SM Entertainment

công ty giải trí ở Hàn Quốc
(đổi hướng từ S. M. Entertainment)

SM Entertainment (Hangul: SM엔터테인먼트) là một công ty giải trí của Hàn Quốc,[7] được thành lập vào năm 1995 bởi Lee Soo-man. Công ty đã phát triển nhiều ngôi sao nổi tiếng K-pop với lượng người hâm mộ toàn cầu to lớn.[8][9] SM được biết đến là người đã dẫn dắt hiện tượng K-pop toàn cầu và khía cạnh âm nhạc của "Hallyu",[10] còn được gọi là "Làn sóng Hàn Quốc". Đại diện của ngành công nghiệp giải trí ở châu Á, công ty điều hành kinh doanh giải trí toàn diện của riêng mình bao gồm phát triển nghệ sĩ, hãng thu âm, đào tạo năng khiếu nghệ thuật, sản xuất âm nhạc, xuất bản âm nhạc, quản lý sự kiện và tổ chức các buổi hòa nhạc.

SM Entertainment Co., Ltd.
Tên bản ngữ
에스엠 엔터테인먼트
SM 엔터테인먼트
Tên cũ
SM Studio (1989–1995)
Loại hình
Đại chúng
Mã niêm yếtKRX: 041510
Ngành nghề
Thể loại
Thành lập1989 (SM Studio)
14 tháng 2 năm 1995; 25 năm trước (1995-02-14) (SM Entertainment)
Người sáng lậpLee Soo-man
Trụ sở chínhSeoul, Hàn Quốc
Nhân viên chủ chốt
Lee Sung Soo (CEO)
Tak Young Jun (CMO)[1]
Sản phẩmÂm nhạc & Giải trí
Dịch vụ
  • Phân phối bản ghi
  • Cấp phép
  • Xuất bản
Doanh thuUS$-61,788,496 (2009)[2]
US$86,400,963 (2010)[2]
US$99,437,600 (2011)[3]
US$212,401,103 (2012) [4]
Tăng US$51 triệu (2012) [5]
Tăng US$63 triệu (2012)
Chủ sở hữu
Số nhân viên
1.667 (tính đến tháng 3 năm 2013)
Chi nhánh
  • SM Entertainment Japan Inc. (2001)
  • SM Entertainment USA Inc. (2008)
  • SM Brand Marketing (2008)
  • SM F&B Development (2008)
  • SM Amusement (2008)
  • SM True Co., Ltd (2011)
  • Dream Maker Entertainment (2012)
  • SM Entertainment Beijing Co., Ltd (2012)
  • SM Mobile Communications (2015)
  • galaxiaSM (kể từ 2015)
  • ESteem (kể từ 2015)
  • Mystic Story (kể từ 2017)
  • SM Planner (2017)
  • everysing (2017)
  • KEYEAST (kể từ 2018)
  • Million Market (kể từ 2018)
  • SM Entertainment Indonesia (kể từ 2019)
Công ty con
Websitewww.smtown.com
www.smentertainment.com

Nhãn hiệu này là cái nôi của các nghệ sĩ K-pop nổi tiếng như Kangta, S.E.S., BoA, TVXQ!, CSJH The Grace, Super Junior, Girls' Generation, J-Min, Shinee, f(x), Zhou Mi, EXO, Red Velvet, NCT, và cũng đã từng sản xuất các nghệ sĩ nổi tiếng như H.O.T., Fly to the Sky, Shinhwa, TraxX, và Henry Lau. Nó cũng quản lý một số diễn viên, bao gồm Kim Min-jong và Lee Yeon-hee. Tại Nhật Bản, SM Entertainment với Avex Trax cùng đồng quản lý cho các nghệ sĩ bao gồm Ayumi Hamasaki, Namie Amuro, và Koda Kumi, cũng như các nghệ sĩ của Johnny's Entertainment bao gồm ArashiKAT-TUN.[11]

Trong năm 2015, SM Entertainment đã báo cáo doanh thu là 325 tỷ KRW (khoảng 287 triệu USD) và thu nhập ròng là 21,7 tỷ KRW (19 triệu USD).[12]

