Viện Vật lý kỹ thuật

Viện Vật lý kỹ thuật (tiếng Anh: School of Engineering of Physics hay SEP) là một viện đại học nghiên cứu[1] trực thuộc trường Đại học Bách khoa Hà Nội, là một trong những trường đại học kỹ thuật đa ngành, một trong các trường đại học trọng điểm quốc gia Việt Nam. Trường là một trong 13 thành viên của Hiệp hội các trường đại học kỹ thuật hàng đầu châu Á - Thái Bình Dương AOTULE (Asia-Oceania Top University League on Engineering).

Viện Vật lý kỹ thuật
Logo của Viện Vật lý kỹ thuật
Logo của Viện Vật lý kỹ thuật
Viết tắtSEP
Tên tiếng AnhSchool of Engineering Physics
Khẩu hiệuVật lý hôm nay là Kỹ thuật ngày mai
Thông tin chung
Loại hìnhViện đại học
Thành lập23 tháng 1, 1985; 35 năm trước
Thuộc tổ chứcĐại học Bách Khoa Hà Nội
Thành viên củaAOTULE
Tài trợ10 tỉ VND (2018)
Tình trạngĐang hoạt động
Viện trưởngPGS.TS. Phó Thị Nguyệt Hằng
Viện phóPGS.TS Nguyễn Hữu Lâm
PGS.TS. Đặng Đức Vượng
Giảng viên90
Nhân viên5
Sinh viên đại học~ 600
Sinh viên sau đại học~ 50
Thông tin khác
Khuôn viênLogo Hust.png Nhà C10, Đại học Bách khoa Hà Nội
Địa chỉSố 1 Đại Cồ Việt, Hai Bà Trưng, Hà Nội, Việt Nam
MàuĐỏ thắm     
Bài hátHành khúc Viện Vật lý kỹ thuật
Ngôn ngữ chínhTiếng Việt
Điện thoại024 3869 3350
WebsiteSep.hust.edu.vn

Trong công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, Viện đã có nhiều thành tích quan trọng: đã góp phần đào tạo hàng trăm kỹ sư Vật lý kỹ thuật (các chuyên ngành Vật lý chất rắn, Kỹ thuật hạt nhân - vật lý môi trường, Kỹ thuật y sinh, Vật lý và kỹ thuật ánh sáng, Vật lý tin học, Vật liệu điện tử và công nghệ nano, Vật lý lý thuyết), nhiều học viên cao học và nghiên cứu sinh. Nhóm nghiên cứu đề tài GK1 về phá bom từ trường đã nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Viện Vật lý kỹ thuật cũng đón nhận Huân chương Lao động Hạng Nhất vào năm 2005 do Chủ tịch nước trao tặng.

Lịch sử hình thành và phát triểnSửa đổi

Viện Vật lý Kỹ thuật được thành lập ngày 23/01/1985 theo Nghị định số 13/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ trên cơ sở ba Bộ môn Vật lý Đại cương, Vật lý Chất rắnVật lý Hạt nhân của Khoa Toán- Lý thuộc ĐH Bách khoa Hà nội. Viện Vật lý kỹ thuật là Viện trong trường ĐH đầu tiên trong toàn quốc được thành lập nhằm thí điểm một mô hình tổ chức có khả năng kết hợp nghiên cứu khoa học, đào tạo và chuyển giao công nghệ phục vụ kinh tế và quốc phòng.

Tiền thân của Viện Vật lý Kỹ thuật là Bộ môn Vật lý, một trong những Bộ môn đầu tiên của trường có nhiều đóng góp trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và xây dựng Trường ĐH Bách khoa Hà Nội.

 
Thư viện Tạ Quang Bửu (đối diện văn phòng Viện VLKT)

Do nhu cầu phát triển, Bộ môn Kỹ thuật hạt nhân và Vật lý môi trường đã tách ra khỏi Viện từ tháng 6 năm 2008 và trở thành Viện Kỹ thuật hạt nhân và Vật lý môi trường trực thuộc Trường ĐH Bách khoa Hà Nội.

Ngày 23 tháng 10 năm 2018, Trường ĐHBK Hà nội đã có Quyết định sáp nhập lại Viện Kỹ thuật hạt nhân và Vật lý môi trường vào Viện Vật lý kỹ thuật, trở thành một đơn vị - Bộ môn Kỹ thuật hạt nhân và Vật lý môi trường.

Tổ chức của Viện hiện nay bao gồm 1 Văn phòng, 6 Bộ môn (Vật lý đại cương, Vật lý lý thuyết, Vật liệu điện tử, Vật lý tin học, Quang học và quang điện tử, Kỹ thuật hạt nhân và Vật lý môi trường) và Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiếu sáng bằng LED.

Các bộ môn và trung tâmSửa đổi

Sáu Bộ môn, một trung tâm nghiên cứu và các Phòng thí nghiệm trực thuộc. Bao gồm:

 
Tòa nhà Viện ITIMS - SEP

Bộ môn Vật lý đại cươngSửa đổi

Bộ môn Vật lý đại cương được phát triển từ Bộ môn Vật lý (từ năm 1956), Bộ môn có chức năng giảng dạy Vật lý đại cương cho sinh viên toàn Trường, sinh viên tại chức, cao đẳng, sinh viên các chương trình Tiên tiến, Kỹ sư tài năng, ITP. Bộ môn cũng là cơ sở đào tạo đội ngũ cán bộ các các trường phổ thông. Bộ môn cũng tham gia nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đặc biệt, nhiều bộ thiết bị thí nghiệm vật lý dùng cho học sinh phổ thông, đại học đã được các cán bộ Bộ môn chế tạo thành công... Trong nhiều năm, Bộ môn đạt danh hiệu tập thể lao động giỏi. Nhiệm vụ chính của Bộ môn là giảng dạy lý thuyết, bài tập và thí nghiệm Vật lý đại cương. Đồng thời Bộ môn cũng tham gia giảng dạy chuyên ngành cho kỹ sư vật lý, kỹ sư tài năng và kỹ sư chất lượng cao.

