên trên cơ sở tách đất từ quận Phước Long trước đó.

Ngày 1 tháng 8 năm 1939, Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định nâng lên thành quận An Biên, đặt dưới quyền một quan chức người Pháp.

Năm 1947, quận Phước Long được chính quyền thực dân Pháp giao cho tỉnh Bạc Liêu. Cũng trong năm này, chính quyền kháng chiến của lực lượng Việt Minh quyết định đổi tên huyện Phước Long thành huyện Hồng Dân, ban đầu thuộc tỉnh Rạch Giá, do lấy theo tên người chiến sĩ cộng sản Trần Hồng Dân (1916 - 1946) đã hy sinh tại địa phương trước đó.

Năm 1952, huyện Hồng Dân được giao cho tỉnh Bạc Liêu.

Tháng 10 năm 1954, huyện Hồng Dân trở lại thuộc tỉnh Rạch Giá.

Tuy nhiên, chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và sau đó là Việt Nam Cộng hòa không công nhận tên gọi Hồng Dân mà thay vào đó, vẫn sử dụng tên gọi quận Phước Long như cũ cho đến năm 1975.

Giai đoạn 1954 - 1975Sửa đổi

Việt Nam Cộng hòaSửa đổi

Ngày 15 tháng 2 năm 1955, Thủ hiến Nam Việt của chính quyền Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) quyết định tạm sáp nhập vùng Chắc Băng và quận An Biên thuộc tỉnh Rạch Giá vào tỉnh Sóc Trăng. Ngày 24 tháng 5 năm 1955, quyết định sáp nhập ba quận An Biên, Phước Long và Chắc Băng để thành lập đặc khu An Phước thuộc tỉnh Sóc Trăng, nhưng không lâu sau lại cho giải thể đặc khu này.

Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa giải thể đặc khu An Phước, tái lập quận Phước Long thuộc tỉnh Ba Xuyên.

Năm 1958, quận Phước Long gồm 2 tổng với 9 xã:

  • Tổng Thanh Bình có 5 xã: Phước Long, Vĩnh Phú, Ninh Hòa, Ninh Qưới, Vĩnh Hưng
  • Tổng Thanh Yên có 4 xã: Phong Thạnh Tây, Ninh Thạnh Lợi, Lộc Ninh, Vĩnh Lộc.

Ngày 24 tháng 12 năm 1961, quận Phước Long được giao về cho tỉnh Chương Thiện mới được thành lập. Đồng thời, lập mới xã Vĩnh Tân thuộc quận Phước Long do tách đất từ hai xã Vĩnh Qưới và Tân Long cùng thuộc quận Thạnh Trị, tỉnh Ba Xuyên trước đó. Ngoài ra, xã Vĩnh Hưng và xã Vĩnh Phú, nguyên thuộc quận Phước Long lúc đó cũng được sáp nhập vào quận Giá Rai thuộc tỉnh Ba Xuyên. Riêng địa phận xã Vĩnh Phú được nhập thêm một phần đất của xã Ninh Qưới nằm về phía nam kinh Quản Lộ - Phụng Hiệp. Quận Phước Long khi đó gồm 2 tổng với 8 xã:

  • Tổng Thanh Bình gồm 4 xã: Phước Long, Ninh Hòa, Ninh Qưới, Vĩnh Tân
  • Tổng Thanh Yên gồm 4 xã: Phong Thạnh Tây, Ninh Thạnh Lợi, Vĩnh Lộc, Lộc Ninh.

Ngày 18 tháng 4 năm 1963, một phần đất của quận Phước Long được tách ra và hợp với một phần đất của quận Long Mỹ để thành lập thêm quận mới có tên là quận Kiến Thiện. Quận lỵ quận Kiến Thiện đặt tại Ngan Dừa, về mặt hành chánh lúc bấy giờ ấp Ngan Dừa thuộc xã Vĩnh Lộc. Đồng thời, xã Vĩnh Phú thuộc quận Giá Rai, tỉnh Ba Xuyên được sáp nhập trở lại vào quận Phước Long, tỉnh Chương Thiện. Bên cạnh đó, lại giao xã Vĩnh Tân về cho tổng Thanh Tuyền, quận Long Mỹ. Phân chia hành chánh quận Phước Long và quận Kiên Thiện năm 1963:

