Red Velvet (tiếng Triều Tiên: 레드벨벳, phiên âm: Ledeu Belbes; tiếng Nhật: レッドベルベット, phiên âm: Reddo Berubetto) là một nhóm nhạc nữ Hàn Quốc được thành lập và quản lý bởi công ty SM Entertainment. Nhóm chính thức ra mắt vào ngày 1 tháng 8 năm 2014 với đội hình 4 thành viên gồm: Irene, Seulgi, Wendy, Joy và được bổ sung thành viên thứ 5 Yeri vào ngày 10 tháng 3 năm 2015.

Red Velvet
Red Velvet at Korea Popular Music Awards red carpet on December 20, 2018 (2).png
Red Velvet tại thảm đỏ Korea Popular Music Awards vào tháng 12 năm 2018
Từ trái sang phải: Joy, Yeri, Irene, Seulgi, Wendy.
Thông tin nghệ sĩ
Nguyên quánHàn Quốc Seoul, Hàn Quốc
Thể loạiK-pop
Năm hoạt động2014 (2014) – nay
Công ty quản lýSM Entertainment
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websiteredvelvet.smtown.com (tiếng Hàn)
redvelvet-jp.net (tiếng Nhật)
Thành viên hiện tại

Kể từ khi ra mắt, Red Velvet đã có nhiều kinh nghiệm và được công nhận. Mini album đầu tiên của nhóm Ice Cream Cake đứng đầu trên Gaon Album Chart vào đầu năm 2015. Tương tự, album đầu tiên của nhóm The Red (2015), và các mini album tiếp sau đó là The Velvet, Russian Roulette phát hành vào năm 2016 và Rookie (2017) đều đạt được vị trị số 1 trên Gaon Album Chart. Ngoài ra, The Red, RookieThe Red Summer (2017) cũng đứng đầu trên Billboard World Albums, và với việc phát hành album phòng thu thứ hai của nhóm Perfect Velvet (2017), nhóm trở thành nhóm nhạc K-pop với album đứng vị trí số 1 nhiều nhất trên bảng xếp hạng.[1][1][2] Nhóm cũng nhận được một số giải thưởng cho âm nhạc, vũ đạo hoặc độ phổ biến, bao gồm Golden Disc Awards cho New Artist Award và Mnet Asian Music Award cho Best Female Group năm 2017.

Các thành viên của Red Velvet cũng xuất hiện trên truyền hình: Irene là host của Music Bank,[3] Yeri là host của Show! Music Core,[4] Joy trong mùa thứ tư của chương trình We Got Married và là vai chính trong bộ phim The Liar and His Lover,[5][6] Seulgi trong bộ phim truyền hình thực tế Idol Drama Operation Team, và Wendy là short-time host cho K-Rush của KBS World.

Ý nghĩa tên gọiSửa đổi

Tên nhóm được đặt bởi Lee Soo-man và còn được công ty chủ quản SM Entertainment lý giải như: "Red" có nghĩa là màu đỏ, đây là một màu sắc nổi bật và vô cùng quyến rũ; "Velvet" có nghĩa là vải nhung, đây là loại chất liệu mang đến một cảm giác mềm mại và vô cùng nữ tính. Cả "Red" và "Velvet" đi cùng với nhau đã nói lên phong cách âm nhạc cũng như hình ảnh của nhóm[7]. Ngày 29 tháng 7 năm 2014, một nhóm nhạc độc lập tại Hàn Quốc ra mắt năm 2013 cũng mang tên "Red Velvet" lên tiếng mong muốn bảo vệ tên gọi của mình. Sau một buổi gặp mặt giữa đại diện công ty và nhóm nhạc Red Velvet, cả hai bên đi đến thỏa thuận chia sẻ tên gọi chung này[8].

Red Velvet chính thức giới thiệu màu bóng chính thức vào tháng 6 năm 2017, tên gọi của nó là Pastel Coral[9].

Lịch sửSửa đổi

Trước khi ra mắtSửa đổi

Seulgi là thành viên đầu tiên trở thành thực tập sinh của SM Entertainment thông qua một cuộc tuyển chọn vào năm 2007. IreneYeri được tuyển chọn lần lượt vào năm 2009 và 2010. Năm 2012, WendyJoy trở thành thực tập sinh thông qua hệ thống tuyển chọn S.M. Global Auditions được tổ chức lần lượt tại CanadaHàn Quốc.[10] Irene, SeulgiWendy ban đầu được công ty giới thiệu tới công chúng với tư cách là thành viên nhóm thực tập sinh SM Rookies vào năm 2013 và 2014, họ được rumor rằng sẽ ra mắt trong một nhóm nhạc vào tháng 7, sau đó được xác nhận bởi S.M. Entertainment.[11][12][13] Với việc bổ sung thành viên Joy, nhóm có bốn thành viên và tên nhóm chính thức là Red Velvet, họ là nhóm nhạc nữ đầu tiên sau 5 năm của S.M. Entertainment kể từ khi f(x) ra mắt.[14]

2014: Ra mắt với HappinessBe NaturalSửa đổi

 
Red Velvet vào tháng 12 năm 2014

Ngày 1 tháng 8, nhóm biểu diễn lần đầu tiên trên truyền hình trong chương trình âm nhạc Music Bank.[15] Đĩa đơn đầu tay của nhóm, "Happiness", được phát hành trực tuyến vào ngày 4 tháng 8.[16] Được Will Simms, Chad Hugo, Chris Holsten, Anne Judith Wik sáng tác và Yoo Young-jin phổ lời, "Happiness" là một bài hát Europop với giai điệu và tiết tấu mạnh mẽ.[17] Video âm nhạc của bài hát đạt trên 2 triệu lượt xem trên YouTube trong vòng 24 giờ từ khi được đăng tải, nhưng sau đó bị gỡ bỏ do sử dụng một số hình ảnh gây tranh cãi liên quan đến vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, và được thay thế bằng một phiên bản đã chỉnh sửa. "Happiness" đã trở thành video âm nhạc K-pop được xem nhiều thứ hai trên YouTube trong tháng 8 năm 2014.[18]

Ngày 13 tháng 10 năm 2014, Red Velvet phát hành đĩa đơn nhạc số thứ hai, "Be Natural", cũng như video âm nhạc chính thức của bài hát.[19] Với sự góp mặt của Taeyong, hiện là thành viên nhóm nhạc nam NCT, "Be Natural" là một phiên bản thu lại của bài hát đã được S.E.S., nhóm nhạc nữ đầu tiên của S.M. Entertainment, phát hành vào năm 2000.[20] MV này được quay bởi Kwon Soon-wook và Shim Jae-won, biên đạo bởi Kyle Hanagami.[21][22] Nhóm bắt đầu quảng bá vào ngày 9 tháng 10, lần đầu tiên xuất hiện trên chương trình âm nhạc M Countdown.[23] Bài hát đạt vị trí thứ 33 trên Gaon Digital Chart và vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[24][24]

2015: Thành viên mới Yeri, Ice Cream CakeThe RedSửa đổi

 
Red Velvet tại KCON 2015.