  • Thành tích và khen thưởng:
  1. Giảng dạy Vật lý Đại cương cho tất cả các khóa sinh viên chính quy và sinh viên tại chức. Giảng dạy chuyên ngành cho sinh viên Kỹ sư Vật lý, Kỹ sư tài năng, Kỹ sư chất lượng cao. Tham gia đào tạo cao học, hướng dẫn cao học và nghiên cứu sinh.
  2. Xuất bản 8 bộ giáo trình Vật lý Đại cương phục vụ sinh viên Bách khoa và các trường kỹ thuật, sách Vật lý đại cương cho hệ đào tạo tại chức và nhiều tài liệu, giáo trình về Vật lý. Biên dịch 20 bộ giáo trình Vật lý Đại cương, Vật lý lý thuyết và chuyên ngành.
  3. Sản xuất và cung cấp thiết bị giảng dạy, thí nghiệm Vật lý cho Đại học Bách khoa Hà nội và trên 100 trường đại học, cao đẳng trên toàn quốc. Cung cấp thiết bị thí nghiệm Vật lý cho các trường phổ thông trong cả nước, phục vụ cải cách giáo dục và hiện đại hóa công nghệ dạy học.
  4. Đã công bố trên 100 công trình khoa học trên các tạp chi khoa học trong và ngoài nước.
  5. Hoàn thành nhiều đề tài nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cấp Bộ và cấp Nhà nước.
  6. Được tặng nhiều bằng khen của Bộ Giáo dục và Đào tạo, bằng khen của Thủ tướng chính
  •  Các hướng nghiên cứu 
  1. Vật lý và công nghệ vật liệu điện tử;
  2. Nghiên cứu và ứng dụng vật liệu có cấu trúc nano;
  3. Vật liệu gốm dẫn điện, polyme dẫn;
  4. Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng các loại cảm biến;
  5. Mô phỏng các cấu trúc thấp chiều.

Bộ môn Vật lý lý thuyếtSửa đổi

Bộ môn Vật lý lý thuyết được thành lập năm 1985 trên cơ sở là nhóm Vật Lý Lý Thuyết của bộ môn Vật Lý Đại Cương, khoa Toán - Lý, Đại Học Bách Khoa Hà Nội. Bộ môn có chức năng giảng dạy Vật lý cho sinh viên toàn trường và chuyên ngành, tham gia đào tạo thạc sĩ và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Bộ môn cũng là đơn vị có nhiều kết quả nghiên cứu khoa học.

  • Các hướng nghiên cứu
  1. Lý thuyết chuyển pha trên các vật liệu siêu dẫn, siêu mạng và tinh thể lỏng;
  2. Các tính chất từ của các vật liệu màng mỏng;
  3. Quang học các môi trường bất đẳng hướng;
  4. Các tính chất điện từ của các vật liệu thấp chiều;
  5. Mô hình hóa cấu trúc;
  6. Vật lý các hệ không trật tự;
  7. Vật lý hạt cơ bản và vật lý toán (siêu đối xứng, lý thuyết nhóm lượng tử).

Bộ môn Vật lý tin họcSửa đổi

Bộ môn Vật lý Tin học được thành lập vào tháng 06 năm 1998. Bộ môn đã xây dựng được 2 phòng thí nghiệm (Mô phỏng trong Vật lý & xử lý ảnh VLKT, Tin học ghép nối) với các trang thiết bị hiện đại đảm bảo cho việc giảng dạy Vật lý Tin học, Vật lý đại cương cho Sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà nội, nghiên cứu khoa học chuyên ngành Vật lý tin học và chế tạo các sản phẩm (phần cứng, phần mềm) ứng dụng trong Vật lý kỹ thuật.

  • Các hướng nghiên cứu
  1. Mô phỏng vi mô với sự trợ giúp của phần mềm Dymoka, GAUSS98 và thư viện phần mềm phân tích vi cấu trúc của bộ môn;
  2. Vật lý tính toán;
  3. Kỹ thuật ghép nối và đo lường điều khiển;
  4. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy.

Bộ môn Vật liệu điện tửSửa đổi

Bộ môn Vật liệu điện tử[2] thành lập vào năm 1970 với tên gọi ban đầu là Bộ môn Vật lý chất rắn, sau đó đổi tên thành Bộ môn Vật lý và Công nghệ Vật liệu điện tử (1996), Bộ môn Vật liệu điện tử (2004), Bộ môn có chức năng giảng dạy Vật lý cho sinh viên toàn trường, sinh viên chuyên ngành, các chương trình đào tạo, cũng như tham gia đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ. Nhiều đề tài các cấp đã được các cán bộ của Bộ môn chủ trì và có nhiều kết quả trong nghiên cứu khoa học (đặc biệt đề tài GK1 về phá bom từ trường của Mỹ - chủ nhiệm GS. Vũ Đình Cự - đã dành giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I). Bộ môn Vật liệu điện tử có chức năng giảng dạy Vật lý cho sinh viên toàn trường, sinh viên chuyên ngành, các chương trình đào tạo, tham gia đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ. Nhiều đề tài các cấp đã được các cán bộ của Bộ môn chủ trì và có nhiều kết quả trong nghiên cứu khoa học.

  • Thành tích và khen thưởng:
  1. 1 Huân chương Lao động hạng Ba năm 2000 tặng thưởng cho tập thể Bộ môn;
  2. 3 Huân chương Lao động hạng Ba tặng thưởng cho 3 thành viên Bộ môn;
  3. 8 Bằng khen của Bộ, 5 Huân chương, Huy chương kháng chiến;
  4. 2 Bằng khen của Thủ tướng, 3 Bằng khen Lao động sáng tạo;
  5. 3 Nhà giáo ưu tú, 4 Huy chương vì sự nghiệp giáo dục;
  • Các hướng nghiên cứu
  1. Vật lý và công nghệ vật liệu điện tử;
  2. Nghiên cứu và ứng dụng vật liệu có cấu trúc nano;
  3. Vật liệu gốm dẫn điện, polyme dẫn;
  4. Nghiên cứu chế tạo và ứng dụng các loại cảm biến;
  5. Mô phỏng các cấu trúc thấp chiều.

Bộ môn Quang học và Quang điện tửSửa đổi

Bộ môn Quang học và quang điện tử[2] được thành lập vào năm 2010 trên cơ sở sáp nhập hai phòng thí nghiệm: Phân tích và đo lường vật lý; Vật liệu từ và nano tinh thể. Hiện nay, hướng nghiên cứu chính của Bộ môn tập trung vào các lĩnh vực quang học (hệ thống đo, kiểm tra thiết bị và linh kiện chiếu sáng...) và lĩnh vực quang điện tử: pin mặt trời thế hệ mới, đèn LED, vật liệu tiên tiến sử dụng cho lĩnh vực quang điện. Các cán bộ của Bộ môn tham gia vào công tác đào tạo trình độ đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học. Bộ môn Quang học và Quang Điện tử tự hào là cơ sở có đội ngũ cán bộ nghiên cứu khoa học và giảng dạy mạnh nhất Viện Vật lý kỹ thuật. Bên cạnh nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ, bộ môn còn đảm nhiệm đào tạo chuyên ngành Quang học và Quang Điện tử, giảng dạy Vật lý cho sinh viên toàn trường, sinh viên chuyên ngành, các chương trình đào tạo, tham gia đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ. Nhiều đề tài các cấp đã được các cán bộ của Bộ môn chủ trì, có nhiều kết quả trong nghiên cứu khoa học.