  • Quận Phước Long gồm 2 tổng với 4 xã:
    • Tổng Thanh Bình gồm 2 xã: Phước Long, Vĩnh Phú
    • Tổng Thanh Yên gồm 2 xã: Phong Thạnh Tây, Ninh Thạnh Lợi.
  • Quận Kiên Thiện gồm 2 tổng với 7 xã:
    • Tổng Thiện Hạnh gồm 4 xã: Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Qưới, Vĩnh Lộc
    • Tổng Trạch Thiện gồm 3 xã: Lương Tâm, Vĩnh Viễn, Xà Phiên.

Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 254-NV quy định kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Bạc Liêu. Quận Phước Long trở lại thuộc tỉnh Bạc Liêu, riêng quận Kiến Thiện vẫn thuộc tỉnh Chương Thiện cho đến năm 1975. Sau năm 1965, cấp tổng bị giải thể, các xã trực thuộc quận.

Chính quyền Cách mạngSửa đổi

Trong giai đoạn 1956 - 1975, địa bàn quận Phước Long của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn chính là huyện Hồng Dân của chính quyền Cách mạng. Tháng 10 năm 1957, do tỉnh Bạc Liêu bị giải thể, huyện Hồng Dân thuộc tỉnh Sóc Trăng. Tháng 11 năm 1973, Khu uỷ Tây Nam Bộ quyết định tái lập tỉnh Bạc Liêu, khi đó huyện Hồng Dân lại thuộc tỉnh Bạc Liêu cho đến năm 1976.

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ đã giải thể quận Phước Long, đồng thời vẫn duy trì huyện Hồng Dân thuộc tỉnh Bạc Liêu cho đến đầu năm 1976. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng bỏ danh xưng "quận" có từ thời Pháp thuộc và lấy danh xưng "huyện" (quận và phường dành cho các đơn vị hành chánh tương đương khi đã đô thị hóa).

Từ năm 1976 đến naySửa đổi

Tháng 2 năm 1976, Hồng Dân trở thành huyện thuộc tỉnh Minh Hải.

Ngày 25 tháng 7 năm 1979, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 275-CP[7] về việc:

  • Chia xã Vĩnh Phú Đông thành bốn xã lấy tên là xã Vĩnh Phú Đông, xã Đông Phú, xã Hưng Phú và xã Đông Nam
  • Chia xã Vĩnh Phú Tây thành ba xã lấy tên là xã Vĩnh Thạnh, xã Vĩnh Hồng và xã Vĩnh Tiến
  • Chia xã Phước Long thành hai xã lấy tên là xã Phước Long và xã Phước Tây
  • Chia xã Phong Thạnh Tây thành ba xã lấy tên là xã Phong Dân, xã Phong Hòa và xã Phong Hiệp
  • Thành lập thị trấn huyện lỵ của huyện Phước Long lấy tên là thị trấn Phước Long.

Ngày 17 tháng 5 năm 1984, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 75-HĐBT[8] về việc sáp nhập huyện Phước Long vào huyện Hồng Dân, tỉnh Minh Hải.

Huyện Hồng Dân gồm có 24 xã: Vĩnh Lộc, Vĩnh Hiếu, Ninh Thuận, Ninh Thạnh Lợi, Ninh Lợi, Lộc Ninh A, Lộc Ninh B, Vĩnh Trung, Ninh Hoà, Hoà Lợi, Ninh Quới A, Ninh Quới B, Phong Dân, Phong Hoà, Phong Hiệp, Phước Tây, Phước Long, Vĩnh Hồng, Vĩnh Tiến, Vĩnh Thành, Vĩnh Phú Đông, Đông Phú, Đông Nam, Hưng Phú và 2 thị trấn: Phước Long, Ngan Dừa. Huyện lỵ đóng tại thị trấn Phước Long.