Ngày 11 tháng 3 năm 2015, cựu thành viên SM Rookies Yeri được chính thức bổ sung vào đội hình của Red Velvet.[25] Ngày 15 tháng 3, nhóm phát hành mini-album đầu tay Ice Cream Cake với hai đĩa đơn "Automatic" và "Ice Cream Cake".[26][27] Ngày 27 tháng 3, Red Velvet giành được chiến thắng đầu tiên kể từ khi ra mắt với "Ice Cream Cake" trên chương trình Music Bank. Ice Cream Cake là album của một nhóm nhạc nữ bán chạy nhất nửa đầu năm 2015 tại Hàn Quốc.[28] Tháng 8 năm 2015, Red Velvet biểu diễn lần đầu tiên tại Mỹ trong lễ hội âm nhạc thường niên KCON được tổ chức ở Los Angeles, California, Hoa Kỳ.[29]

Ngày 9 tháng 9, Red Velvet phát hành album phòng thu đầu tay The Red bao gồm mười bài hát trong đó có đĩa đơn "Dumb Dumb".[30] Album nhận được phản ứng tích cực từ giới phê bình,[31] đồng thời đạt vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng World Albums của Billboard và bảng xếp hạng album Gaon của Hàn Quốc.[32] Album cũng lọt vào top 10 album K-pop xuất sắc nhất năm 2015 do Billboard bình chọn.[33] Đĩa đơn "Dumb Dumb" đạt vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard và lọt vào top 20 bài hát K-pop xuất sắc nhất năm 2015 do Dazed bình chọn.[34] Video âm nhạc của "Dumb Dumb" cũng lọt vào top 10 video âm nhạc xuất sắc nhất năm 2015 do Rolling Stone bình chọn.[35] Ngày 18 tháng 12, Red Velvet phát hành bài hát "Wish Tree" thuộc dự án âm nhạc Winter Garden của SM Entertainment.[36]

2016: The VelvetRussian RouletteSửa đổi

 
Red Velvet biểu diễn vào ngày 18 tháng 5 năm 2016.

Mini-album thứ hai của Red Velvet, The Velvet, được lên kế hoạch phát hành vào ngày 16 tháng 3 năm 2016. Tuy nhiên, 10 phút trước thời điểm như đã công bố, SM Entertainment thông báo hoãn việc phát hành lại "nhằm đảm bảo chất lượng tốt hơn".[37] Do đó, album và đĩa đơn "One of These Nights" (tên tiếng Hàn: 7월 7일; Romaja quốc ngữ: 7wol 7il ) được phát hành vào ngày 17 tháng 3.[38] Với phong cách âm nhạc R&B, The Velvet thể hiện khía cạnh "velvet" nhẹ nhàng, nữ tính trong hình tượng của nhóm, tương phản với khía cạnh "red" sôi động, táo bạo ở The Red.[39] "One of These Nights" đã giành chiến thắng năm lần trên các chương trình âm nhạc Hàn Quốc. Vào tháng 5, nhiều tờ báo tại Hàn Quốc đưa tin rằng nhóm đang chuẩn bị phát hành album mùa hè. Mặc dù đã bị hoãn nhiều lần nhưng cuối cùng nhóm đã phát hành mini album thứ ba của họ Russian Roulette vào ngày 7 tháng 9.[40][41] Album bao gồm bảy bài hát với cả khúc chủ đề "Russian Roulette".[42] Vào ngày 13 tháng 9 năm 2016, Red Velvet đã giành chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc cho Russian Roulette trên The Show.[43] Bài hát chủ đề đạt vị trí thứ hai trên Gaon Digital Chart và bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard, vị trí cao nhất của nhóm trên cả hai bảng xếp hạng vào thời điểm đó.[44]Bài hát chủ đề đã giành được 6 cúp âm nhạc trong các tần quảng bá. MV ca nhạc của bài hát "Russian Roulette" đạt được 100 triệu lượt xem trên YouTube, đây là MV đầu tiên của nhóm đạt được thành tích này.

2017: Rookie, The Red Summer, concert đầu tiên và Perfect VelvetSửa đổi

Ngày 1 tháng 2 năm 2017, Red Velvet phát hành mini-album thứ tư Rookie.[45] Mini album bao gồm 6 bài hát, bao gồm bài hát chủ đề "Rookie", và cũng có bài hát solo của Wendy với tựa đề "Last Love" (tiếng Hàn: 마지막 사랑; Romaja quốc ngữ: majimag salang). Album đạt vị trí thứ nhất trên cả hai bảng xếp hạng Gaon Album ChartBillboard World Albums.[46] Nhóm giành chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc cho "Rookie" trên The Show vào ngày 7 tháng 2, tiếp đó là chiến thắng trên Show Champion, M Countdown, Music Bank,Inkigayo.[47][48][49] Vào ngày 31 tháng 3, nhóm phát hành single đầu tiên cho SM Station 2 "Would U".[50] Giúp cho việc quảng bá, từ ngày 27 tháng 7 đến 10 tháng 9, Red Velvet bắt đầu chương trình truyền hình thực tế đầu tiên của nhóm Level Up Project cho thấy các cảnh quay trong chuyến đi của năm thành viên đến Thái Lan. Chương trình kéo dài trong 23 tập mà không có sự tham gia của thành viên Joy vì cô phải quay hình của The Liar and His Love, bộ phim mà cô đảm nhận vai chính.[51]

Ngày 26 tháng 4 năm 2017, Red Velvet công bố tên fandom chính thức là ReVeluv. Tên fandom của nhóm không chỉ là kết hợp giữa hai từ "Red Velvet" và "Love" mà còn đọc giống "Level Up" khi phát âm tiếng Hàn. Đồng thời cũng là cách viết tắt của Red Velvet luv - tượng trưng cho tình yêu giữa fan và Red Velvet. "Rêve" trong tiếng Pháp cũng có nghĩa là giấc mơ, ước mơ.

 
Red Velvet tại đại hội thể thao ISAC vào tháng 1 năm 2017

Ngày 9 tháng 7 năm 2017, Red Velvet phát hành mini-album thứ năm The Red Summer gồm 5 bài hát với ca khúc chủ đề "Red Flavor"(tiếng Hàn: 빨간 맛; Romaja quốc ngữ: ppalgan mas).[52], đánh dấu sản phẩm phát hành vào mùa hè đầu tiên của nhóm.[53] Mini-album tiếp tục đứng đầu cả hai bảng xếp hạng Gaon Album Chart của Hàn QuốcWorld Albums Chart của Billboard. "Red Flavor" cũng đạt vị trí thứ nhất trên cả hai bảng xếp hạng Gaon Digital ChartGaon Download Chart.[54] Ngoài ra, "Red Flavor" lần đầu xuất hiện trên Gaon Digital Chart và Gaon Download Chart với 4 bài hát khác cũng nằm trong Top 50 of the Digital Chart.[55] Baị hát được Billboard bình chọn là bài hát Kpop hay nhất năm 2017.

Tháng 8 năm 2017, nhóm phát hành một bài hát nữa cho dự án Station với tựa đề "Rebirth".

