Phiên vương quốc

Phiên vương quốc (chữ Hán : 藩王国, chữ Anh : princely state, native state, Indian state), gọi tắt phiên quốc, hoặc gọi thổ bang, là lãnh địa phong kiến của vương tướccông tước người bản địa Ấn Độ. Vào thời kì thực dân Anh thống trị, một bộ phận phiên vương quốc chưa được thu nhận vào bên trong phạm vi Ấn Độ thuộc Anh do đế quốc Anh trực tiếp thống trị, nhưng mà thần phục và nội thuộc đế quốc Anh, với việc kí kết các loại điều ước, thế lực lớn nằm ở trong tay quan chức đồn trú đế quốc Anh, vương công chỉ nắm giữ thống trị trên danh nghĩa, về mặt đối ngoại không có quyền nảy sinh liên lạc với phiên vương quốc khác hoặc nước ngoài, về mặt đối nội có hưởng quyền tự trị rất lớn. Vương công là người thống trị chuyên chế của người dân bên trong phiên vương quốc. Các vương công có được phong hiệu khác nhau, thí dụ như Rajaraja, Maharaja, Nawab, Nizam, v.v Vương công là một tầng lớp giữ gìn bảo hộ sự thống trị của đế quốc Anh, tính tới đêm trước ngày Chia và trị Ấn Độ - Pakistan năm 1947, có chừng 600 phiên vương quốc, chiếm diện tích đất 1,145 triệu kilômét vuông, dân số gần 100 triệu người. Phiên vương quốc lớn nhất là phiên vương quốc Hyderabad và phiên vương quốc Kashmir. Chiếu theo phương án Mountbatten, phiên vương quốc sau khi đế quốc Anh chuyển giao chủ quyền, có hưởng địa vị đặc thù, có thể tự mình quyết định gia nhập một lãnh thổ tự trị tuỳ ý Ấn Độ và Pakistan, vẫn bảo lưu được quan hệ vốn có với Anh Quốc. Về sau, phần lớn gia nhập Ấn Độ, thiểu số gia nhập Pakistan.[1]

Lịch sử Ấn Độ
Thời kỳ đồ đá 70.000–3300 TCN
Văn hóa Mehrgarh • 7000–3300 TCN
Văn minh lưu vực sông Ấn 3300–1700 TCN
Văn hóa hậu kỳ Harappan 1700–1300 TCN
Thời kỳ đồ sắt 1200–1 TCN
Maha Janapadas • 700–300 TCN
Triều Shishunaga • 430 TCN-364 TCN
Triều Maurya • 321–184 TCN
Kharavela • 209–170 TCN
Triều Chera • 300 TCN–1200 CN
Triều Chola • 300 TCN–1279 CN
Đế quốc Pandyan • 250 TCN–1345 CN
Satavahana • 230 TCN–220 CN
Các vương quốc Trung Đại 1 CN–1279 CN
Đế quốc Kushan • 60–240 CN
Đế quốc Gupta • 280–550
Đế quốc Harsha • 590-647
Đế quốc Pala • 750–1174
Nhà Chalukya • 543–753
Rashtrakuta • 753–982
Đế quốc Tây Chalukya • 973–1189
Nhà Yadava • 850–1334
Đế quốc Hoysala 1040–1346
Đế quốc Kakatiya 1083–1323
Các vương quốc Hồi giáo 1206–1596
Vương quốc Hồi giáo Delhi • 1206–1526
Các vương quốc Hồi giáo Deccan • 1490–1596
Vương quốc Ahom 1228–1826
Đế quốc Vijayanagara 1336–1646
Đế quốc Mogul 1526–1858
Đế quốc Maratha 1674–1818
Liên minh Sikh 1716–1799
Đế quốc Sikh 1799–1849
Thời Công ty Đông Ấn cai trị 1757–1858
British Raj 1858–1947
Sự chia cắt Ấn Độ 1947
Các nền lịch sử dân tộc