Ngày 14 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 33B-HĐBT[9] về việc:

  • Giải thể xã Phước Tây để sáp nhập vào xã Phước Long và xã Phong Hiệp
  • Tách một phần diện tích và dân số của xã Phước Long để sáp nhập vào xã Hoà Lợi
  • Tách một phần diện tích và dân số của xã Phước Tây để sáp nhập vào xã Phong Hiệp
  • Tách một phần diện tích và dân số của xã Vĩnh Hồng để sáp nhập vào xã Vĩnh Tiến
  • Tách một phần diện tích và dân số của xã Vĩnh Tiến để sáp nhập vào xã Phong Hoà.

Ngày 9 tháng 11 năm 1990, Ban Tổ chức Chính phủ ban hành Quyết định số 483/QĐ-TCCP[10] về việc:

  • Sáp nhập các xã Đông Phú, Đông Nam vào xã Vĩnh Phú Đông
  • Hợp nhất các xã Phong Hòa, Phong Hiệp, Phong Dân thành xã Phong Thạnh Nam
  • Hợp nhất hai xã Vĩnh Hồng và xã Vĩnh Tiến thành xã Vĩnh Phú Tây.

Ngày 6 tháng 11 năm 1996, Quốc hội ban hành Nghị quyết[11] về việc chia tỉnh Minh Hải thành hai tỉnh là tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau. Khi đó, huyện Hồng Dân trực thuộc tỉnh Bạc Liêu.

Cuối năm 1999, huyện Hồng Dân có 2 thị trấn: Ngan Dừa, Phước Long và 12 xã: Hưng Phú, Lộc Ninh, Ninh Hòa, Ninh Quới, Ninh Qưới A, Ninh Thạnh Lợi, Phong Thạnh Nam, Phước Long, Vĩnh Lộc, Vĩnh Phú Đông, Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Thanh.

Ngày 25 tháng 9 năm 2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 51/2000/NĐ-CP[12] về việc thành lập huyện Phước Long trên cơ sở 40.482 ha diện tích tự nhiên và 101.322 nhân khẩu của huyện Hồng Dân.

Huyện Phước Long có 40.482 ha diện tích tự nhiên và 101.322 nhân khẩu; gồm 7 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 6 xã: Phong Thạnh Nam, Phước Long, Vĩnh Phú Tây, Vĩnh Thanh, Vĩnh Phú Đông, Hưng Phú và thị trấn Phước Long.

Ngày 24 tháng 12 năm 2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 166/2003/NĐ-CP[13] về việc chia xã Phong Thạnh Nam thành xã Phong Thạnh Tây A và xã Phong Thạnh Tây B:

  • Xã Phong Thạnh Tây A có 5.664 ha diện tích tự nhiên và 9.436 nhân khẩu
  • Xã Phong Thạnh Tây B có 5.907 ha diện tích tự nhiên và 9.192 nhân khẩu.

Huyện Phước Long có 1 thị trấn và 7 xã như hiện nay.

Kinh tế - xã hộiSửa đổi

Kinh tếSửa đổi

Giai đoạn 2016-2020, tình hình kinh tế của huyện có nhiều chuyển biến tích cực, sản xuất từng bước phát triển theo chiều sâu, nhất là việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, quy mô ngày càng mở rộng, chất lượng sản phẩm, hàng hóa ngày càng nâng lên. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp - thủy sản từ 45% (năm 2015) xuống còn 39,91% (năm 2020), tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng từ 24% (năm 2015) lên 25,02% (năm 2020), thương mại - dịch vụ tăng từ 31% (năm 2015) lên 35,07% (năm 2020).[5]

Nông, lâm nghiệp – thủy sảnSửa đổi

Phước Long có đặc điểm thổ nhưỡng, địa hình khá đặc biệt, với hai tiểu vùng mặn - ngọt, đã hình thành nền sản xuất nông nghiệp lâu đời, có nhiều mô hình sản xuất kết hợp cho hiệu quả kinh tế cao. Tiểu vùng mặn phát triển sản xuất tôm, lúa; tiểu vùng ngọt trồng lúa, màu và nuôi thủy sản. Trong những năm qua, nhờ nỗ lực cao huyện đã có bước chuyển mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp, phát huy được tiềm năng, lợi thế. Năm 2020, giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản (giá hiện hành) đạt 6.721,99 tỷ đồng, tăng 1.913,58 tỷ đồng so với năm 2015. Cụ thể:

  • Trồng trọt:
    • Cây lúa: diện tích gieo trồng năm 2020 là 47.065 ha, tăng 8.867 ha so với năm 2011; sản lượng tăng từ 201.300 tấn (năm 2011) lên 296.390 tấn năm 2020.
    • Hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày: diện tích giảm qua các năm, đến năm 2020 đạt 557 ha giảm 1.099 ha so với năm 2011, tổng sản lượng đạt 4.531 tấn, giảm 6.394 tấn so với năm 2011.
    • Cây lâu năm: năm 2020, diện tích đất trồng cây lâu năm vẫn giữ vững khoảng 1.440 ha, tăng 158 ha so với năm 2011; tổng sản lượng đạt 7.940 tấn, tăng 1.868 tấn so với năm 2011.
  • Chăn nuôi: Phát triển chăn nuôi trên địa bàn chủ yếu vẫn là ở quy mô hộ gia đình, phân tán, nhỏ lẻ, nên số lượng không ổn định. Năm 2020, tổng đàn gia súc 31.437 con, giảm 22.717 con so với năm 2011 và đàn gia cầm là 667.990 con tăng 153.990 so với năm 2011.
  • Thủy sản: Trong thời gian qua, nhìn chung nuôi trồng thủy sản trên địa bàn khá phát triển. Năm 2020, tổng diện tích nuôi đạt 22.477 ha, tăng 4.077 ha so với năm 2011.[5]

Công nghiệp – xây dựngSửa đổi

Khu vực công nghiệp – xây dựng, trong những năm qua đã khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của huyện thể hiện trên nhiều mặt như tốc độ tăng trưởng cao, chiếm tỷ trọng lớn, tạo ra sự thay đổi bộ mặt kinh tế - xã hội, tạo công ăn việc làm, tác động tích cực đối với các ngành nông nghiệp và dịch vụ,.... Năm 2020, giá trị sản xuất công nghiệp và xây dựng (giá hiện hành) đạt 4.107,34 tỷ đồng, tăng 1.842,40 tỷ đồng so với năm 2015. Do đó, đã thể hiện được vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện.[5]

Thương mại – dịch vụSửa đổi

Hoạt động thương mại, dịch vụ của huyện có chuyển biến tích cực; các hoạt động kinh doanh, mua bán phát triển rộng đến tận vùng nông thôn sâu; hệ thống chợ từng bước đầu tư và mở rộng; chất lượng, số lượng hàng hóa dồi dào, nhiều chủng loại và đa dạng và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng. Giai đoạn 2016-2020, xây dựng hoàn thành đưa vào sử dụng và đi vào hoạt động ổn định chợ nhà lồng xã Phong Thạnh Tây A, diện tích 144 m². Nâng cấp, mở rộng chợ Phó Sinh xã Phước Long, sửa chữa nhà lồng chợ TT. Phước Long, chợ Trưởng Tòa xã Vĩnh Thanh, chợ Rọc Lá xã Hưng Phú và chợ Chủ Chí xã Phong Thạnh Tây B. Năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 5.898,72 tỷ đồng, tăng 1.902,73 tỷ đồng so với năm 2015, và có 7.155 cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ, hoạt động ổn định.[5]

Xã hộiSửa đổi

Giáo dụcSửa đổi

Trong những năm qua, công tác giáo dục và đào tạo của huyện luôn được quan tâm đầu tư phát triển, vì vậy chất lượng dạy và học được nâng lên đáng kể, tỷ lệ trẻ em đến lớp, tỷ lệ học sinh khá giỏi và tốt nghiệp các cấp học đạt cao. Năm 2020, hiện trạng về trường lớp, giáo viên, học sinh như sau:

  • Mầm non: có 15 trường với 127 lớp, 253 giáo viên và 3.644 học sinh. Trung bình 29 học sinh/lớp và 14 trẻ/giáo viên.
  • Tiểu học: có 18 trường, với 342 lớp, 423 giáo viên và 11.045 học sinh. Trung bình 32 học sinh/lớp và 26 học sinh/giáo viên.
  • Trung học cơ sở: có 8 trường, với 176 lớp, 363 giáo viên và 6.859 học sinh. Trung bình 38 học sinh/lớp và 18 học sinh/giáo viên.
  • Trung học phổ thông: có 2 trường, với 53 lớp, 94 giáo viên và 2.323 học sinh. Trung bình có 44 học sinh/lớp và 25 học sinh/giáo viên.[5]

Y tếSửa đổi

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân luôn được quan tâm thực hiện tốt. Các chương trình y tế quốc gia, công tác truyền thông dân số triển khai đạt kết quả cao. Công tác y tế dự phòng gắn với khám và điều trị về chất lượng, hiệu quả được nâng lên đáng kể, tập trung mọi nguồn lực thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp như hiện nay.

Toàn huyện có 1 Trung tâm y tế huyện; 8/8 xã, thị trấn có trạm y tế đạt chuẩn và các tổ y tế ở tất cả các ấp. Nhìn chung, mạng lưới y tế đã được hình thành và phát triển rộng khắp, trang thiết bị ngày càng được tăng cường nên đã góp phần nâng cao hiệu quả khám và chữa bệnh ở các tuyến cơ sở.

Lực lượng cán bộ, công chức ngành Y tế ngày càng được đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp. Hiện có 88 bác sĩ; 45 dược sĩ và cao đẳng, trung cấp; 82 y sĩ, 74 điều dưỡng và 59 hộ sinh, kỹ thuật viên Y. Tỷ lệ bác sĩ hiện có là 7 bác sĩ/vạn dân.[5]

Dân sốSửa đổi

Huyện Phước Long có diện tích tự nhiên là 417,84 km², dân số năm 2016 là 122.342 người, trong đó: dân tộc Kinh có 118.169 người chiếm 96,59%, dân tộc Hoa 250 người chiếm 0,20%, dân tộc Khmer 4.065 người chiếm 3,32%, dân tộc khác 20 người chiếm 0,02%. Dân số năm 2018 là 122.962 người, mật độ dân số 294 người/km². Trong đó, dân số sống ở thành thị là 21.034 người chiếm tỉ lệ 17,12% và dân số sống ở nông thôn là 101.928 người chiếm tỉ lệ 82,88%.

Theo thống kê năm 2019, huyện Phước Long có diện tích 417,84 km², dân số là 124.405 người, mật độ dân số đạt 298 người/km².[4]

Năm 2020, dân số toàn huyện Phước Long là 125.015 người, trong đó, dân số thành thị là 21.473 người chiếm 17,18%, dân số nông thôn là 103.542 người chiếm 82,82%.[1]

Theo thống kê ngày 1 tháng 11 năm 2021, dân số huyện Phước Long là 125.186 người, trong đó dân số thành thị là 21.273 người (16,99%), dân số nông thôn là 103.913 người (84,01%).[2]

Cuối năm 2021, dân số của huyện Phước Long ước khoảng 125.628 người, trong đó, khu vực thành thị 21.578 người, chiếm 17,18%; khu vực nông thôn 104.049 người, chiếm 82,82%.[14]

Dân số huyện Phước Long qua các năm 2010 – 2021
Năm
Thành thị
Nông thôn
Tổng
2010
20.004
99.297
119.301
2014
20.744
100.869
121.613
2015
20.816
101.215
122.031
2016
20.885
101.457
122.342
2017
20.932
101.734
122.666
2018
21.034
101.928
122.962
2019
21.328
103.077
124.405
2020
21.473
103.542
125.015
1/11/2021
21.273
103.913
125.186
Nguồn: Cục thống kê Tỉnh Bạc Liêu năm 2020

Danh nhânSửa đổi

Dương Thành Trung (sinh 1961): Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu (từ 2015).

Lê Minh Khái (sinh 1964): Phó Thủ tướng Chính phủ (từ 8/4/2021), nguyên Tổng Thanh tra Chính phủ (2017-2021), nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu (2015-2017), Chủ tịch UBND tỉnh Bạc Liêu (2014-2015).