Từ ngày 18 đến ngày 20 tháng 8, Red Velvet tổ chức concert đầu tiên của nhóm với tên gọi "Red Room" tại Seoul, Hàn Quốc. Ba đêm diễn đã thu hút tổng cộng 11.000 khán giả.[56]

Vào ngày 4 tháng 10, SM Entertainment thông báo qua trang web tiếng Nhật rằng nhóm sẽ có showcase đầu tiên tại Nhật Bản.[57] "Red Velvet Premium Showcase F'U'N Room Reveluv-Baby Party" diễn ra tại Yebisu The Garden Hall ở Tokyo vào ngày 6 tháng 11.[58] Ở đó, họ trình diễn phiên bản tiếng Nhật của "Dumb Dumb" và "Red Flavor" lần đầu tiên.[59] Sau khi kết thúc buổi showcase, họ đã thông báo chính thức rằng concert "Red Room" sẽ được tổ chức tại Nhật Bản trong năm 2018. Dự kiến sẽ diễn ra vào ngày 28 và 29 tháng 3 tại Trung tâm thể thao Musashino Forest với 10,000 chỗ ngồi và là nơi sẽ tổ chức 2020 Tokyo Olympics.[60]

Red Velvet thể hiện lại phong cách "velvet" của nhóm trong album phòng thu thứ hai, Perfect Velvet được phát hành vào ngày 17 tháng 11 với ca khúc chủ đề "Peak-a-Boo".[61] Không giống như lần phát hành đầu tiên của họ "velvet", album và đĩa đơn đều thành công về mặt thương mại.[62] Album đạt vị trí thứ nhất trên World Album Chart của Billboard. "Peek-a-Boo" đạt vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng World Digital Songs của Billboard.[63] Tại Hàn Quốc, album và đĩa đơn "Peek-a-Boo" đều đạt vị trí thứ 2 trên Gaon Album Chart và Gaon Digital Chart.[64][65]

2018: The Perfect Red Velvet, #Cookie Jar, Summer MagicRBBSửa đổi

 
Red Velvet vào ngày 2 tháng 9 năm 2018

Nhóm đã phát hành phiên bản repackaged cho album phòng thu thứ hai, The Perfect Red Velvet vào ngày 29 tháng 1 năm 2018. Album bao gồm các ca khúc trong Perfect Velvet và bổ sung 3 ca khúc mới trong đó có ca khúc chủ đề "Bad Boy".[66]

Album đứng đầu trên Gaon Album Chart, sau khi phát hành "Bad Boy" ra mắt tại vị trí thứ nhất trên Download Chart của Gaon và vị trí thứ hai Gaon Digital Chart.[67] The Perfect Red Velvet cũng xếp vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng World Albums của Billboard trong khi "Bad Boy" ra mắt tại vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng World Digital Songs. Red Velvet quảng bá trên nhiều chương trình truyền hình âm nhạc Hàn Quốc, chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc cho "Bad Boy" là trên Show Champion vào ngày 7 tháng 2.[68]Đến năm 2019, MV ca nhạc của bài hát 'Bad Boy' là MV đầu tiên của Red Velvet đạt 200 triệu lượt xem trên YouTube. Với hơn 500,000 đơn vị được tiêu thụ ở Mỹ, Bad Boy đã trở thành ca khúc đầu tiên của Red Velvet đủ tiêu chuẩn để đạt Chứng nhận Vàng của Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Mỹ (RIAA).. Đây cũng là bài hát duy nhất của Red Velvet và của các nghệ sĩ thuộc SMent đạt 100 triệu lượt nghe trên nền tảng nghe nhạc Spotify, Red Velvet cũng là nhóm nhạc nữ Kpop thứ 3 sở hữu bài hát đạt được thành tích này. Đồng thời, đây cũng là bài hát đạt được nhiều lượt nghe nhất trên Spotify của các nghệ sĩ trực thuộc SM Entertainment, tính đến ngày 25 tháng 2 năm 2020 là 110.742.649 lượt. "Bad boy" được Billboard bình chọn là bài hát Kpop hay nhất năm 2018.

Vào ngày 20 tháng 3 năm 2018, S.M Entertainment thông báo rằng Red Velvet sẽ trình diễn cùng các nghệ sĩ khác của Hàn Quốc cho buổi concert Hàn Quốc tại Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên. Điều này khiến nhóm trở thành nghệ sĩ đầu tiên từ SM Entertainment trong 15 năm kể từ khi Shinhwa biểu diễn tại Bắc Triều Tiên.[69]

Ngày 6 tháng 8 năm 2018, Red Velvet cho ra mắt mini album thứ 6 mang tên Summer Magic với ca khúc chủ đề là " Power Up". Sau khi ra mắt "Power Up" trở thành ca khúc đầu tiên của Red Velvet đạt perfect all-kill trên các bảng xếp hạng nhạc số. Red Velvet cũng là nghệ sĩ thuộc S.M Entertainment đầu tiên đạt perfect all-kill. Đây cũng là bài hát đạt được nhiều cúp nhất trên các chương trinh âm nhạc của nhóm, với 10 cúp bao gồm 5 chương trình âm nhạc khác nhau. Album "Summer Magic" là album đầu tiên của nhóm đạt top 1 bảng xếp hạng iTunes. Video ca nhạc của bài hát lọt top 100 video xuất sắc nhất Youtube năm 2018 và là MV Kpop duy nhất lọt vào bảng xếp hạng này. 'Power Up' là bài hát đầu tiên của nhóm "chạm nóc" bảng xếp hạng Realtime của Melon.

Đĩa đơn RBB (Really Bad Boy) được ra mắt vào ngày 30 tháng 11 năm 2018. Bài hát bị Knet chỉ trích vì giai điệu khó nghe. Tuy nhiên đây là bài hát đầu tiên của Red Velvet đạt vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng World Digital Song Sales của Billboard. Đây là album trụ trên bảng xếp hạng World Album của Billboard lâu thứ 3 của Red Velvet với 7 tuần liên tiếp.

2019: Tiếp tục lưu diễn, mini album tiếng Nhật thứ hai và bộ ba album thuộc series The ReVe FestivalSửa đổi

Ngày 6 tháng 1, Red Velvet trở lại với đĩa đơn nhạc số tiếng Nhật đầu tiên 'Sappy', tiếp sau đó là đĩa đơn 'Sayonara' phát hành ngày 20 tháng 2. Cả hai bài hát đều được đưa vào mini album tiếng Nhật thứ hai của nhóm ngày 29 tháng 5 mang tên 'Sappy'. Album này còn có phiên bản tiếng Nhật của các bài hát chủ đề trước đó là 'Peek-A-Boo', 'Rookie' và 'Power Up' cùng bài hát mới 'Swimming Pool'.

Vào tháng 2, nhóm công bố lịch trình chuỗi concert "REDMARE" ở Bắc Mỹ. Concert được tổ chức Los Angeles, Dallas, Miami, Chicago, Newark, TorontoVancouver, trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc đầu tiên tổ chức tour Bắc Mỹ trong vòng ba năm trở lại đây.

Ngày 5 tháng 4, Red Velvet góp mặt trong bản remix ca khúc "Close to Me" của Ellie GouldingDiplo. Nhóm đã thêm phần lời tiếng Hàn vào bài hát. Ca khúc đã giành được giải thưởng 'Ca khúc nhạc điện tử xuất sắc nhất' trong lễ trao giải Teen Choice Award 2019 tổ chức tại Mỹ.