Lịch sử địa phương


Lịch sử chuyên đề



Tóm tắtSửa đổi

Phiên vương quốc là lãnh địa phong kiến của vương tướccông tước người bản địa Ấn Độ được giữ gìn bảo vệ ở khu vực Nam Á và một phần Đông Nam Á vào thời kì thuộc địa Anh. Loại thể chế này phần nhiều thừa tập thể chế phong kiến trước khi chiếm cứ, liên tục noi theo lệ cũ kế thừa tước vị từ các cựu vương tước và công tước, quân chủ hoặc gia tộc khác truyền lại. Sau khi Đế quốc Anh chiếm cứ, nhà cầm quyền thực dân Anh và người thống trị cũ kí kết điều ước, trực tiếp bị thao túng và chi phối từ chính phủ thực dân Anh, hết một lòng trung thành quân chủ Anh.

Phiên vương quốc là một thực thể chính trị, bị thao túng và chi phối từ nhà cầm quyền thực dân Anh. Thí dụ như ở á lục địa Ấn Độ, phiên vương quốc căn cứ vào sức ảnh hưởng và địa vị của nó, hoặc trực tiếp bị chính phủ Ấn Độ thuộc Anh khống chế, hoặc từ sự lãnh đạo của tỉnh trưởng các tỉnh Ấn Độ thuộc Anh hoặc chuyên viên hành chính ; phiên vương quốc là đơn vị phân khu hành chính cấp địa phương. Ở Nam Á, đa số phiên vương quốc về cơ bản tương đồng với địa vị hạt trực thuộc các tỉnh Ấn Độ thuộc Anh.

Các phiên vương quốc trong tình huống thực tế bị giao kết bởi điều ước, quyền hạn mỗi phiên vương quốc không giống nhau. Thí dụ một loại hình thân cận chế độ quân chủ hoàn toàn, loại hình phiên vương quốc này có quyền hạn độc lập càng thêm nhiều ở tài chính công, thu nhập được nhà nước đánh thuế và tư pháp. Có phiên vương quốc là chế độ quân chủ trên danh nghĩa, vương tướccông tước không có quyền lực thực tế hoặc quyền lực bị cắt giảm, trực tiếp đặt dưới sự thống trị của thực dân Anh, chỉ bảo lưu quân chủ "hữu danh vô thật".

Chia và trị Ấn Độ - PakistanSửa đổi

Thời kì Ấn Độ thuộc Anh vào thời điểm nhiều nhất tồn tại 554 phiên vương quốc lớn nhỏ không giống nhau và phân liệt cát cứ, tất cả phiên vương quốc cộng lại đạt đến 500.000 dặm Anh vuông, chiếm 45,3% diện tích Ấn Độ thuộc Anh, dân số 86 triệu người, chiếm 1/3 tổng dân số Ấn Độ lúc đó. Căn cứ quy định của "Luật Chính phủ Ấn Độ năm 1935" (trước khi bắt đầu Hiến pháp Ấn Độ vào thời kì Chia và trị Ấn Độ - Pakistan), Ấn Độ thuộc Anh và phiên vương quốc Ấn Độ đã hợp thành một loại quan hệ liên bang rời rạc lỏng lẻo. Các tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh cần thiết tham gia liên bang ; mỗi phiên vương quốc chính là tự nguyện gia nhập, không gia nhập cũng không được phép. Phiên vương quốc dù cho gia nhập liên bang, cũng có hưởng địa vị không giống nhau với Ấn Độ thuộc Anh ; các phiên vương quốc có hưởng chủ quyền, có chính phủ của chính mình, chỉ là các sự vụ ngoại giaoquốc phòng bị chính phủ Anh Quốc khống chế, ở vào vị thế bán độc lập ; các tỉnh của Ấn Độ thuộc Anh thì không có hưởng chủ quyền, thông qua Toàn quyền Anh Quốc tại Ấn Độ bị chính phủ Anh Quốc trực tiếp thống trị, là thuộc địa hoàn toàn. Đại biểu của mỗi phiên vương quốc ở trong Hội đồng Lập pháp do chính phủ của nó chỉ định bổ nhiệm, các tỉnh Ấn Độ thuộc Anh thì do bầu cử mà sản sinh nên. Do đó, xét từ góc độ pháp luật, mỗi phiên vương quốc Ấn Độ và Ấn Độ thuộc Anh cùng là đơn vị hành chính có hưởng chủ quyền tự làm thành hệ thống bên trong đế quốc Ấn Độ thuộc Anh, là thành viên bình đẳng địa vị.