Văn hóa - Du lịchSửa đổi

Huyện Phước Long có 1 trung tâm văn hoá huyện, 7/7 xã đều có nhà văn hóa và 70 nhà văn hóa – khu thể thao ấp. Năm qua, song song với việc tăng cường cơ sở vật chất cho hoạt động văn hóa, huyện còn tập trung vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, xây dựng và đẩy mạnh các phong trào văn hóa. Đến nay, toàn huyện duy trì giữ vững 7/7 xã đạt chuẩn văn hóa nông thôn mới và thị trấn Phước Long đạt chuẩn văn minh đô thị; 78/78 ấp duy trì danh hiệu đạt chuẩn văn hóa 3 năm liền; công nhận 3.321 hộ gia đình văn hóa và 28.753 hộ gia đình đạt chuẩn gia đình văn hóa, chiếm 95,22%.[5]

Huyện Phước Long có 4 khu du lịch sinh thái (vườn) tổng diện tích 9 ha, trong đó:

  • Thị trấn Phước Long: 1 vườn, 2 ha toạ lạc tại ấp Long Hoà
  • Xã Vĩnh Phú Tây: 2 vườn, 4 ha toạ lạc tại ấp Bình Hổ
  • Xã Phong Thạnh Tây A: 1 vườn, 3 ha toạ lạc tại ấp 8B có các loài chim sinh sống chủ yếu là: Cò, Vạc, Diệc, Còng Cọc và Cò Quắm.

Các di tích lịch sử - văn hóa:

  • Đền thờ Trần Quang Diệu: Tọa lạc tại ấp 1, xã Phong Thạnh Tây A, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu đền thờ được xây dựng năm 1917 theo lối kiến trúc đình làng Nam Bộ với có diện tích 800 m². UBND tỉnh Bạc Liêu xếp hạng là di tích Lịch sử cấp tỉnh năm 2000
  • Chùa Cosđon (Chùa monisereysophol cosdon): Là chùa Phật giáo Theravada (Nam Tông) Khmer Việt Nam. Tọa lạc tại ấp Bình Bảo, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu. Thành lập vào ngày 5 tháng 2 năm 1903 trên phần đất với diện tích 50.000 m² do gia đình ông tá điền chủ Che hiến cúng thuộc ấp Bình Bảo, xã Vĩnh Phú Tây, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
  • Bia Chiến Thắng Mỹ Trinh: Là bia tưởng niệm chiến thắng trận đánh Đại đội 915 (năm 1972) tại ấp Mỹ Trinh, xã Hưng Phú, huyện Phước Long. Bia Chiến Thắng Mỹ Trinh có diện tích là 3.500 m², trong đó diện tích được xây dựng là 2.400 m² được bàn giao và đưa vào sử dụng năm 2008
  • Chùa Đìa Muồng (CHÙA SÊ-RÂY VONG-SA CHEY-YA-RAM): Tọa lạc tại ấp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu được xây dựng năm 1956 với diện tích đất là 16.760 m².

Giao thôngSửa đổi

Giao thông đường bộSửa đổi

Trên địa bàn huyện, mạng lưới giao thông bộ phát triển khá nhanh, tỷ lệ nhựa hóa, cứng hóa đạt cao, nhất là các tuyến quan trọng. Cụ thể, như sau:

  • Quốc lộ Quản Lộ - Phụng Hiệp, đoạn qua huyện dài khoảng 32 km, là tuyến giao thông bộ tiêu biểu nhất của huyện.
  • Đường tỉnh: có 4 tuyến là đường tỉnh 978, 979, 980 và 981 với tổng chiều dài khoảng 48 km. Tất cả đều được thảm nhựa nên rất thuận lợi cho nhu cầu đi lại cũng như vận chuyển hàng hóa của nhân dân.
  • Đường huyện: có các tuyến đường cấp V hoặc cấp VI đồng bằng, chiều rộng mặt đường từ 2m đến 3,5m đủ cho 1 làn xe, thường bị ngập nước vào mùa mưa, tải trọng cầu thuộc các tuyến đường này không lớn (khoảng 5-10 tấn) hoặc chưa có cầu mà chỉ có bến đò. Do đó, khả năng khai thác còn hạn chế, không ổn định và bị giới hạn về tải trọng vận chuyển.
  • Đường giao thông nông thôn: có khoảng 221,5 km đường trục ấp, xóm; 269,8 km đường ngõ xóm và 92,5 km đường trục chính nội đồng với mặt đường đã cứng hóa nên đáp ứng tốt nhu cầu vận chuyển hàng hóa của nhân dân trên địa bàn.