Vào ngày 19 tháng 6, Red Velvet comeback với mini album mang tên The Reve Festival ‘Day 1’ cùng ca khúc chủ đề ‘Zimzalabim’, bài hát giúp Red Velvet lập kỉ lục khi trở thành nhóm nữ Hàn Quốc đầu tiên và thứ 4 thế giới đạt top 1 trên iTunes Mỹ, trở thành nhóm thứ 2 (sau EXO) và nhóm nữ đầu tiên của SM có MV trên 10 triệu lượt xem trong vòng 24h. Album tiếp nối thành công của 'Summer Magic', là album thứ 2 của nhóm đạt đạt được top 1 bảng xếp hạng iTunes thế giới. Sau gần nửa năm ra mắt, Zimzalabim bất ngờ đạt top 1 iTunes của Ai Cập.

 
Red Velvet tại Soribada Awards vào ngày 23 tháng 8 năm 2019

Vào ngày 20 tháng 8, Red Velvet comeback với mini album The ReVe Festival 'Day 2' cùng ca khúc chủ đề 'Umpah Umpah' với concept Holiday để giải tỏa cái nóng của mùa hè. Bài hát đã giúp Red Velvet trở thành nhóm nhạc nữ Kpop đầu tiên có 2 album đứng top 1 trên iTunes Mỹ trong vòng chưa đầy 1 năm. Với lần comback này, Red Velvet nhận được sự quan tâm trên toàn thế giới với top đầu trending trên Twitter. Sau khi ra mắt 'Umpah Umpah', Red Velvet là girlgroup thứ 2 trong năm 2019 đạt All-kill trên tất cả các show âm nhạc trong tuần. Red Velvet cũng đạt top 1 ITunes tại 38 nước, đứng cả trong top nhóm nhạc nữ Hàn Quốc có album đứng số 1 iTunes nhiều nhất. Album cũng đạt được top 1 bảng xếp hạng iTunes thế giới. Đây là album trụ trên bảng xếp hạng World Album của Billboard lâu nhất của Red Velvet, với 13 tuần liên tiếp.

Vào ngày 23 tháng 12, Red Velvet comeback với album tái bản The ReVe Festival 'Finale' với 16 bài hát, trong đó có 12 bài hát nằm trong hai album trước đó cùng series The ReVe Festival và bốn bài hát mới, bao gồm bài hát chủ đề 'Psycho' và bài hát 'La Rouge' được công diễn ở concert cùng tên vào ngày 23 và 24 tháng 11 tại Seoul. Psycho đạt top 1 iTunes Album và Song tại 44 nước, vượt thành tích cũ của mình là 38 và là album đạt nhiều top 1 iTunes nhất của nhóm nữ năm 2019. Với 10.7 triệu view, Psycho là MV đạt lượt xem cao nhất trong vòng 24 giờ của Red Velvet và cao thứ hai của nghệ sĩ SM. Psycho cũng là MV đạt lượt thích trong vòng 24 giờ cao nhất của Red Velvet và cao thứ tư trong số các MV của nhóm nhạc nữ - 1,453,044 lượt. Đây cũng là album thứ 4 trong sự nghiệp của nhóm đạt được top 1 bảng xếp hạng iTunes thế giới. Kể từ khi bài hát Power Up "chạm nóc" Melon vào năm 2018, Psycho là bài hát nhóm nhạc nữ đầu tiên lập lại thành tích này vào năm 2019.

Đây cũng là bài hát duy nhất của các nhạc nữ năm 2019 đạt no1 bảng xếp hạng Daily của Melon. Psycho giúp cho Red Velvet trở thành nhóm nhạc nữ Hàn Quốc duy nhất trong năm 2019 đạt được certified all-kill trên các bảng xếp hạng âm nhạc tại Hàn Quốc. Ngoài ra Red Velvet cũng là nhóm nhạc nữ duy nhất trên thế giới tính tới thời điểm hiện tại đạt top 1 Album iTunes ở Mỹ 3 lần liên tiếp trong một năm, và là nhóm nhạc nữ Kpop có nhiều no1 Album iTunes tại Mỹ nhất. Bài hát chủ đề 'Psycho' cũng là bài hát của nhóm nhạc nữ nhận đựoc nhiều lượt yêu thích nhất trong năm 2019 của 2 bảng xếp hạng nhạc số Melon, Genie và là bài hát thứ hai của Red Velvet đạt được vị trí đầu bảng của bảng xếp hạng World Digital Song Sales. Album The Reve Festival 'Finale' đạt được vị trí thứ 3 trên bảng xếp hạng World Album của Billboard. Nhờ 'Psycho', Red Velvet trở thành nghệ sĩ nữ Hàn Quốc thứ hai trong lịch sử đạt được 3 cúp liên tiếp (triple crown) của 3 chương trình âm nhạc khác nhau (Music Bank, Music Core, Inkigayo). Cuối năm 2019, Instagram Hàn Quốc công bố danh sách Hot Instagramer, 3 thành viên Joy, Seulgi, Yeri chiếm 3 vị trí đầu bảng sau khi mở tài khoản của mình vào năm nay. 'Psycho' cũng là bài hát nhận được 100.000 lượt thích nhanh nhất của các nhóm nhạc nữ Kpop trên Melon. Cuối năm 2019, 'Psycho' chính thức là bài hát đạt được nhiều lượt nghe nhất trên Spotify năm 2019 của các nghệ sĩ trực thuộc SM Entertainment.

2020: Wendy gặp tai nạn sân khấu - chiến dịch quảng bá Psycho bị hủySửa đổi

Cuối tháng 12, tại SBS Gayo Daejun 2019, giọng ca chính Wendy được thông báo là đã gặp tai nạn thảm trên sân khấu. Cô được biết là ngã trên sân khấu cao 2 mét do sân khấu không được chuẩn bị kĩ từ việc quá tối cho đến không có cầu thang. Sự việc đã khiến cô chấn thương mặt và gãy xương chậu dẫn đến việc phải đi cấp cứu. Sau đấy SM đã thông báo rằng vì sự việc đáng tiếc này, Wendy cùng cả nhóm sẽ hủy quảng bá bài hát mới nhất hồi đó, Psycho, qua việc không đi biểu diễn các show âm nhạc. Vụ việc đã gây sốc cho fan của nhóm đồng thời và người đọc. Đài SBS sau đó đã xin lỗi vì sự cố, nhưng vì lời xin lỗi chỉ được viết qua loa cho xong, đồng thời nhân viên vô trách nhiệm không chuẩn bị kĩ sân khấu lúc đó, Knet vẫn phẫn nộ vì thái độ và sự chuẩn bị không nghiêm túc của đài.

Đầu tháng 1, Red Velvet trở thành nhóm nhạc nữ thứ hai đạt được hơn 5 triệu người nghe hàng tháng trên Spotify. Sau 8 năm kỉ lục bài hát đạt được số điểm tháng cao nhất của một nhóm nhạc trên Gaon đã được Red Velvet phá vỡ với số điểm 150.000.000 trong tháng 1, vượt kỉ lục cũ là 148.000.000 điểm.