Căn cứ vào phương án Mountbatten, sau khi Ấn ĐộPakistan độc lập, vương tước và công tước của phiên vương quốc có quyền quyết định gia nhập Ấn Độ hoặc Pakistan, quân chủ mất đi quyền thống trị, một phần quân chủ được bảo lưu tước hiệu thế tập. Một ít phiên vương quốc có địa vực khá rộng và dân số khá nhiều như Hyderabad, Mysore, Indore, Jammu và Kashmir, Travancore, Junagadh, v.v vương công của mỗi phiên vương quốc đem "phiên vương quốc" đặt ở "vị trí không may mắn" biểu thị thất vọng với phương án Mountbatten, họ hi vọng duy trì địa vị độc lập của chính mình, một lần nữa thỉnh cầu chính phủ Anh Quốc cho phép họ lấy tư cách lãnh thổ tự trị để mà ở lại bên trong Thịnh vượng chung Anh. Phiên vương quốc Hyderabad đưa ra công bố, sau khi Anh Quốc đánh mất quyền thống trị tối cao đối với phiên vương quốc, Hyderabad có quyền duy trì địa vị chủ quyền độc lập của nó. Phiên vương quốc Travancore tuyên bố khi Anh Quốc chuyển giao quyền lực hướng về Ấn Độ thuộc Anh, nó sẽ làm thành một nước chủ quyền độc lập, mặc dù nó biểu thị nguyện vọng hợp tác với các khu vực khác của Ấn Độ trên cơ sở bình đẳng. Lãnh tụ Đảng Quốc đại vô cùng dị ứng đối với vấn đề phiên vương quốc, đảng đó làm ra phản ứng mãnh liệt đối với việc đó. Trong kì họp Uỷ ban Toàn quốc Đảng Quốc đại, Jawaharlal Nehru nêu ra, nếu phiên vương quốc không gia nhập Liên bang Ấn Độ, quan hệ của nó với liên bang —— sẽ ắt phải có một số mối quan hệ —— sẽ không có khả năng là quan hệ bình đẳng ; chúng tôi yêu cầu quyền tôn chủ hoặc quyền thống trị tối cao. Ông ấy tuyên bố sự độc lập của phiên vương quốc trong vùng lãnh thổ Ấn Độ sẽ là một thứ nguy hiểm đối với đất nước, không cho phép phiên vương quốc có liên lạc tuỳ ý với bất kì nước ngoài hoặc bất kì chính phủ độc lập nào ở phương diện có liên quan đến phòng ngự an ninh đất nước, "chúng tôi sẽ không thừa nhận phiên vương quốc có bất kì hình thức độc lập nào ở Ấn Độ", "bất kì chính quyền nước ngoài nào thừa nhận thứ độc lập này sẽ bị coi là hành vi không hữu nghị". Tuyên bố việc chọn lựa duy nhất của phiên vương quốc là gia nhập Liên bang Ấn Độ với tư cách phiên vương quốc độc hoặc hợp thành bè bạn cùng bình đẳng trong đoàn thể và tỉnh bang. Gandhi tuyên bố, phiên vương quốc Ấn Độ tuyên bố độc lập chính là "tuyên chiến hàng triệu người Ấn Độ cùng hướng về tự do". Uỷ ban Toàn quốc Đảng Quốc đại lập tức thông qua nghị quyết, dứt khoát từ chối thừa nhận bất kì phiên vương quốc nào có quyền tuyên bố tự mình độc lập hoặc li khai với các khu vực khác trong nước.