Giao thông đường thủySửa đổi

Trên địa bàn huyện có các tuyến chính như tuyến kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp, kênh Hòa Bình, kênh Phước Long - Cầu Số 2, kênh Vĩnh Phong, kênh Phó Sinh - Giá Rai, kênh Chủ Chí - Chợ Hội cùng nhiều tuyến vừa và nhỏ khác nên đáp ứng tốt cho nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hoá của nhân dân.[5]

Kết nghĩaSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a b “Niên giám Thống kê năm 2020 tỉnh Bạc Liêu” (PDF). Cục thống kê tỉnh Bạc Liêu. 30 tháng 6 năm 2021.
  2. ^ a b c “Báo cáo kết quả sơ bộ tổng điều tra rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2022-2025 (Họp với các Sở, ngành có liên quan để nghe báo cáo kết quả điều tra rà soát hộ nghèo)”. VĂN PHÒNG ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU. 22 tháng 11 năm 2021.
  3. ^ Tổng cục Thống kê
  4. ^ a b Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. “Dân số đến 01 tháng 4 năm 2019 - tỉnh Bạc Liêu” (PDF). Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2020.
  5. ^ a b c d e f g h i j k l m “Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 huyện Phước long”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN PHƯỚC LONG. 4 tháng 1 năm 2022.
  6. ^ Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương. Dân số cấp xã đến 01 tháng 4 năm 2019 - tỉnh Bạc Liêu. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2020.
  7. ^ “Quyết định số 275-CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã và thị trấn thuộc tỉnh Minh Hải”. Thư viện pháp luật. 25 tháng 7 năm 1979.
  8. ^ “Quyết định 75-HĐBT năm 1984 phân vạch địa giới một số huyện, thị xã thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Bộ trưởng ban hành”. 17 tháng 5 năm 1984.
  9. ^ “Quyết định 33B-HĐBT năm 1987 về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính một số xã, phường, thị trấn của các thị xã Bạc Liêu, cà Mau và các huyện Cái Nước, Đầm Dơi, Ngọc Hiển, Vĩnh Lợi, Giá Rai, Hồng Dân, Thới Bình, Trần Văn Thời thuộc tỉnh Minh Hải do Hội đồng Bộ trưởng ban hành”. Thư viện pháp luật. 14 tháng 2 năm 1987.
  10. ^ Quyết định 483/QĐ-TCCP điều chỉnh địa giới một số xã thuộc các huyện Hồng Dân và Vĩnh Lợi, tỉnh Minh Hải
  11. ^ “Nghị quyết về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chín một số tỉnh”. Thư viện pháp luật. 6 tháng 11 năm 1996. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 11 năm 1996. Truy cập 17 tháng 11 năm 2021.
  12. ^ “Nghị định số 51/2000/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hồng Dân để thành lập huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu”. Thư viện pháp luật. 25 tháng 9 năm 2000. Bản gốc lưu trữ 25 tháng 9 năm 2000. Truy cập 18 tháng 12 năm 2021.
  13. ^ “Nghị định số 166/2003/NĐ-CP về việc thành lập xã, phường thuộc các huyện Vĩnh Lợi, Phước Long, Hồng Dân, Giá Rai, Đông Hải và thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu”. Thư viện pháp luật. 24 tháng 12 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ 24 tháng 12 năm 2003. Truy cập 18 tháng 12 năm 2021.
  14. ^ “Báo cáo thuyết minh tổng hợp: Kế hoạch sử dụng đất năm 2022 huyện Phước Long – tỉnh Bạc Liêu”. CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ HUYỆN PHƯỚC LONG. 7 tháng 2 năm 2022.

Tham khảoSửa đổi