Ngày 12 tháng 2, Psycho trở thành bài hát của một nhóm nhạc ra mắt năm 2019 trụ vững vị trí top 5 Genie lâu nhất với hơn 1262 giờ. Tính đến ngày 24 tháng 2 2020, Red Velvet là nhóm nhạc nữ có nhiều người theo dõi nhất với 255.353 người, bài hát chủ đề 'Red Flavor' và album 'Red Summer' đạt được nhiều lượt thích nhất trên nền tảng nhạc số Melon, với lượt thích lần lượt là 219.439 và 47.000. Lượt theo dõi của nhóm trên Spotify cũng vượt qua 3.000.000 lượt. Red Velvet cũng là nhóm nhạc nữ thế hệ thứ 3 của Kpop dẫn đầu về lượng album đặt trước tại Trung Quốc trong vòng 1 năm, với hơn 75.000 album đặt trước tại đất nước này.

Phong cách âm nhạcSửa đổi

Red Velvet được biết đến với hai phong cách đối lập của nhóm mà trước đây chưa được thấy trong số tất cả các nhóm nhạc nữ Hàn Quốc. Hai concept được gọi là mặt "red" và mặt "velvet" đều ảnh hưởng đến cả hình ảnh và âm nhạc mà nhóm phát hành. Một nửa "red" là sáng chói và bubblier trong khi mặt "velvet" mang hình ảnh mềm mại, trưởng thành và thanh lịch hơn.[70][71][72][73]

Âm nhạc của nhóm cũng phụ thuộc vào hai theme tương ứng với hai concept. Bởi vì mặt "red" tượng trưng cho những gì tươi trẻ, sôi động nhất theo khuynh hướng của dòng nhạc pop trong khi mặt "velvet" lại mang vẻ bí ẩn, cuốn hút từ thể loại R&Bballad.[74] Cả hai mặt đều không giới hạn về thể loại, tuy nhiên KookMin Ilbo lưu ý rằng âm nhạc của nhóm không đơn giản như là "dance" vs "ballad" và còn mix với các yếu tố khác.[75] Single debut của nhóm "Happiness" được coi là bài hát đầu tiên của nhóm theo phong cách "red", là một bài hát urban europop với cường điệu âm thanh và âm thanh nhịp trống của châu Phi. Single thứ hai của nhóm "Be Natural" cho thấy hình ảnh hoàn toàn khác biệt của nhóm và được mô tả là classic R&B, cũng như biểu hiện của mặt "velvet".[76][77]

Mini album đầu tiên của nhóm Ice Cream Cake lần đầu giới thiệu khái niệm khép và nhóm quảng bá với hai single, R&B/neo-soul cho bài "Automatic" và dance-pop cho bài "Ice Cream Cake". MV của mỗi bài đều cho thấy sự tương phản giữa hai phong cách, nếu như MV của "Ice Cream Cake" đầy màu sắc, khung cảnh vui tươi với vũ đạo fast-paced thì MV của "Automatic" có chủ đề tối hơn với vũ đạo gợi cảm hơn. Jeff Benjamin của Billboard nói rằng album " đã làm tốt trong việc xây dựng tính đồng nhất của hai mặt phong cách âm nhạc".[78][79] Album phòng thu đầu tiên The Red, âm nhạc của họ chỉ tập trung mặt "red" theo sau là mini album The Velvet tập trung vào các bài hát "velvet" như tiêu đề đã cho biết. Album mùa hè đầu tiên của nhóm với tựa đề The Red Summer với single chính là "Red Flavor", một lần nữa họ tập trung vào phong cách "red", sau hai lần phát hành (Russian Roulette, Rookie) mà không tách ra. Bài hát từ album phòng thu thứ hai Perfect Velvet âm nhạc vẫn được xem là một phần của mặt "velvet", nhưng với những gợi ý về 'Red', mà công ty quản lí của nhóm tin tưởng rằng đó là công thức hoàn hảo cho phong cách này, do tiêu đề có tên là Perfect Velvet.[80] Tuy nhiên The Velvet vẫn thành công về thương mại, và là một trong những single và album thành công nhất của nhóm. Các nhà phê bình cho rằng việc phát hành mini album là một bước quang trọng để giới thiệu mặt "velvet" đến với công chúng, nhưng cuối cùng Perfect Velvet đã nhận được sự công nhận của mọi người.[62] Không chỉ các bài hát R&B và ballad như mong đợi từ phong cách "velvet", cũng kết hợp với dance-pop, electronic pop, disco và các yếu tố hip-hop. Sau khi phát hành, nhóm đã được những lời ca ngợi cho tính linh hoạt của nhóm và được hoan nghênh như một trong những album đa dạng của một nghệ sĩ K-pop.[81]

Tầm ảnh hưởngSửa đổi

Vào tháng 2 năm 2018, tạp chí Time nêu tên Red Velvet như một trong những nhóm nhạc K-pop xuất sắc nhất, làm nổi bật phong cách đa dạng của nhóm.[82]

Tháng 5, năm 2018 tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In đã khen ngợi về sự nổi tiếng của Red Velvet ở một đất nước khép kín như Triều Tiên, ông nói: " Tôi nghe nói rằng một tuyển thủ ice hockey người Triều Tiên đã nghe các bài hát từ Red Velvet của chúng ta khi luyện tập."

Tháng 11/2019, tạp chí Billboard đã chọn Red Velvet là nhóm nhạc thần tượng tuyệt vời nhất vẫn còn đang hoạt động. Đồng thời, ca khúc Red Flavor và Bad Boy cũng được Billboard chọn là ca khúc đứng lần lượt ở vị trí thứ 2 và thứ 27 trong Top 100 ca khúc Kpop hay nhất thập niên 2010. Bên cạnh đó, Red Velvet cũng là nhóm nhạc nữ Kpop đầu tiên ba lần No.1 US iTunes Albums Charts trong năm với các album thuộc series The Reve Festival của nhóm.

Tháng 12/2019, Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In đã đề cập đến Red Velvet trong bài phát biểu của mình khi ca ngợi rằng: "RED VELVET LÀ NHÓM NHẠC NỮ ĐẠI DIỆN CHO QUỐC GIA. Họ là nhóm nhạc từ trước đến giờ không ai có thể bắt chước được, là nhóm nhạc luôn giữ được màu sắc riêng vô cùng đăc biệt".

Cuối tháng 1 năm 2020, Red Velvet tham dự lễ trao giải Seoul Music Award, và giành về được Bonsang nghệ sĩ của năm. Đây là năm thứ 5 liên tiếp Red Velvet nhận được Bonsang của lễ trao giải này. Red velvet là nhóm nhạc nữ sở hữu nhiều album đạt được no1 bảng xếp hạng World WIde iTunes nhất thế giới với Bốn album đạt #1 trên BXH Album iTunes Worldwide của Red Velvet là Summer Magic và ba album trong chuỗi series "The ReVe Festival".