  • Thành tích và khen thưởng:
  1. 1 Huân chương Lao động hạng Ba năm 2000 tặng thưởng cho tập thể Bộ môn
  • Các hướng nghiên cứu

Lĩnh vực quang học và quang điện tử: 

  1. Nghiên cứu chế tạo đi ốt phát quang (LED), ứng dụng trong công nghiệp và cuộc sống; 
  2. Vật liệu phát quang trong các loại đèn huỳnh quang, đèn compac, đèn LED ứng dụng trong đời sống; 
  3. Pin mặt trời: nghiên cứu chế tạo và ứng dụng; 
  4. Màng mỏng dẫn điện trong suốt (ZnO, ITO…) ứng dụng làm điện cực cho pin mặt trời; 
  5. Kỹ thuật chiếu sáng hiệu năng cao; 
  6. Đo và kiểm tra các thông số của nguồn phát sáng… 
  7. Hệ thống điện và thiết kế hệ thống điện cho chiếu sáng. 

Hướng nghiên cứu về phân tích và đo lường vật lý là thế mạnh và là hướng nghiên cứu từ lâu của Viện Vật lý kỹ thuật. Hiện nay, Phòng thí nghiệm Phân tích và Đo lường vật lý được trang bị các thiết bị khoa học phân tích tiên tiến như: phân tích cấu trúc bằng phổ nhiễu xạ tia X, máy chụp ảnh SEM môi trường kết hợp với phân tích hàm lượng nguyên tố (EDX), hệ STM/AFM có thể khảo sát bề mặt ở mức nguyên tử. Các phân tích thành phần, các liên kết trong vật liệu có thể thực hiện bằng các phép đo phổ phát xạ tia X (XPS), phổ hấp thụ nguyên tử (AAS). Bên cạnh đó, các tính chất quang của vật liệu có thể được khảo sát thông qua các phép đo phổ UV-Vis, phổ hồng ngoại và phổ micro - Raman.

Bên cạnh đó, việc đo và khảo sát các tính chất các nguồn sáng cũng được thực hiện tại Viện Vật lý kỹ thuật. Các phép đo về độ dọi, cường độ chiếu sáng, quang thông... của các loại bóng đèn chiếu sáng đều có thể đo và kiểm tra. Phòng thí nghiệm tiêu chuẩn quốc gia về Vật lý và kỹ thuật ánh sáng đang được các cán bộ của Viện tích cực triển khai. Nhiều đề tài khoa học về lĩnh vực này được thực hiện như dự án Chiếu sáng hiệu năng cao do UNDP phụ trách, dự án Asia-Link...

Một trong những hướng nghiên cứu khác về phân tích đo lường vật lý là tiến hành kiểm tra không phá hủy vật liệu (NDT-non destructive testing). Các thiết bị kiểm tra sử dụng kỹ thuật siêu âm, đo từ trường/điện trường xoáy, đo độ từ thẩm, đo bằng tia X... Các phương pháp kiểm tra không phá hủy vật liệu được ứng dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng, cầu đường, hàn vật liệu và kiểm tra các khuyết tật, nứt ngãy, sai hỏng bên trong vật liệu kim loại.

Lĩnh vực vật liệu từ vô định hình:

  1. Công nghệ nguội nhanh, tốc độ nguội 1triệu K/s. Độ rộng băng 40–50 mm;
  2. Vật liệu từ Vô định hình và Nano tinh thể: công nghệ chế tạo, cấu trúc vi mô, tương tác từ học, các tính chất và ứng dụng;
  3. Đo các đặc trưng từ của các vật liệu từ mềm chế độ tĩnh, động (tần số tới 50 kHz), đo tỷ số tổng trở GMI trong từ trường 0-400 Oe;
  4. Thiết kế các lõi dẫn từ tần số cao bằng các vật liệu vô định hình và nano tinh thể. Chế tạo các sensor từ, các thiết bị đo từ, các thiết bị điện tử tần số cao như máy hàn tần số, máy ozon, các bộ nguồn “đóng - mở” trên cơ sở sử dụng các vật liệu vô định hình.

Các vật liệu đã và đang nghiên cứu gồm:

  1. Vật liệu từ mềm Vô định hình;
  2. Vật liệu từ siêu mềm Finemet;
  3. Vật liệu từ cứng nano composite;
  4. Vật liệu từ trở GMR (Cu, Ag)-3d;
  5. Vật liệu tổng trở GMI;
  6. Vật liệu bền cơ học, hoá học.

Bộ môn Kỹ thuật hạt nhân và Vật lý môi trườngSửa đổi

Từ khi Bộ môn Vật lý Hạt nhân được thành lập năm 1970, Kỹ thuật Hạt nhân tại trường Đại học Bách khoa Hà Nội là một Chương trình đào tạo về hạt nhân đầu tiên ở Việt Nam. Trải qua nhiều khó khăn, thăng trầm, Bộ môn Kỹ thuật Hạt nhân và Vật lý Môi trường đã trưởng thành và trở thành đơn vị đào tạo chủ chốt cho nguồn nhân lực kỹ thuật hạt nhân của Việt Nam. Với mục tiêu xây dựng Bộ môn ngày càng vững mạnh, các thế hệ cán bộ đã và đang cố gắng hết mình, toàn tâm toàn ý, tạo ra môi trường giảng dạy ngày càng hiện đại, thuận tiện, thân thiện và năng động. Bộ môn luôn sẵn sàng hợp tác với các đơn vị trong và ngoài nước trong sự nghiệp công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học chung của đất nước.

  • Nghiên cứu khoa học

Trong những năm qua, các cán bộ của Bộ môn chủ trì thực hiện nhiều đề tài Khoa học - Công nghệ các cấp, bao gồm các đề tài Nghiên cứu cơ bản cấp Nhà nước; các đề tài Khoa học - Công nghệ cấp Bộ; các đề tài Hợp tác quốc tế, các đề tài cấp Trường... Các đề tài, dự án nghiên cứu có qui mô ngày càng lớn với kinh phí hỗ trợ ngày càng tăng. Những đề tài NCKH của Bộ môn:

  • Cống hiến đặc biệt lớn lao trong việc đưa vào ứng dụng ở Việt Nam phương pháp kiểm tra không phá mẫu bằng cách chụp phim Gamma, làm cho kỹ thuật này trở nên phổ biến và được áp dụng rộng rãi ở nước ta.
  • Đóng góp đáng kể trong việc ứng dụng phương pháp phân tích hạt nhân để phân tích mẫu quặng địa chất khoáng sản ở Việt Nam.
  • Nâng cao độ chính xác trong việc đo giếng khoan, xác định vị trí và bề dày của các vỉa than đá ở vùng than Đông Bắc Việt Nam.
  • Nghiên cứu ứng dụng bức xạ gamma tán xạ ngược một lần để xác định một số đặc trưng của vật liệu như: mức vật liệu trong bình kín, bề dầy, mật độ và phân bố mật độ trong khối vật liệu.
  • Ứng dụng các kỹ thuật vật lý trong nghiên cứu, quan trắc và kiểm soát môi trường.
  • Góp phần tích cực trong lĩnh vực An toàn Bức xạ, Bảo vệ Môi trường, và, trong các dự án nghiên cứu sử dụng điện hạt nhân ở Việt Nam.