Lãnh tụ Hồi giáo Muhammad Ali Jinnah phản đối chủ trương của Jawaharlal Nehru, ông ấy đưa ra tuyên bố vào ngày 17 tháng 6 năm 1947 : "Sau khi quyền thống trị tối cao Anh Quốc chấm dứt, từ phương diện hiến pháp và pháp luật mà nhìn, phiên vương quốc Ấn Độ sẽ là nước chủ quyền độc lập, họ sẽ có tự do đưa ra chọn lựa mà bản thân ưa thích". "Phiên vương quốc có thể gia nhập một cách tự do Hội nghị sửa đổi hiến pháp Ấn Độ hoặc Hội nghị sửa đổi hiến pháp Pakistan, hoặc quyết định giữ gìn bảo vệ độc lập. Trong tình hình cuối cùng, họ có thể chọn lựa họ giao kết quan hệ như thế nào với Hindustan hoặc Pakistan". Jinnah không tán thành quan điểm phiên vương quốc chỉ có khả năng chọn lựa gia nhập Hindustan hoặc Pakistan, lại biểu thị Pakistan hoan nghênh phiên vương quốc giữ gìn độc lập thiết lập bất kì hình thức quan hệ chính trị, thương mại hoặc kinh tế với Pakistan. "Tôi thấy rằng, nếu họ mong mỏi thì họ sẽ có tự do để giữ gìn bảo vệ độc lập. Chính phủ Anh Quốc hoặc Nghị viện Anh Quốc hoặc bất kì chính quyền hoặc đoàn thể nào khác đều không thể áp bức họ làm những việc trái với ý chí và nguyện vọng tự do của họ, họ cũng không có quyền lực làm ra quyết định này". Lập trường của Jinnah đương nhiên là xuất phát từ lợi ích thiết thân của Pakistan, một là, có thể đếm trên đầu ngón tay phiên vương quốc Hồi giáo sẽ gia nhập Pakistan, họ gia nhập Pakistan hay không, ảnh hưởng không lớn đối với việc tăng cường hoặc suy yếu của thế lực Pakistan ; hai là, nếu phiên vương quốc lớn độc lập, thì sẽ giảm thế lực của Ấn Độ, và lại làm thành nhân tố bó buộc Ấn Độ, cực kì có lợi cho Pakistan.

Dưới nỗ lực của Bá tước Mountbatten đời thứ nhất xứ Miến Điện Louis Mountbatten cùng với Bộ trưởng phiên vương quốc Ấn Độ Sardar Vallabhbhai Patel và V. K. Krishna Menon, đại đa số phiên vương quốc đều đã kí kết "Hiệp định gia nhập" với lãnh thổ tự trị Ấn Độ, đem ba thứ quyền lực của quốc phòng, ngoại giaogiao thông xuất nhượng cho chính phủ liên bang Ấn Độ, tất cả sự vụ còn lại vẫn do chính phủ phiên vương quốc nắm giữ và quản lí, trung ương không can thiệp. Chỉ có Hyderabad, Kashmir, Junagadh, Jodhpur, Bhopal, Indore và 5 phiên vương quốc khác còn do dự không dứt khoát. Travancore, Jodhpur, BhopalIndore bị ép bức dưới áp lực lớn mạnh của Ấn Độ, đã gia nhập liên bang Ấn Độ trước ngày 15 tháng 8. Vương công của phiên vương quốc Hyderabad Mir Osman Ali Khan trù tính nương tựa vào sự giàu có mà bản thân có được khiến cho Hyderabad trở thành nước độc lập hoặc gia nhập Pakistan cùng tôn giáo cùng họ hàng. Ngày 13 tháng 9 năm 1948, Jawaharlal Nehru quyết định chọn lấy hành động quân sự, ngày 18 tháng 9, quân đội chính phủ Ấn Độ tiến vào chiếm giữ Secunderabad, Hyderabad chính thức đầu hàng trước Ấn Độ, thu nhận vào liên bang dưới sự cai quản của trung ương. Chính phủ trung ương Ấn Độ chi tiền hằng năm ban cho quân chủ phiên vương quốc để đổi lấy phiên vương quốc hợp nhất vào liên bang Ấn Độ. Năm 1971, Ấn Độ thông qua tu chính án hiến pháp, xoá bỏ tiền hằng năm của quân chủ phiên vương quốc, tước hiệu của họ cũng bị bãi bỏ (chính phủ tuyên bố dựa vào lí do công dân bình đẳng), nhiều tài sản của vương công bị tịch thu nộp làm của công. Đến lúc này, cái gọi là thời đại của vương công quý tộc đã chấm dứt ngay tức khắc ở Ấn Độ.