Hiện nay, SM Entertaiment đã có mặt tại thị trường Việt Nam và cũng đã có trụ sở tại đây (T4, Crescent Mall quận 7, TpHCM), dự kiến từ nay cho đến quý IV cửa hàng SM&Cafe và SM&Store sẽ chính thức khai trương trong đó có góp mặt của người sáng lập Lee Soman, và một số nghệ sĩ của SMTOWN. SM&Store tại quận 7, TpHCM là cửa hàng thứ hai và đầu tiên của SM tại nước ngoài ngoài cửa hàng tại Gangnam, Hàn Quốc. Dù chưa chính thức công bố nhưng đã có một số hình ảnh của SMTOWN tại dự án Seoul Made Street (Times City) Hà Nội, có thể thấy ông lớn SM đang rất hứng thú với thị trường Việt Nam.

Lịch sửSửa đổi

1989–2002: Thành lập và thế hệ nghệ sĩ thứ nhấtSửa đổi

Sau khi tốt nghiệp trường Đại học California, Mỹ, Lee Soo-man trở về Hàn Quốc và sáng lập công ty SM Studio tại Apgujeong-dong, Gangnam, Seoul vào năm 1989. Công ty đổi tên thành S.M. Entertainment và bổ nhiệm Jung Hae-ik giữ chức vụ CEO vào tháng 2 năm 1995[13][14] S.M. phát triển một hệ thống đào tạo nội bộ và cho ra mắt một loạt các nghệ sĩ thành công bao gồm nhóm nhạc nam H.O.T. (1996), nhóm nhạc nữ S.E.S. (1997), nhóm nhạc nam Shinhwa (1998) và bộ đôi Fly to the Sky (1999). Kim Kyung-wook trở thành CEO của công ty vào năm 1998.

Đầu những năm 2000, H.O.T. và S.E.S. lần lượt tan rã, còn Shinhwa cũng chấm dứt hợp đồng với S.M. và chuyển sang công ty quản lý khác. Các nhóm nhạc mới như Isak N JiyeonBlack Beat không đạt được thành công như các nghệ sĩ đi trước. Năm 2001, công ty thành lập chi nhánh S.M. Entertainment Japan tại Nhật Bản và bắt đầu liên kết với hãng đĩa Nhật Bản Avex Trax. Cuối năm 2002, S.M. nhận được giải thưởng Grand Prix trong lĩnh vực xuất khẩu âm nhạc của Bộ Văn hóa và Du lịch Hàn Quốc.

2003–2011: Thế hệ nghệ sĩ thứ hai và phát triển ra thị trường quốc tếSửa đổi

Năm 2003, S.M. liên kết với Starlight Corporation và C-Cube Entertainment Corporation, đồng thời cho ra mắt nhóm nhạc nam năm thành viên TVXQ. Sau đó công ty tiếp tục thành lập ban nhạc TRAX (2004), nhóm nhạc nữ The Grace (2005) và nhóm nhạc nam Super Junior (2005).

Năm 2005, Kim Young-min được bổ nhiệm trở thành CEO thứ ba của S.M..[15] Từ đó công ty cho ra mắt nhiều nghệ sĩ với mục tiêu quảng bá ở các thị trường nước ngoài, bao gồm: nữ ca sĩ Zhang Liyin (2006), nữ ca sĩ J-Min (2007), nhóm nhạc nữ Girls' Generation (2007), nhóm nhạc nam SHINee (2008) và nhóm nhạc nữ f(x) (2009). Tháng 4 năm 2008, một nhóm nhỏ của Super Junior với tên gọi Super Junior-M được thành lập và bắt đầu hoạt động ở Trung Quốc. Tháng 5 năm 2008, S.M. thành lập SM Art Company nhằm sản xuất các vở kịch và nhạc kịch.[16]

Tháng 2 năm 2010, sau hai thập kỉ giữ cương vị tổng giám đốc, Lee Soo-man rút khỏi vị trí này nhằm "tập trung cho hoạt động kinh doanh tại nước ngoài và phát triển nghệ sĩ".[17] Tháng 3 năm 2010, S.M. hợp tác với YG Entertainment, JYP Entertainment, Star Empire, Medialine, CAN Entertainment và Music Factory để thành lập nhà phân phối âm nhạc KMP Holdings.[18] Tháng 5 năm 2010, S.M. đạt mức lợi nhuật quý cao nhất trong lịch sử: 10,4 tỷ won (tăng 471% so với cùng kỳ năm 2009).[19]