Trung tâm nghiên cứu và phát triển công nghệ chiếu sáng bằng LEDSửa đổi

  • Trung tâm Nghiên cứu phát triển công nghệ chiếu sáng bằng LED là trung tâm trực thuộc Viện Vật lý kỹ thuật có chức năng, nhiệm vụ thực thi các đề tài dự án nhằm đưa ra các sản phẩm LED ứng dụng trong khoa học kỹ thuật và trong cuộc sống. Trung tâm được thành lập với chức năng triển khai các nghiên cứu từ đề tài các cấp của các cán bộ thuộc Viện để đưa ra các sản phẩm ứng dụng trong dân dụng và công nghiệp.

Cơ cấu tổ chứcSửa đổi

Nhân sựSửa đổi

Hiện tại tổng số cán bộ công chức của Viện là 90 người, gồm có:

  • Giáo sư: 2 người
  • Phó giáo sư: 17 người
  • Tiến sĩ khoa học: 2 người
  • Tiến sĩ: 50 người
  • Thạc sĩ: 26 người

Cán bộ Viện Vật lý kỹ thuật đã góp phần đào tạo hàng trăm kỹ sư Vật lý, hơn 100 Cao học và nghiên cứu sinh, giảng dạy cho hơn 50 khóa sinh viên chính quy và hàng chục khóa Tại chức, Cao đẳng, bồi dưỡng nghiệp vụ cho gần 500 cán bộ giảng dạy, cán bộ phục vụ giảng dạy của các trường ĐH, CĐ và Trung học phổ thông trong cả nước.

Trong công tác nghiên cứu khoa học, các cán bộ của Viện đã tham gia và hoàn thành xuất sắc nhiều đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ. Đặc biệt, kết quả nghiên cứu đề tài GK1 về phá bom từ trường của Mỹ đã được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, Viện đã tiến hành các thăm dò phát hiện các khuyết tật phục vụ bảo vệ các ống dẫn dầu trong chiến tranh chống Mỹ, bảo vệ cầu cống, cung cấp nhiều thiết bị giảng dạy thí nghiệm Vật lý cho trên 50 trường ĐH, CĐ và Trung học phổ thông, cung cấp dây chuyền công nghệ đèn trang trí néon sign và nguồn cao áp cho nhiều đơn vị, đồng thời cũng cung cấp các trạm năng lượng mặt trời cho đảo Trường Sa và các tỉnh vùng sâu, vùng xa... Với các thành tích đạt được, năm 2005 Viện Vật lý kỹ thuật đã vinh dự được Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Lao động Hạng Nhất.

Hệ thống hành chínhSửa đổi

Ban Lãnh đạo Viện nhiệm kỳ 2018-2023Sửa đổi

Viện trưởng Phó Viện trưởng Phó Viện trưởng
Họ và tên: Phó Thị Nguyệt Hằng

Học hàm, học vị: PGS.TS.

Ngày tháng năm sinh: 12/4/1965

Vị trí công tác: Viện trưởng

Địa chỉ nơi làm việc: P101-C10, ĐHBK HN

Email: hang.phothinguyet@hust.edu.vn

Điện thoại: +84-04-38693498.

Họ và tên: Nguyễn Hữu Lâm

Học hàm, học vị: PGS.TS.

Ngày tháng năm sinh: 26/10/1974

Vị trí công tác: Phó viện trưởng

Địa chỉ nơi làm việc: P101-C10, ĐHBK HN

Email: lam.nguyenhuu@hust.edu.vn

Điện thoại: +84-04-38693498.

Họ và tên: Đặng Đức Vượng

Học hàm, học vị: PGS.TS.

Ngày tháng năm sinh: 19/01/1975

Vị trí công tác: Phó viện trưởng

Địa chỉ nơi làm việc: P101-C10, ĐHBK HN

Email: vuong.dangduc@hust.edu.vn

Điện thoại: +84-04-38693498.

Ban Lãnh đạo Viện qua các nhiệm kỳSửa đổi

  • Nhiệm kỳ 1985-1991:

Viện trưởng: PGS. TS. Nguyễn Xuân Chánh.

Các Phó Viện trưởng: PGS. Nguyễn Nguyên Phong, PGS. TS. Chu Hảo, PGS. TSKH. Đỗ Trần Cát (1985-1990), PGS. TS. Hoàng Văn Phong (1990-1991).

  • Nhiệm kỳ 1991-1995:

Viện trưởng: GS. TSKH. Đỗ Trần Cát.

Các Phó Viện trưởng: PGS. TS. Nguyễn Hoàng Nghị, PGS. TS. Nguyễn Đức Chiến, GVC. Ngô Anh Tuấn.

  • Nhiệm kỳ 1999-2003:

Viện trưởng: GS. TSKH. Đỗ Trần Cát.

Các Phó Viện trưởng: PGS. TS. Nguyễn Quang Sính, PGS. TS. Võ Thạch Sơn, GVC. Ngô Anh Tuấn, TS. Đỗ Văn An.

  • Nhiệm kỳ 2003-2008:

Viện trưởng: GS. TS. Nguyễn Đức Chiến.

Các Phó Viện trưởng: PGS. TS. Phùng Văn Duân, GS. TS. Võ Thạch Sơn, GVC. Ngô Anh Tuấn, TS. Phó Thị Nguyệt Hằng.

  • Nhiệm kỳ 2008-2013:

Viện trưởng: GS. TS. Nguyễn Đức Chiến (2008-2011), PGS. TS. Phó Thị Nguyệt Hằng (2011-2013).

Các Phó Viện trưởng: PGS. TS. Phó Thị Nguyệt Hằng (2008-2011), PGS. TS. Dương Ngọc Huyền, PGS. TS. Nguyễn Hữu Lâm, PGS.TS. Đặng Đức Vượng (2011-2013).

  • Nhiệm kỳ 2013-2018:

Viện trưởng: PGS. TS. Phó Thị Nguyệt Hằng.

Các Phó Viện trưởng: PGS. TS. Nguyễn Hữu Lâm, PGS.TS. Đặng Đức Vượng.