Sau sự xác nhận của bộ phim Troll 2 vào tháng 4 năm 2020, nhà sản xuất Gina Shay cho biết: "Red Velvet được chọn làm đại diện cho Kpop trong bộ phim nhờ sự độc đáo và sức hấp dẫn mạnh mẽ mà các cô gái mang lại cho các fan hâm mộ âm nhạc toàn cầu thông qua những phong cách âm nhạc khác nhau." Theo bà, Red Velvet chính là sự lựa chọn xuất sắc cho bộ phim. Gina Shay cũng tiết lộ: "Trong quá trình thu âm, các thành viên không những thể hiện cá tính riêng mà còn hoàn toàn nhập vai vào các nhân vật một cách hoàn hảo." Bộ phim cũng có sự góp mặt của hai ca khúc là 'Zimzalabim' va 'Russian Roulette' của nhóm.

Thành viênSửa đổi

Danh sách thành viên của Red Velvet
Nghệ danh Tên khai sinh Ngày sinh Nơi sinh Quốc tịch
Latinh Hangul Kana Latinh Hangul Kana Hanja Hán-Việt
Irene 아이린 アイリーン Bae Joo-hyun 배주현 ペ・ジュヒョン 裴柱現 Bùi Châu Hiền 29 tháng 3, 1991 (29 tuổi)   Daegu, Hàn Quốc   Hàn Quốc
Seulgi 슬기 スルギ Kang Seul-gi 강슬기 カン・スルギ 姜澀琪 Khương Sáp Kỳ 10 tháng 2, 1994 (26 tuổi)   Ansan, Gyeonggi, Hàn Quốc
Wendy 웬디 ウェンディ Son Seung-wan / Wendy Son 손승완 / 웬디손 ソン・スンワン 孫乘緩 Tôn Thừa Hoan 21 tháng 2, 1994 (26 tuổi)   Seongbuk-dong, Seoul, Hàn Quốc   Hàn Quốc /   Canada
Joy 조이 ジョイ Park Soo-young 박수영 パク・スヨン 朴秀英 Phác Tú Anh 3 tháng 9, 1996 (23 tuổi)   Dobong, Seoul, Hàn Quốc   Hàn Quốc
Yeri 예리 イェリ Kim Ye-rim 김예림 キム・イェリム 金藝琳 Kim Nghệ Lâm 5 tháng 3, 1999 (21 tuổi)   Seoul, Hàn Quốc

Danh sách đĩa nhạcSửa đổi

Các hoạt động khácSửa đổi

PhimSửa đổi

Năm Phim Diễn Viên Vai diễn Ghi chú
2015 SMTOWN the Stage Irene, Seulgi, Wendy, Joy, Yeri Chính mình Phim tài liệu về SM Town
2016 Game Development Girls Irene Ah Reum
2017 The Liar and His Lover Joy Yoon So Rim
2018 The Great Seducer Joy Eun Tae Hee

Chương trình thực tếSửa đổi

Năm Chương trình Kênh Tập Ghi chú
2017 Level Up Project! Season 1 Oksusu

KBS Joy True ID (Thailand)

23 Joy không thể xuất hiện trên chương trình bởi vì trùng với lịch trình cho bộ phim The Liar and His Lover.
2018 Level Up Project! Season 2 Oksusu

True ID (KOREA- Namhae, Yeosu, and Tongyeong)

60 Cả nhóm
2018 Level Up Project!

Season 3

Oksusu 40 Cả nhóm

Người mẫu tạp chíSửa đổi

Năm Tên Số phát hành Thành viên Ghi chú
2016 CéCi Korea Tháng 2 Irene Cùng Sehun
Tháng 11 Tất cả
2018 Nylon Korea Tháng 8 Joy
Grazia Korea Tháng 9 Irene
2019 BEAUTY+ Seulgi
Ray Japan Tháng 5 Tất cả
Grazia Korea Yeri
Nylon Korea Tháng 6 Wendy
Allure Korea Tháng 7 Cả nhóm
Marie Clarie Korea Tháng 8 Irene
BEAUTY+ Tháng 9 Seulgi, Yeri
Marie Clarie Korea Tháng 10 Seulgi, Wendy
2020 Elle Korea Tháng 3 Joy
Marie Clarie Korea Yeri
GQ Korea Tháng 4 Joy

Chuyến lưu diễnSửa đổi

Solo concertSửa đổi

  • Red Room (2017)
  • REDMARE (2018)
  • La Rouge (2019)
Tham gia các concert khác
  • SM Town Live World Tour IV (2014-2015)
  • SM Town Live Tour V (2016)
  • SM Town Live World Tour VI (2017)

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Sau khi ra mắt, Red Velvet đã được trao giải thưởng Nghệ sĩ mới xuất sắc nhất tại các lễ trao giải Seoul Music Awards lần thứ 24, Golden Disc Awards lần thứ 29 và Korean Entertainment Arts Awards lần thứ 21. Nhóm giành được chiến thắng đầu tiên trên chương trình âm nhạc với bài hát "Ice Cream Cake" vào ngày 27 tháng 3 năm 2015 tại Music Bank sau khi bổ sung thêm thành viên ít tuổi nhất nhóm là Yeri. Hiện tại, Red Velvet đã trở thành nhóm nhạc nữ giành nhiều Cup thứ 3 tại các Show âm nhạc với tổng cộng 73 lần chiến thắng, chỉ xếp sau SNSD và Twice.

+) VỀ GIẢI THƯỞNG LỚN:

Năm 2018, nhóm giành được Daesang danh giá đầu tiên trong sự nghiệp với giải thưởng 'NGHỆ SĨ CỦA NĂM' TẠI LỄ TRAO GIẢI KOREAN ENTERTAINMENT PRODUCERS ASSOCIATON

Năm 2019 đánh dấu bước thành công mới trong sự nghiệp của nhóm, sau một năm hoạt động đầy năng nổ và cố gắng với lần lượt 3 Album là The Reve Festival 1 &The Reve Festival 2 và The ReVe Finale thì Red Velvet đã đạt được những sự công nhận xứng đáng.

Đầu năm, Hiệp hội Nghệ sĩ nổi tiếng Hàn Quốc đã công bố danh sách những người chiến thắng cho Korean Entertainment Art Awards. Và Daesang giành cho " Nhóm nhạc nữ xuất sắc nhất" đã thuộc về Red Velvet.

Giữa năm, tại lễ trao giải Soribada Award 2019, nhóm đã giành được Daesang " Sân Khấu Của Năm" với sân khấu trình diễn Zimzalabim.