Tháng 4 năm 2011, S.M. cùng YG Entertainment, JYP Entertainment, KeyEast, AMENT, và Star J Entertainment thành lập United Asia Management. Tháng 8 năm 2011, S.M. hợp tác với công ty truyền thông Thái Lan TrueVisions để thành lập SM True.[20]

2012–nay: Thế hệ nghệ sĩ thứ ba và mở rộng lĩnh vực kinh doanhSửa đổi

Năm 2012, S.M. cho ra mắt nhóm nhạc nam EXO với hai nhóm nhỏ hoạt động lần lượt tại Hàn Quốc và Trung Quốc.[21] Tháng 2 năm 2012, S.M. mua lại công ty du lịch Happy Hawaii và thành lập SM Town Travel hoạt động ở lĩnh vực du lịch.[22][23] Tháng 3 năm 2012, 47 nghệ sĩ S.M., bao gồm Kangta, BoA, Zhang Liyin, Go Ara, Isak, Lee Yeon-hee và các thành viên của TVXQ, Super Junior, Girls' Generation, SHINeef(x) trở thành cổ đông của công ty.[24] Tháng 8 năm 2012, S.M. tổ chức triển lãm S.M.Art Exhibition tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm COEX.[25] SM Culture & Contents (SM C&C), bộ phận hoạt động ở lĩnh vực truyền hình của S.M., ký hợp đồng độc quyền với Kang Ho-dongShin Dong-yup.[26][27] Tháng 9 năm 2012, SM C&C hợp nhất với AM Entertainment, công ty quản lý của các diễn viên như Jang Dong-gun, Kim Ha-neulHan Ji-min,[28] đồng thời Lee Su-geunKim Byung-man cũng được thông báo là đã ký hợp đồng với S.M..[29]

Năm 2013, SM C&C mua lại Hoon Media, công ty sản xuất các chương trình truyền hình, và Woollim Entertainment, công ty quản lý của nhóm nhạc nam Infinite.[30] Tháng 8 năm 2014, S.M. cho ra mắt Red Velvet.

Tháng 8 năm 2015, S.M. hợp tác với IB Worldwide để thành lập Galaxia SM, công ty quản lý của các động viên như tay golf Park In-bee, vận động viên thể dục nhịp điệu Son Yeon-jae và cầu thủ bóng chày Choo Shin-soo. Ngày 6 tháng 11, 10 năm kể từ ngày ra mắt công chúng của Super Junior, S.M. công bố việc thành lập hãng đĩa con Label SJ dành riêng cho các thành viên và nhóm nhỏ của nhóm.[31] Công ty cũng đưa vào hoạt động chuỗi cửa hàng SUM Market và nhà hàng SMT tại Seoul.[32]

Tháng 1 năm 2016, Lee Soo-man tổ chức một cuộc hội thảo tại SM Coex Artium để giới thiệu về kế hoạch cho ra mắt nhóm nhạc nam mới NCT với số lượng thành viên "không giới hạn".[33][34] Các nhóm nhỏ đầu tiên của NCT–NCT U, NCT 127 và NCT Dream–lần lượt ra mắt công chúng trong suốt năm 2016.[35] Tháng 5 năm 2016, S.M. thành lập hãng đĩa con ScreaM Records tập trung vào thể loại nhạc dance điện tử.[36][37] Công ty cũng triển khai dự án âm nhạc Station với nội dung phát hành một bài hát vào thứ Sáu hàng tuần trong 52 tuần, và cho ra mắt một số ứng dụng dành cho các thiết bị di động.[38]

 
Họp báo cho SM Town Live World Tour III tại Bangkok

Tháng 3 năm 2017, SM Entertainment thông báo đã mua 28% số cổ phiếu của MYSTIC Entertainment. Đây là công ty thành lập năm 2001 bởi Yoo JongShin. Công ty con của SM Entertainment là SM C&C sẽ bắt đầu quản lí việc sản xuất các video ca nhạc cho Mystic Ent.