Đảng ủy ViệnSửa đổi

Đảng ủy bộ phận Vật lý Kỹ thuật nhiệm kỳ 2015-2020

Bí thư Đảng ủy: PGS. TS. Phó Thị Nguyệt Hằng - phụ trách chung, công tác tổ chức, chuyên môn Viện VLKT

Phó Bí thư: PGS. TS. Nguyễn Hữu Lâm - Phụ trách đoàn thanh niên, Hội sinh viên, công tác tài chính và Viện Kỹ thuật Hạt nhân và Vật lý môi trường

Các Đảng ủy viên: PGS. TS. Nguyễn Phúc Dương - phụ trách tuyên giáo, chuyên môn Viện ITIMS

Các chi bộ trực thuộc

  • Chi bộ Vật liệu Điện tử - Tin học: Bí thư: PGS. TSKH. Phạm Khắc Hùng; Phó bí thư: PGS. Lê Tuấn.
  • Chi bộ Vật lý đại cương - Vật lý lý thuyết: Bí thư: PGS. TS. Đỗ Phương Liên; Phó bí thư: TS. Hà Đăng Khoa.
  • Chi bộ Quang học và Quang Điện tử: Bí thư: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Trung.
  • Chi bộ ITIMS - Kỹ thuật Hạt nhân: Bí thư: PGS. TS. Nguyễn Phúc Dương; Phó bí thư: KS. Lê Văn Miễn.

Hội đồng Khoa học & Đào tạoSửa đổi

Hội đồng Khoa học và Đào tạo Viện có 14 người. Hội đồng thực hiện chức năng tư vấn cho Viện trưởng về các mặt: quy hoạch phát triển, xây dựng đội ngũ, đổi mới chương trình đào tạo, thúc đẩy nghiên cứu khoa học và các công tác quan trọng khác của Viện. Danh sách Hội đồng gồm có:

STT Học hàm Học vị Họ và tên Bộ môn, đơn vị Chức vụ
1. Giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Đức Chiến Vật liệu điện tử Chủ tịch
2. Phó giáo sư Tiến sĩ Phó Thị Nguyệt Hằng Vật lý lý thuyết Phó Chủ tịch
3. Phó giáo sư Tiến sĩ Dương Ngọc Huyền Quang học và Quang điện tử Thư ký
4. Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Hữu Lâm Vật liệu điện tử Ủy viên
5. Giáo sư Tiến sĩ Võ Thạch Sơn Quang học và Quang điện tử Ủy viên
6. Phó giáo sư Tiến sĩ Khoa học Phạm Khắc Hùng Vật lý tin học Ủy viên
7. Tiến sĩ Hà Đăng Khoa Vật lý đại cương Ủy viên
8. Phó giáo sư Tiến sĩ Đỗ Phương Liên Vật lý lý thuyết Ủy viên
9. Giáo sư Tiến sĩ Vũ Ngọc Tước Vật lý lý thuyết Ủy viên
10. Phó giáo sư Tiến sĩ Lê Tuấn Vật liệu điện tử Ủy viên
12. Phó giáo sư Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Trung Vật lý lý thuyết Ủy viên
13. Tiến sĩ Lê Hải Hưng Quang học và Quang điện tử Ủy viên
14. Phó giáo sư Tiến sĩ Đặng Đức Vượng Vật liệu điện tử Ủy viên

Đào tạoSửa đổi

Viện Vật lý kỹ thuật đảm nhiệm một khối lượng lớn nhiệm vụ đào tạo, bao gồm giảng dạy Vật lý đại cương cho tất cả các hệ đào tạo trong toàn trường, giảng dạy các môn chuyên ngành Vật lý kỹ thuật, dạy một số môn cho các khoa khác trong trường, giảng dạy sau đại học. Trong năm học 2016-2017, Viện Vật lý kỹ thuật đã giảng dạy Vật lý đại cương cho gần 7.000 sinh viên chính quy của Trường, gần 3.000 sinh viên các hệ (cao đẳng, các chương trình hợp tác, tại chức), 120 sinh viên chuyên ngành Vật lý kỹ thuật, tham gia đào tạo và hướng dẫn hơn 30 học viên cao học, nghiên cứu sinh.

Chương trình học tập cũng có nhiều thay đổi, từ khóa sinh viên K52, Viện đã áp dụng chương trình giảng dạy theo học chế Tín chỉ theo kế hoạch chung của Nhà trường. Song song với nhiệm vụ thiết kế chương trình theo học chế tín chỉ, Viện cũng tham gia biên soạn chương trình và giảng dạy cho sinh viên các lớp Kỹ sư tài năng ngành Vật lý kỹ thuật (chuyên ngành Vật liệu điện tử và công nghệ nano), chương trình Tiên tiến về Khoa học Vật liệu, chương trình cho Kỹ sư Chất lượng cao.

Từ năm học 2009-2010, mô hình đào tạo Thạc sĩ - chương trình đào tạo theo Tín chỉ 1 năm - cũng sẽ được áp dụng tại Viện Vật lý kỹ thuật. Học viên có thể lựa chọn theo định hướng ứng dụng (Master of Engineering - ME) hoặc định hướng nghiên cứu (Master of Science - MSc). Bên cạnh đó, số lượng các nghiên cứu sinh thực hiện luận án tại Viện vật lý kỹ thuật hoặc do các giáo viên của Viện hướng dẫn ngày càng tăng, đánh dấu một bước phát triển về đào tạo và nghiên cứu.

Đào tạo Đại họcSửa đổi

Mô hình chungSửa đổi

 
Mô hình đào tạo được thực hiện từ năm học 2017-2018 (Khóa 62)

Sinh viên của Trường Đại học Bách khoa Hà Nội có nhiều lựa chọn về ngành học và hướng phát triển nghề nghiệp theo nguyện vọng và năng lực cá nhân. Mô hình đào tạo của Trường được đổi mới theo hướng tích hợp, linh hoạt và hội nhập quốc tế, hỗ trợ tốt nhất cho người học phát triển sự nghiệp của mình.

Sinh viên theo học chương trình Cử nhân có thể tốt nghiệp đại học trong thời gian 4 năm, bao gồm Cử nhân kỹ thuật, Cử nhân khoa học (ngành Hóa học), Cử nhân nhóm ngành Kinh tế-Quản lý và Cử nhân ngành Ngôn ngữ Anh.

Tuy nhiên, hầu hết sinh viên của Trường đều lựa chọn Chương trình tích hợp Cử nhân-Thạc sĩ (5,5 năm) hoặc Cử nhân-Kỹ sư (5 năm) với mong muốn có được các kiến thức chuyên môn sâu, năng lực chuyên môn vững chắc để trở thành các kỹ sư, chuyên gia kỹ thuật, nhà quản lý, doanh nhân, giảng viên đại học, nhà nghiên cứu, vv.

Chương trình đào tạoSửa đổi

Đặc điểm chung là các chương trình đào tạo được xây dựng theo chuẩn quốc tế, định hướng ngành rộng, cung cấp các kiến thức nền tảng và cốt lõi, chú trọng các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo và khả năng thích ứng của người học trong môi trường quốc tế. Trường Đại học Bách khoa Hà Nội đào tạo đại học theo các chương trình đào tạo Cử nhân có cùng thời gian thiết kế 4 năm, bao gồm Cử nhân kỹ thuật (CNKT), Cử nhân công nghệ (CNCN), Cử nhân khoa học (CNKH).