Đến cuối năm, tại lễ trao giải Asia Artist Award diễn ra tại Việt Nam, nhóm đã giành được Daesang "Bài Hát Của Năm" với ca khúc Umpah Umpah. Đây đã là Daesang cao quý thứ tư trong sự nghiệp của nhóm tính tới thời điểm hiện tại.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Benjamin, Jeff (ngày 19 tháng 7 năm 2017). “Red Velvet Scores Third No. 1 on World Albums, Lead Among K-Pop Females”. Billboard. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ Benjamin, Jeff (ngày 15 tháng 9 năm 2015). “Red Velvet Earn First No. 1 on World Albums Chart With 'The Red'. Billboard. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2015. 
  3. ^ Son, Hyo-jeong. “뮤직뱅크' 박서준·보라,1년 6개월만 MC 떠난다…24일 막방”. TV Report. TV Report. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2015. 
  4. ^ Hwang, Eun-hee. “레드벨벳 측 "예리, ‘음악중심’ 합류 맞아…오는 9일 첫 진행". MBN Star. MBN Daily Broadcasting. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2015. 
  5. ^ Lee, Hye-rin. “[단독] '우결' 육성재 부인은 레드벨벳 조이.."오늘 첫 녹화". OSEN. OSEN. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2015. 
  6. ^ Lee, Seung-rok. '음중' 순위제 폐지·MC 교체…마지막 1위는 아이유 (종합)”. MyDaily. MyDaily. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  7. ^ “SM, 2 Years After EXO, A Newcomer”. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  8. ^ “Indie band Red Velvet voice out against SM Entertainment's choice of name for new girl group”. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  9. ^ Tone màu nầm giữa Hồng (màu)Da cam 
  10. ^ Kim Dong-Joo. “SM Entertainment to debut a new girl group, 'Red Velvet'. StarN News. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  11. ^ Sohn Ji-young (ngày 28 tháng 7 năm 2014). “SM Entertainment debuts new girl group Red Velvet”. The Korea Herald. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  12. ^ Lee Ji-suk (ngày 22 tháng 7 năm 2014). “SM 6년만에 4인조 걸그룹 출격, "8월 데뷔 목표". Sports Seoul (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  13. ^ Kim, Hyung-woo (ngày 22 tháng 7 năm 2014). “SM to Debut New Four Member Girl Group in August”. Newsen. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  14. ^ “SM brings a touch of velvet to K-pop”. Korea JoongAng Daily. Ngày 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2014. 
  15. ^ Ock Hyun-ju (ngày 30 tháng 7 năm 2014). “SM’s Red Velvet to stage debut Aug. 1”. The Korea Herald. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2014. 
  16. ^ “Red Velvet debuts high on music charts”. The Korea Herald. Ngày 7 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2014. 
  17. ^ “Red Velvet - Happiness”. Simply K-Pop. Tập 125. Ngày 22 tháng 8 năm 2014. Arirang TV. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2014. 
  18. ^ Benjamin, Jeff (ngày 8 tháng 9 năm 2014). “Most Viewed K-Pop Videos in America & Around the World: August 2014”. Billboard K-Town. Billboard. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2014. 
  19. ^ Park Gyu-oh (ngày 10 tháng 10 năm 2014). “Red Velvet releases ‘Be Natural’ video”. K-Pop Herald. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  20. ^ Ock Hyun-ju (ngày 8 tháng 10 năm 2014). “Red Velvet to make comeback with remake track”. The Korea Herald. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  21. ^ Kim Dong-Joo (ngày 9 tháng 10 năm 2014). “Music video of Red Velvet's 'Be Natural' unveiled”. Star N News. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2016. 
  22. ^ Ha Su-jeong (ngày 10 tháng 10 năm 2014). “레드벨벳 'Be Natural' 의자 퍼포먼스, 비욘세 안무가 작품”. Newsen (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2014. 
  23. ^ Jeon Su Mi; Yeawon Jung (ngày 8 tháng 10 năm 2014). “Red Velvet to Launch Promotions for 'Be Natural' on 'MCD'. CJ E&M enewsWorld. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2014. 
  24. ^ a ă “Weekly Gaon Digital Chart - August 3–9, 2014”. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  25. ^ Ahn, Woorim (ngày 11 tháng 3 năm 2015). “Red Velvet Makes Its Comeback With A New Member”. BNT News. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  26. ^ Cho Jin-shil (ngày 11 tháng 3 năm 2015). 레드벨벳, 5인조로 컴백 '새 멤버 예리 합류'. 10asia (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  27. ^ Son Mi-kyung (ngày 15 tháng 3 năm 2015). “레드벨벳, 더블 타이틀 '오토매틱' MV 공개..몽환 반전매력”. Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2016. 
  28. ^ Gil Hye-seong (ngày 21 tháng 6 năm 2015). 상반기 음반판매, 엑소 1~3위 석권..레드벨벳, 女유일 톱20. Korea Daily (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2015. 
  29. ^ Benjamin, Jeff. “Red Velvet Talk First U.S. Performance, Their New Member & Summer Songs at KCON 2015: Exclusive”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  30. ^ Lee So-dam (ngày 4 tháng 9 năm 2015). “레드벨벳 9월9일 컴백 확정…SM 하반기 첫주자 [스포츠투데이]”. Sports Today (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2015. 
  31. ^ Benjamin, Jeff. “Red Velvet Drop Brassy 'Dumb Dumb' Single, Quirky 'Red' Album”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2015. 
  32. ^ Benjamin, Jeff (ngày 15 tháng 9 năm 2015). “Red Velvet Earn First No. 1 on World Albums Chart With 'The Red'. Billboard. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015. 
  33. ^ Benjamin, Jeff; Oak, Jessica. “The 10 Best K-Pop Albums of 2015”. Billboard. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  34. ^ Glasby, Taylor (ngày 1 tháng 12 năm 2015). “The top 20 K-Pop tracks of 2015”. Dazed Digital. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2015. 
  35. ^ Ducker, Erick (ngày 22 tháng 12 năm 2015). “10 Best Music Videos of 2015”. Dazed Digital. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  36. ^ Jeon Su-mi (ngày 7 tháng 12 năm 2015). “f(x) to Participate in SM′s 'Winter Garden' Project, More Artists to be Revealed”. enewsWorld. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  37. ^ Kim, Ji-young (ngày 16 tháng 3 năm 2016). “Red Velvet postpones album release”. The Korea Herald. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  38. ^ Seon, Mi-kyung (ngày 2 tháng 3 năm 2016). “SM "레드벨벳, 최근 신곡 MV 촬영..3월 컴백 목표". Osen (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2016. 
  39. ^ Benjamin, Jeff (ngày 16 tháng 3 năm 2016). “Red Velvet Returns With Dreamy R&B Ballad 'One of These Nights'. Fuse. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2016. 
  40. ^ Hwang, Hye-jin (ngày 26 tháng 5 năm 2016). “SM 측 "레드벨벳 컴백 준비중, 일정 확정되면 발표". Newsen (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  41. ^ Park, Young-woong (ngày 19 tháng 8 năm 2016). “[단독] SM, 엑소 다음은 레드벨벳! 9월 새 앨범 컴백”. Naver (bằng tiếng Korean). Sports Chosun. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  42. ^ Ahn, Woorim (ngày 1 tháng 9 năm 2016). “Red Velvet to Make Comeback on September 7”. bnt news. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2016. 