Các công ty SM Entertainment đã đầu tư trước đây bao gồm AM Entertainment (năm 2012), Hoon Media (năm 2013), Baljunsoo (năm 2013).

Sáng ngày 14/3/2018, tràn ngập các mặt báo Hàn là thông tin về việc SM mua lại cổ phần của Key East Entertainment và FNC Add Culture. Ông lớn của Kpop đã mua 31% số cổ phần của FNC Add Culture, trở thành cổ đông lớn nhất của công ty này. Với Key East Entertainment, SM mua lại 25,12% số cổ phần.

Danh sách nghệ sĩSửa đổi

Tất cả các nghệ sĩ hoạt động dưới sự quản lý của S.M. Entertainment được biết đến với tên gọi chung là SM Town.[39]

Âm nhạcSửa đổi

Diễn viênSửa đổi

Nhân vật truyền hìnhSửa đổi

Người mẫuSửa đổi

Phòng thuSửa đổi

Thực tập sinhSửa đổi


Một nhóm các thực tập sinh của S.M. Entertainment đã và đang xuất hiện trong nhiều hoạt động quảng bá với tên gọi chung là "S.M. Rookies".[40] Một số thực tập sinh trong nhóm này đã "tốt nghiệp" và ra mắt công chúng với tư cách thành viên các nhóm nhạc Red VelvetNCT. Các thực tập sinh chưa tốt nghiệp bao gồm:

  • Hina (sinh năm 2000)
  • Ningning (sinh năm 2002)

Cựu nghệ sĩSửa đổi

Cựu thực tập sinh nổi bậtSửa đổi

PhimSửa đổi

Đối tácSửa đổi

Tính đến tháng 6 năm 2014:

Phân phối nhãn hiệuSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Sau khi H.O.T. tan rã vào năm 2001, các thành viên Jang Woo-hyuk, Tony AnLee Jae-won rời khỏi S.M. Entertainment và thành lập nhóm nhạc ba thành viên jtL. Moon Hee-jun và Kangta ở lại công ty và trở thành các ca sĩ solo. Moon Hee-jun rời khỏi công ty vào năm 2005.
  2. ^ Khi hợp đồng giữa Shinhwa và S.M. Entertainment chấm dứt vào năm 2003, công ty chỉ đề nghị tiếp tục ký hợp đồng với Eric Mun, Shin Hye-sung, Andy Lee, Jun JinLee Min-woo. Tuy nhiên các thành viên đã từ chối nhằm giữ nguyên đội hình và chuyển sang hoạt động dưới sự quản lý của Good Entertainment. S.M. Entertainment cũng đã gây tranh cãi khi không cho phép nhóm tiếp tục sử dụng tên gọi "Shinhwa", tuy nhiên nhóm đã khởi kiện và được tòa cho phép sử dụng tên gọi này.
  3. ^ M.I.L.K được thành lập bởi công ty con BM Entertainment của S.M. Entertainment và tan rã khi thành viên Bae Yu-mi rời nhóm vào năm 2003.
  4. ^ Sau khi Isak 'N' Jiyeon tan rã vào năm 2004, Jiyeon đổi nghệ danh thành Lina và gia nhập nhóm nhạc nữ The Grace vào năm 2005. Isak trở thành VJ và DJ phát thanh cho Arirang và rời khỏi S.M. Entertainment vào năm 2012.
  5. ^ a ă â Kim Jae-joong, Park Yoo-chun và Kim Junsu ra mắt công chúng với tư cách thành viên của TVXQ vào năm 2003. Ba người cùng nhau khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và ngừng hoạt động cùng nhóm vào năm 2009, sau đó thành lập nhóm nhạc JYJ vào năm 2010.
  6. ^ a ă No Min-woo (nghệ danh Rose) và Kang Jung-woo (nghệ danh Attack) ra mắt công chúng với tư cách thành viên của TRAX vào năm 2004.
  7. ^ ra mắt công chúng với tư cách thành viên của Super Junior vào năm 2005. Anh khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và rời khỏi công ty vào năm 2009.
  8. ^ Jessica ra mắt công chúng với tư cách thành viên của Girls' Generation vào năm 2007. Cô ngừng hoạt động cùng nhóm vào tháng 9 năm 2014 và rời khỏi S.M. Entertainment vào tháng 8 năm 2015.
  9. ^ Kibum ra mắt công chúng với tư cách thành viên của Super Junior vào năm 2005. Anh ngừng hoạt động cùng nhóm vào năm 2009 và rời khỏi S.M. Entertainment vào tháng 8 năm 2015.
  10. ^ Stephanie ra mắt công chúng với tư cách thành viên của The Grace vào năm 2005. Cô rời khỏi S.M. Entertainment vào tháng 5 năm 2016.
  11. ^ Kris ra mắt công chúng với tư cách thành viên của EXO vào năm 2012. Anh khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và ngừng hoạt động cùng nhóm vào tháng 5 năm 2014, sau đó rời khỏi công ty vào tháng 7 năm 2016.
  12. ^ Luhan ra mắt công chúng với tư cách thành viên của EXO vào năm 2012. Anh khởi kiện S.M. Entertainment nhằm chấm dứt hợp đồng và ngừng hoạt động cùng nhóm vào tháng 10 năm 2014, sau đó rời khỏi công ty vào tháng 7 năm 2016.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “SM엔터, 김영민·남소영 공동대표 선임…그룹사도 대표 인사 [공식]”. entertain.naver.com (bằng tiếng Hàn). Ngày 31 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2019. 
  2. ^ a ă allkpop.com (ngày 14 tháng 4 năm 2011). “SM, YG, & JYP Entertainment earned a combined revenue of $150 million USD in 2010”. Naver. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2011. 
  3. ^ (tiếng Triều Tiên) The Star (ngày 31 tháng 5 năm 2012). “The Sales Revenue From SM, YG and JYP Entertainment Revealed”. The Star. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2012. 
  4. ^ (tiếng Triều Tiên) Star News (ngày 4 tháng 3 năm 2013). “SM·YG, 2012년 '사상최대' 총매출 2682억·순이익 543억”. Star News. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2013. 
  5. ^ “How much profit did SM Entertainment and YG Entertainment earn in 2012? allkpop.com”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  6. ^ “FNC, SM과 전략적 제휴…'SM라이프디자인그룹'으로 사명 변경(공식)”. 
  7. ^ “`배용준 사단` 품은 SM, 1조 엔터공룡 됐다” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018. 
  8. ^ “: The big 3 of Korean pop music and entertainment:The DONG-A ILBO”. english.donga.com. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  9. ^ Forbes Staff (ngày 31 tháng 7 năm 2013). “Korea's S.M. Entertainment: The Company That Created K-Pop”. Forbes. 
  10. ^ “[단독] SM 스타 및 직원 350여명,하와이로 대규모 단합 대회 떠난다…각종 화제, 진풍경 잇따라” (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2018. 
  11. ^ “SMTOWN J-POP ZONE”. S.M. Entertainment. 
  12. ^ “041510.KQ Income Statement | S.M. Stock - Yahoo! UK & Ireland Finance”. uk.finance.yahoo.com. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  13. ^ Friedrichsen, Mike; Mühl-Benninghaus, Wolfgang (2013). Handbook of Social Media Management: Value Chain and Business Models in Changing Media Markets. Berlin: Springer Science & Business Media. tr. 553. ISBN 978-3-642-28896-8. 