Chương trình đào tạo Cử nhân kỹ thuật có mục tiêu và nội dung được xây dựng theo hướng kiến thức nền tảng cơ bản, kiến thức cơ sở chuyên môn vững chắc để có thể thích ứng tốt với lĩnh vực rộng của ngành học, chú trọng đến năng lực thiết kế và phát triển hệ thống, sản phẩm, giải pháp kỹ thuật. Cử nhân kỹ thuật có thể học chuyển tiếp để nhận bằng Kỹ sư hoặc Thạc sĩ. Chương trình đào tạo Cử nhân công nghệ (tên ngành bắt đầu bằng cụm từ Công nghệ) cung cấp cho người học kiến thức cơ sở chuyên môn rộng, chú trọng đến năng lực và kỹ năng thực hành nghề nghiệp, ứng dụng các giải pháp công nghệ, triển khai vận hành hệ thống và quá trình, quy trình công nghệ. Bằng Cử nhân công nghệ và bằng Cử nhân kỹ thuật có giá trị như nhau, tuy nhiên Cử nhân công nghệ cần nhiều thời gian hơn khi học chuyển tiếp để nhận bằng Kỹ sư/Thạc sĩ.

Chương trình học chuyển tiếp từ trình độ Cử nhân kỹ thuật/Cử nhân công nghệ để cấp bằng Kỹ sư được thiết kế nhằm cung cấp cho người học kiến thức chuyên môn sâu theo lĩnh vực ứng dụng của ngành học, chú trọng đến năng lực tính toán thiết kế và phát triển các giải pháp kỹ thuật trong một lĩnh vực ứng dụng của ngành học.

Các chương trình tiên tiến được giảng dạy bằng tiếng Anh với các ngành: Kỹ thuật Cơ điện tử; Kỹ thuật Ô tô; Khoa học và Kỹ thuật vật liệu; Công nghệ thông tin (ICT); Kỹ thuật Điều khiển, tự động hóa và hệ thống điện; Kỹ thuật Điện tử-Viễn thông và Kỹ thuật y sinh.

Đào tạo Chất lượng cao và chương trình tiên tiếnSửa đổi

Viện Vật lý kỹ thuật đảm nhiệm:

- Giảng dạy Vật lý đại cương cho sinh viên thuộc chương trình Kỹ sư chất lượng cao, Kỹ sư Tài năng, Kỹ sư thuộc chương trình tiên tiến

- Đào tạo Kỹ sư Tài năng ngành Vật lý Kỹ thuật (Công nghệ nanovi điện tử).

- Đào tạo Kỹ sư thuộc Chương trình tiên tiến chuyên ngành Khoa học Vật liệu, Vật liệu Điện tử và Công nghệ nano

Bên cạnh việc giảng dạy cho sinh viên đại học, Viện còn tham gia giảng dạy đào tạo chương trình tiên tiến Khoa học và công nghệ vật liệu, chuyên ngành Vật liệu điện tử và Công nghệ nano. Các học phần mà Viện Vật lý kỹ thuật đảm nhiệm cho chương trình này là: Vật lý đại cương, Vật lý nguyên tử và thuyết lượng tử, Vật liệu điện tử và các các quá trình chế tạo, Thí nghiệm vật liệu  điện tử, Các tính chất điện tử của vật liệu, Linh kiện điện tử bán dẫn.... Ngoài giảng dạy, Viện còn tham gia hướng dẫn Đồ án tốt nghiệp cho sinh viên thuộc chương trình này.

Đào tạo Sau đại họcSửa đổi

Viện Vật lý kỹ thuật đào tạo các chuyên ngành cao học và hướng nghiên cứu cho nghiên cứu sinh gồm

Nghiên cứu khoa họcSửa đổi

Hoạt động Nghiên cứu khoa học, Chuyển giao công nghệ và Lao động sản xuất của Viện Vật lý kỹ thuật được thực hiện tốt và hiệu quả. Trong những năm qua, các cán bộ của Viện chủ trì thực hiện nhiều đề tài Khoa học - Công nghệ các cấp, bao gồm các đề tài Nghiên cứu cơ bản cấp Nhà nước; các đề tài Khoa học - Công nghệ cấp Bộ; các đề tài Hợp tác quốc tế, các đề tài cấp Trường... Các đề tài, dự án nghiên cứu có quy mô ngày càng lớn với kinh phí hỗ trợ ngày càng tăng. Ngoài ra, Viện còn tự trích kinh phí để hỗ trợ một số đề tài cấp Viện cho các cán bộ trẻ chủ trì thực hiện. Hàng năm các cán bộ của Viện công bố khoảng 70 công trình trong đó 25-30 công bố thuộc danh mục ISI. Bên cạnh đó, các cán bộ của Viện đã có những hợp tác nghiên cứu với các đơn vị khác trong và ngoài Trường, cùng khai thác và sử dụng các thiết bị có hiệu quả. 

Hướng nghiên cứuSửa đổi

Vật liệu điện tửSửa đổi

Vật liệu điện tử (vật liệu bán dẫn, vật liệu từ, polyme dẫn, gốm điện tử, vật liệu cho quang điện tử, vật liệu có cấu trúc nano...) là hướng nghiên cứu quan trọng của Viện Vật lý kỹ thuật. Các nghiên cứu liên quan đến phương thức chế tạo vật liệu, tính chất cũng như khả năng ứng dụng của loại vật liệu này. 

Lĩnh vực về vật liệu điện tử, vật liệu và công nghệ nano:

  • Nghiên cứu, khảo sát tính chất và ứng dụng của vật liệu có cấu trúc nano (ôxit bán dẫn, ống nano cácbon, nano tinh thể dạng hạt, dạng dây…)
  • Công nghệ vi hệ thống và vi điện tử: chế tạo chip
  • Nghiên cứu chế tạo một số cảm biến nhạy khí và đo nồng độ khí NH3, hơi cồn, khí ga hóa lỏng
  • Chế tạo các thiết bị khoa học kỹ thuật phục vụ đào tạo, nghiên cứu cho các cơ sở giáo dục, các công ty và các đơn vị nghiên cứu;
  • Vật liệu polyme và ứng dụng trong y-sinh học: khả năng chẩn đoán bệnh sớm, các tác nhận gây bệnh cho cơ thể sống và thực phẩm;
  • Vật liệu từ và ứng dụng trong đời sống, trong công nghiệp quốc phòng: nam châm, máy phát ôzôn, máy hàn, biến thế cao tần, các máy đo dòng-áp điện…
  • Kỹ thuật kiểm tra không phá hủy vật liệu trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, dân dụng…
  • Kỹ thuật phân tích cấu trúc vật liệu, tính chất quang của vật liệu có độ chính xác cao;

* Công nghệ nano (nanotechnology) được phát triển từ công nghệ vi điện tử (công nghệ micro - microelectronic technology) khi thu nhỏ kích thước linh kiện. Công nghệ nano đến nay được phát triển như là một hướng mới của vật liệu điện tử và được hiểu theo cách là chế tạo vật liệu hay linh kiện có cấu trúc nhỏ bé cỡ nanomét (1 nm = 10-9 m, một phẩn tỷ mét, tương ứng kích cỡ vài chục nguyên tử). Việc chế tạo các cấu trúc, các linh kiện có kích thước nhỏ bé này một phần thu giảm kích thước của các linh kiện, thiết bị điện tử, quang điện tử..., một phần nữa là dựa trên các đặc tính mới của vật liệu khi thu nhỏ kích thước mà có các ứng dụng tương ứng.