Phiên vương quốc mong muốn gia nhập Lãnh thổ tự trị Pakistan chỉ có Bahawalpur, Chitral, Dir, Swat và Khairpur ở khu vực Balochistan. Chính phủ Lãnh thổ tự trị Pakistan lần lượt đã kí kết điều ước với họ ở Pakistan, đến năm 1972 phiên vương quốc bị xoá bỏ hoàn toàn.

Kashmir tên gọi đầy đủ Jammu và Kashmir, ở vào chân núi phía nam mạch núi Himalaya - điểm cực bắc của á lục địa Nam Á, diện tích là hơn 190.000 kilômét vuông, dân số chừng 5 triệu người. Năm 1946, thực dân Anh đã chiếm lĩnh Kashmir đem một khu vực này bán cho vương công phiên vương quốc Jammu tin thờ Ấn Độ giáo, sau khi hai khu vực Jammu và Kashmir gộp lại làm một, dân số theo Hồi giáo chiếm 77% cả phiên vương quốc, tín đồ Ấn Độ giáo chiếm 20%, còn lại là tín đồ Sikh giáoPhật giáo, do đó đã hình thành cục diện dân số theo Hồi giáo nhiều hơn, nhưng mà Hari Singh - vương công phiên vương quốc Jammu và Kashmir, là tín đồ Ấn Độ giáo. Tương phản quá đúng với Hyderabad, bởi vì Pakistan thất bại ở trong tranh chấp hai phiên vương quốc HyderabadJunagadh, do đó không thể dung thứ Ấn Độ tiếp tục đắc thế ở phiên vương quốc Kashmir một tranh chấp khác, cho dù đã chọn lấy lập trường cứng rắn chống lại mũi nhọn, lấy đa số cư dân phiên vương quốc là Hồi giáo làm cớ, chủ trương thông qua trưng cầu dân ý để quyết định nó thuộc về phía nào. Tuy nhiên vương công phiên vương quốc vào ngày 26 tháng 10 năm 1947 tuyên bố gia nhập Ấn Độ và yêu cầu quân đội phía Ấn Độ tiến vào. Nehru lúc đó cũng vứt bỏ không ngó ngáng tới nguyên tắc tự trị dân tộc, ngày 27 tháng 10, Ấn Độ đem quân đội chuyên chở đến Srinagar - thủ phủ phiên vương quốc bằng máy bay, do đó đã kích động nảy sinh Chiến tranh Ấn Độ - Pakistan lần thứ nhất. Ngày 20 tháng 1 năm 1948, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc thành lập Uỷ ban Ấn Độ - Pakistan, và lại thông qua nghị quyết giải quyết vấn đề Kashmir theo từng giai đoạn về dừng bắn, phi quân sự hoá và lấy trưng cầu dân ý để quyết định phiên vương quốc thuộc về phía nào. Hai phía Ấn Độ và Pakistan cùng chấp nhận về điều đó, vào ngày 1 tháng 1 năm 1949 đã thực hiện dừng bắn. Vào ngày 27 tháng 7 cùng năm, hai nước kí kết "Hiệp định Karachi", hoạch định đường dừng bắn, Ấn Độ đã kiểm soát 3/5 ruộng đất và 3/4 dân số của phiên vương quốc Kashmir, Pakistan đã kiểm soát 2/5 ruộng đất và 1/4 dân số, Kashmir từ đó bị chia cắt thành khu vực do Ấn Độ kiểm soát và khu vực do Pakistan kiểm soát.[2]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Ban biên tập "Từ điển lịch sử thế giới". "Từ điển lịch sử thế giới", nhà xuất bản Thượng Hải, tháng 5 năm 1985, trang 156.
  2. ^ Chính sách phiên vương quốc lúc Anh Quốc rút khỏi Ấn Độ, xem tập san Nghiên cứu Nam Á, kì 1 năm 2007.

Liên kết bên ngoàiSửa đổi