  14. ^ “소년공화국 "이름 때문에 북한 아이돌 아니냐더라". Daum 연예. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  15. ^ “After 20 years, S.M. Entertainment to expand overseas base”. koreatimes. 7 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  16. ^ Koh Young-aah "Super Junior members set to make move into musicals" Korea Herald. ngày 30 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2012.
  17. ^ Kun-ouc, Park (ngày 25 tháng 2 năm 2010). “Lee Soo-man steps down from SM board of directors”. 10 Asia. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2012. 
  18. ^ "Korean Music Power: KMP Holdings Co. Ltd. Launched!" Maeil Kyungje. ngày 18 tháng 3 năm 2010. Truy cập 2012-10-06 (tiếng Triều Tiên)
  19. ^ Kim, Lynn (ngày 13 tháng 5 năm 2010). “SM Entertainment records biggest Q1 profit”. 10 Asia. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2012. 
  20. ^ “SM 엔터, 태국서 첫 해외 합작법인 'SM True' 설립” [SM Entertainment establishes joint venture company with Thailand’s True Visions Group, ‘SM True’]. Naver News (bằng tiếng Triều Tiên). Ngày 17 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  21. ^ “SM 새 그룹 EXO, 30일 프롤로그 싱글 공개”. 네이트뉴스 (bằng tiếng ko-KR). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  22. ^ Mun, Wan-Sik (ngày 27 tháng 2 năm 2012). “SM Entertainment takes over travel agency”. Star News. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2012. 
  23. ^ “S.M.Global Package On Sale!”. www.smtowntravel.com. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  24. ^ Kim, JiYeon "SM Artists Take on SM Stock" Mnet News. ngày 27 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2012.
  25. ^ Kim, Hyung-eun (ngày 10 tháng 8 năm 2012). “Fantasies come true at the high-tech S.M.ART exhibit”. Joongang Daily. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  26. ^ Lee, JinHo (ngày 17 tháng 8 năm 2012). “Kang Ho Dong Announces Return by Signing with SM C&C”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012. 
  27. ^ Choi, Eunhwa (ngày 18 tháng 8 năm 2012). “Three Reasons Why Kang Ho Dong Signed with SM”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012. 
  28. ^ Ho, Stewart (ngày 19 tháng 9 năm 2012). “SM C&C Takes Over AM Entertainment – Home to Jang Dong Gun, Kim Ha Neul and Others”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  29. ^ Ho, Stewart (ngày 19 tháng 9 năm 2012). “Lee Su Geun, Kim Byung Man Join Kang Ho Dong at SM C&C?”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2012. 
  30. ^ Aysohmay (ngày 9 tháng 8 năm 2013). “SM Entertainment Acquires Woollim Entertainment, Creates New Sublabel”. Jpopasia. Jpopasia. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2016. 
  31. ^ “KPOP NEWS - Exclusive Super Junior Label ′Lable SJ′ Established for 10th Anniversary”. Mwave. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  32. ^ “SM Entertainment opens up-scale restaurant SMT Seoul - Pulse by Maeil Business News Korea”. pulsenews.co.kr. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  33. ^ “SM Entertainment’s next boy band to have ‘unlimited’ members”. kpopherald.koreaherald.com. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  34. ^ “S. Korea firm unveils K-pop band with limitless members”. www.yahoo.com. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  35. ^ “SM's new K-pop band NCT U to debut this week”. koreatimes. 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  36. ^ “SM’s EDM label to drop first track”. The Korea Herald. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  37. ^ “SM, EDM레이블 'ScreaM Records' 설립..5월6일 첫곡 발표”. Naver. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  38. ^ Yi, Lily. “Introducing NCT: How SM Entertainment is taking advantage of digital platforms to take over the global entertainment market”. www.koreadailyus.com. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2016. 
  39. ^ “SMTOWN”. Truy cập 8 tháng 2 năm 2015. 
  40. ^ “SM Rookies”. S.M. Entertainment. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  41. ^ Choi, EunHwa (ngày 9 tháng 5 năm 2012). “G-Dragon was Actually a SM Trainee?”. enewsWorld. CJ E&M. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012. 
  42. ^ “[Interview] Gong Seung Yeon Opens Up About Trainee Days with Red Velvet′s Seulgi, SUJU′s Henry and f(x)′s Sulli”. enewsWorld. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016. 
  43. ^ “Heo Young Saeng’s Web of Celebrity Friends”. enewsWorld. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013. 
  44. ^ “Kara’s Park Gyuri Says She Almost Debuted With CSJH’s Dana”. enewsWorld. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016. 
  45. ^ “프로듀스 101 유연정, 소녀시대 '다시 만난 세계' 완벽 소화… 제아의 인정 받아”. ChosunBiz (bằng tiếng Triều Tiên). ChosunBiz. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2016. 
  46. ^ “SM Entertainment signs partnership with 'Kakao'. allkpop. Ngày 10 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2013. 
  47. ^ Media Asia Music

Liên kết ngoàiSửa đổi