Quang học và Quang điện tửSửa đổi

Lĩnh vực về quang học, quang điện tử:

  • Nghiên cứu chế tạo đi ốt phát quang (LED), ứng dụng trong công nghiệp và cuộc sống;
  • Vật liệu phát quang trong các loại đèn huỳnh quang, đèn compac, đèn LED ứng dụng trong đời sống;
  • Pin mặt trời: nghiên cứu chế tạo và ứng dụng;
  • Màng mỏng dẫn điện trong suốt (ZnO, ITO…) ứng dụng làm điện cực cho pin mặt trời;
  • Kỹ thuật chiếu sáng hiệu năng cao;
  • Đo và kiểm tra các thông số của nguồn phát sáng…
  • Hệ thống điện và thiết kế hệ thống điện cho chiếu sáng.  

Hướng nghiên cứu về phân tích và đo lường vật lý là thế mạnh và là hướng nghiên cứu từ lâu của Viện Vật lý kỹ thuật. Hiện nay, Phòng thí nghiệm Phân tích và Đo lường vật lý được trang bị các thiết bị khoa học phân tích tiên tiến như: phân tích cấu trúc bằng phổ nhiễu xạ tia X, máy chụp ảnh SEM môi trường kết hợp với phân tích hàm lượng nguyên tố (EDX), hệ STM/AFM có thể khảo sát bề mặt ở mức nguyên tử. Các phân tích thành phần, các liên kết trong vật liệu có thể thực hiện bằng các phép đo phổ phát xạ tia X (XPS), phổ hấp thụ nguyên tử (AAS). Bên cạnh đó, các tính chất quang của vật liệu có thể được khảo sát thông qua các phép đo phổ UV-Vis, phổ hồng ngoại và phổ micro - Raman.

Bên cạnh đó, việc đo và khảo sát các tính chất các nguồn sáng cũng được thực hiện tại Viện Vật lý kỹ thuật. Các phép đo về độ dọi, cường độ chiếu sáng, quang thông... của các loại bóng đèn chiếu sáng đều có thể đo và kiểm tra. Phòng thí nghiệm tiêu chuẩn quốc gia về Vật lý và kỹ thuật ánh sáng đang được các cán bộ của Viện tích cực triển khai. Nhiều đề tài khoa học về lĩnh vực này được thực hiện như dự án Chiếu sáng hiệu năng cao do UNDP phụ trách, dự án Asia-Link...

Một trong những hướng nghiên cứu khác về phân tích đo lường vật lý là tiến hành kiểm tra không phá hủy vật liệu (NDT-non destructive testing). Các thiết bị kiểm tra sử dụng kỹ thuật siêu âm, đo từ trường/điện trường xoáy, đo độ từ thẩm, đo bằng tia X... Các phương pháp kiểm tra không phá hủy vật liệu được ứng dụng rộng rãi trong các công trình xây dựng, cầu đường, hàn vật liệu và kiểm tra các khuyết tật, nứt ngãy, sai hỏng bên trong vật liệu kim loại.

Tính toán và mô phỏngSửa đổi

Lĩnh vực tính toán về khoa học vật liệu, ứng dụng tin học

  • Vật lý tính toán và mô phỏng vi mô;
  • Kỹ thuật tính toán song song;
  • Kỹ thuật ghép nối và đo lường điều khiển;
  • Mô phỏng các cấu trúc thấp chiều, vận chuyển điện tử trong các cấu trúc đó

Xây dựng các bài thí nghiệmSửa đổi

Để phục vụ tốt công tác giảng dạy cho sinh viên, cụ thể là thực hiện các bài thí nghiệm vật lý đại cương, các bài thí nghiệm chứng minh, thực tập nghề nghiệp và các thí nghiệm chuyên ngành, các cán bộ nghiên cứu của Viện Vật lý kỹ thuật đã tích cực thực hiện nghiên cứu, chế tạo thành công nhiều thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo. Có thể phân ra các lĩnh vực:

  • Chế tạo các thiết bị sử dụng trong thí nghiệm vật lý đại cương phục vụ cho khoảng gần 10.000 sinh viên (12 bài thí nghiệm / năm và liên tục thay đổi, bổ sung), các bài thí nghiệm chứng minh, các thí nghiệm cho sinh viên các chương trình Kỹ sư tài năng, tiên tiến...). Bên cạnh đó, một nhóm các nhà khoa học cũng thành công trong việc chế tạo các thiết bị thí nghiệm phục vụ học sinh phổ thông các cấp; 
  • Chế tạo, nâng cấp các bài thí nghiệm phục vụ sinh viên chuyên ngành vật lý kỹ thuật. Hiện nay, sinh viên chuyên ngành của Viện phải thực hiện gần 50 bài thí nghiệm / năm; 
  • Các thí nghiệm mô phỏng ảo:..

nhỏ|Hệ thống phòng sạch thí nghiệm về công nghệ nanô vi điện tử

Cơ sở vật chấtSửa đổi

Viện Vật lý kỹ thuật có cơ sở vật chất khang trang, hoàn thiện. Với việc hoàn thành Dự án nâng cấp Phòng thí nghiệm vật lý tập trung, Viện Vật lý kỹ thuật được trang bị các thiết bị khoa học kỹ thuật hiện đại phục vụ nhu cầu nghiên cứu, dịch vụ khoa học kỹ thuật với tổng kinh phí ước tính trên 3 triệu Đôla Mỹ. Các phòng thí nghiệm Vật lý đại cương cũng được nâng cấp thường xuyên nhằm phục vụ cho đào tạo đại học.

Thiết bị của Viện được phân chia thành các khối sau:

  • Các thiết bị tạo mẫu;
  • Các thiết bị đo lường & phân tích;
  • Các thiết bị về đo lường ánh sáng;
  • Các thiết bị để kiểm tra không phá hủy vật liệu;
  • Các thiết bị liên quan đến chế tạo, nghiên cứu vật liệu từ;
  • Các thiết bị thí nghiệm vật lý đại cương, thí nghiệm vật lý chuyên ngành;
  • Phòng máy tính kết nối mạng;
  • Xưởng cơ khí, điện tử.