  43. ^ “레드벨벳, '더 쇼'서 컴백 첫 1위 "팬들께 감사" (bằng tiếng Hàn). news1.kr. Ngày 13 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  44. ^ South Korea's Weekly Gaon Digital Chart September 11-17, 2016 (in Korean) Originally from Gaon Music Chart (September 2016). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017.
  45. ^ “Red Velvet unveils music video for 'Rookie'. english.yonhapnews.co.kr. Ngày 1 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  46. ^ “World Albums: The week of ngày 18 tháng 2 năm 2017”. Billboard. Ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  47. ^ “레드벨벳, ‘루키’로 1위 행진…美 빌보드부터 ‘더쇼’ 1위까지” (bằng tiếng Hàn). asiatoday.co.kr. Ngày 8 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017. 
  48. ^ “레드벨벳, 뮤직뱅크 2주 연속 1위…신곡 '루키' 중독성에 빠졌다” (bằng tiếng Hàn). focus.kr. Ngày 17 tháng 2 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  49. ^ “레드벨벳, ‘루키’로 ‘인기가요’ 2주 연속 1위”. Ten Asia. Ngày 19 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017. 
  50. ^ “레드벨벳, 봄맞이 달콤설렘송… ‘SM 스테이션2’ 막 올랐다”. Ten Asia. Ngày 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2017. 
  51. ^ Jung, Ahn-ji (ngày 17 tháng 7 năm 2017). “[공식] 레드벨벳, 첫 단독 리얼리티 시작…8월 2일 첫 방송”. naver (Sports Chosun). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  52. ^ “Red Velvet's Irene introduces the tracklist for their summer special album 'The Red Summer'!”. 
  53. ^ Kim, Hwi-seok (ngày 23 tháng 6 năm 2017). “레드벨벳, 7월 컴백 예정..SM "뮤비 촬영 마쳤다"(공식)”. naver (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2017. 
  54. ^ Park, Geon-wook (ngày 20 tháng 7 năm 2017). “레드벨벳 '빨간 맛', 가온차트 3관왕 '인기 이어간다'. Naver (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  55. ^ Park, Geon-wook (ngày 20 tháng 7 năm 2017). “레드벨벳 '빨간 맛', 가온차트 3관왕 '인기 이어간다'. Naver (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  56. ^ Dong-woo, Chang (ngày 20 tháng 8 năm 2017). “Red Velvet moved by huge fans at 1st stand-alone concert”. Yonhap News Agency. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2017.  Ngày 17 tháng 11, Red Velvet phát hành album phòng thu thứ hai Perfect Velvet gồm 9 ca khúc và bài hát chủ đề Peek-A-Boo.
  57. ^ “Red Velvet Premium Showcase "ReVeluv-Baby Party" (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  58. ^ Peterson, Jacques. “Going global! Red Velvet are making waves in Japan”. SBS PopAsia. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  59. ^ “Red Velvet、日本初単独コンサート「Concert "Red Room" in JAPAN」開催決定”. musicman-net (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  60. ^ “Red Velvet、キャパ1万人会場で日本初単独コンサート決定”. natalie (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2017. 
  61. ^ “Red Velvet Teases 'Perfect Velvet' Album, Upcoming Single 'Peek-A-Boo'. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 11 năm 2017. 
  62. ^ a ă Lee So-dam (ngày 29 tháng 11 năm 2017). “[Oh! 뮤직] 레드벨벳은 진화 중”. osen (bằng tiếng korean). Osen. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2017. 
  63. ^ Benjamin, Jeff (ngày 27 tháng 11 năm 2017). “Red Velvet Tie for Most No. 1s on World Albums Chart Among All K-Pop Acts”. billboard. Billboard. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2017. 
  64. ^ “Gaon Album Chart – Week 46, 2017”. Gaon Chart (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2017. 
  65. ^ “2017 Gaon Digital Chart - Week 47”. Gaon Music Chart. November 19-25, 2017. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2017.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  66. ^ “‘Perfect Red Velvet’ returns with ‘Bad Boy’”. Kpop Herald. Ngày 29 tháng 1 năm 2018. 
  67. ^ Kim, Seong-won (ngày 8 tháng 2 năm 2018). “레드벨벳 정규 2집 리패키지, 가온 차트 2관왕 '대세 파워'. Chosun (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  68. ^ Jang, Soo-min (ngày 7 tháng 2 năm 2018). '쇼챔피언' 레드벨벳 'BAD BOY' 챔피언 송 등극 '컴백 후 첫 1위'. News1 (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018. 
  69. ^ “레드벨벳, 평양서 '빨간맛' '배드 보이' 부른다” (bằng tiếng Hàn). Naver. Ngày 26 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2018. 
  70. ^ Lee, Eun-ho (ngày 9 tháng 12 năm 2017). “[BZ시선] 트와이스와 레드벨벳이 가는 길”. etoday (bằng tiếng Hàn). Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2017. 
  71. ^ Kwon, Soo-bin (ngày 25 tháng 3 năm 2015). “레드벨벳 "막내 예리 합류, 확실히 더 밝아졌다"(인터뷰①)”. news1 (bằng tiếng Hàn) (News1). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  72. ^ Chin, Chester (ngày 24 tháng 3 năm 2016). “Review: The Velvet by Red Velvet”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  73. ^ Benjamin, Jeff (ngày 16 tháng 3 năm 2016). “RED VELVET RETURNS WITH DREAMY R&B BALLAD 'ONE OF THESE NIGHTS': WATCH”. fuse.tv. Fuse. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  74. ^ Stern, Bradley (ngày 16 tháng 3 năm 2016). “RED VELVET SHOW THEIR SOFTER SIDE WITH 'ONE OF THESE NIGHTS'. PopCrush. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  75. ^ Seon Mi-kyung (ngày 20 tháng 11 năm 2017). “[미묘의 아이돌 열전] ④ 레드벨벳, 귀여움 그 이상의 재능을 지닌 아티스트”. kmib (bằng tiếng korean). Kookmin Ilbo. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  76. ^ Lee, Ji-hyun (ngày 26 tháng 1 năm 2018). “[엑's 초점] 레드와 벨벳의 완벽한 조화, 'bad boy'” [[X's Focus] The Perfect Harmony of Red and Velvet, 'Bad Boy']. Sports Chosun (bằng tiếng korean). Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2018. 
  77. ^ Park, Soo-jung (ngày 16 tháng 10 năm 2014). “레드벨벳이 이런 장르도 소화할 수 있을까? (인터뷰)”. tenasia (bằng tiếng korean). 10asia. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2017. 
  78. ^ Benjamin, Jeff (ngày 6 tháng 8 năm 2015). “Red Velvet Talk First U.S. Performance, Their New Member & Summer Songs at KCON 2015: Exclusive”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  79. ^ Benjamin, Jeff (ngày 27 tháng 3 năm 2015). “Red Velvet Send Delicious 'Ice Cream' EP to World, Heatseeker Albums Charts”. Billboard. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  80. ^ Jeon Won (ngày 8 tháng 11 năm 2017). “[엑's 이슈] "업그레이드된 벨벳"…레드벨벳, 색다른 느낌의 '피카부'. X Sports News (bằng tiếng Korean). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  81. ^ Kim Sang-hwa (ngày 20 tháng 11 năm 2017). “레드벨벳 정규 2집, 변화무쌍한 '음악적 실험'의 결정체”. ohmynews (bằng tiếng korean). Oh My Star. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2017. 
  82. ^ Bruner, Raisa (ngày 9 tháng 2 năm 2018). “These Are the Best K-Pop Groups You Should Know About”. Time. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018. 

Liên kết ngoàiSửa đổi