Hợp tác - liên kếtSửa đổi

Hợp tác trong nướcSửa đổi

Viện Vật lý kỹ thuật là đơn vị xây dựng theo mô hình Viện trong Trường Đại học. Do đó, ngoài chức năng đào tạo, Viện còn có chức năng nghiên cứu khoa học và chuyển giao Công nghệ.

Trong Trường ĐHBK Hà Nội, Viện ký thỏa thuận hợp tác với các đơn vị: Viện ITIMS, Viện Kỹ thuật hóa học, Viện Khoa học và kỹ thuật vật liệu,... về việc sử dụng chung các thiết bị - cùng khai thác có hiệu quả cơ sở vật chất. Viện cũng hợp tác với Viện AIST, Viện ITIMS trong việc xây dựng chương trình Đào tạo Thạc sỹ, Nghiên cứu sinh phối hợp giữa ba đơn vị.

Viện Vật lý kỹ thuật có nhiều hợp tác với các đơn vị nghiên cứu, lao động sản xuất ngoài Trường như: Viện Khoa học vật liệu, các Trường Đại học, Cao đẳng trong nước (ĐHQG Hà Nội, ĐHQG TPHCM, ĐH Công nghệ...), với nhà máy M1 - Bộ Quốc phòng, nhà máy Rạng Đông, Công ty TNHH Haengsung Electronics Việt Nam...

Hợp tác quốc tếSửa đổi

Viện Vật lý kỹ thuật có nhiều hợp tác với các Trường Đại học, cơ sở nghiên cứu tại các nước như: Pháp, Bỉ, Nga, Đức, Ý, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore...

Hiện nay, các Hội thảo thường niên Việt - Đức được diễn ra hàng năm, cũng như các Hội thảo quốc tế tổ chức tại Việt nam do Viện đứng ra tổ chức thu hút nhiều nhà khoa học trên thế giới.

Tổ chức và cá nhân tài trợSửa đổi

  • Quỹ Karl-Benz tài trợ cho hoạt động Hội thảo khoa học hàng năm giữa các nhà khoa học Việt nam và Đức.
  • Đại học Chungnam - Hàn Quốc hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, tổ chức hội thảo.
  • Học bổng Schoder (tên một nhà khoa học Đức) hàng năm cho sinh viên có kết quả học tập tốt.
  • Học bổng của Hội cựu giáo chức Vật lý kỹ thuật cho sinh viên cố gắng học tập.
  • Học bổng dành cho sinh viên KSTN, Chương trình Tiên tiến, sinh viên học khá hàng năm của Viện VLKT trao tặng.
  • Học bổng do nhiều cá nhân, các nhà khoa học khác hỗ trợ...
  • Nhiều cuốn sách, công trình khoa học do các thầy, cô giáo trao tặng.

Sản phẩm và dịch vụSửa đổi

Viện Vật lý Kỹ thuật - Trường Đại học Bách khoa Hà Nội là một đơn vị mạnh trong nước về nghiên cứu khoa học cơ bản và triển khai ứng dụng khoa học kỹ thuật.  Được sự đầu tư mạnh về cơ sở vật chất thiết bị khoa học cũng như đội ngũ viên chức có trình độ cao, Viện đã triển khai các đề tài phục vụ kinh tế, sản xuất và đời sống.  

Trong nhiều năm qua, Viện Vật lý Kỹ thuật là một đơn vị có uy tín, được Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở sử dụng đánh giá cao về thiết kế, chế tạo các thiết bị thí nghiệm Vật lý cho các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông trong toàn quốc. Viện cũng đã chuyển giao một số công nghệ cho các đơn vị công nghiệp và quốc phòng (chuyển giao 3 dây chuyền công nghệ và thiết bị chế tạo các vật liệu từ cao cấp cho nhà máy M1 quân đội). Viện là đơn vị đầu tiên đưa ra sản phẩm thiết bị đun nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời – sản phẩm đã đạt giải VIFOTEC năm 1997. Nhiều thiết bị khác thiết kế bởi Viện Vật lý Kỹ thuật đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của người tiêu dùng như: Máy ôzôn dân dụng, máy ôzôn công nghiệp, máy cảnh báo rò rỉ gas, lò nung nhiệt độ cao… Các sản phẩm nghiên cứu của Viện đã được triển lãm tại các hội chợ công nghệ trong nước và quốc tế.

Máy tạo ôzônSửa đổi

Ozone là chất khí có mùi hắc đặc trưng và trong suốt, ở nồng độ cao Ozone có màu xanh da trời, ở thể lỏng có màu lục thẫm, ở nồng độ thấp có mùi cỏ non (dễ nhận thấy sau các cơn mưa giông, không khí trong lành trên các cánh đồng). Trong điều kiện điện trường cao, phân tử oxy (O2) chuyển thành phân tử Ozone (O3). Tuy nhiên, Ozone không bền vững, nhanh chóng phân huỷ thành phân tử oxy và nguyên tử (O). Ngay lập tức các oxy nguyên tử này kết hợp lại thành phân tử oxy thông thường theo sơ đồ: O2  O3   O2

Oxy nguyên tử (O) là chất oxy hoá rất mạnh, tốc độ sát khuẩn của khí Ozone nhanh và mạnh hơn Clorine (Cl) hàng nghìn lần (~3000 lần). Việc sử dụng khí Ozone trong xử lý môi trường nước và không khí hiệu quả và kinh tế hơn rất nhiều so với các phương pháp khác như: dùng chlorine, tia cực tím, thuốc tím, brom hoá, đồng thời cũng tránh được quá trình tích trữ hoá chất. Các oxy nguyên tử có khả năng phá huỷ cấu trúc các trực khuẩn, vi khuẩn, bào tử, phá huỷ các liên kết trong nhiều hợp chất vô cơ và hữu cơ. Đặc tính nổi trội này của Ozone được sử dụng để khử khuẩn, khử mùi, khử nấm mốc, phân huỷ dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, hoócmôn kích thích tăng trưởng và nhiều loại độc tố trong môi trường khí và môi trường nước...

Độ hoà tan của Ozone trong nước cao gấp nhiều lần (~13 lần) so với độ hoà tan của oxy trong nước. Khi tan vào trong nước O3 sẽ mất mùi, nồng độ tan trong nước phụ thuộc vào nhiệt độ và áp suất. Tốc độ phân huỷ của Ozone trong nước phụ thuộc vào độ muối, nhiệt độ và độ pH của nước (độ pH càng nhỏ thì tốc độ phân huỷ Ozone càng nhanh).

Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về tính năng tác dụng của máy Ozone, từ năm 2005 Viện Vật lý Kỹ thuật trường ĐH Bách khoa Hà Nội đã nghiên cứu, thiết kế các loại máy Ozone phục vụ cho nhiều đối tượng sử dụng từ gia đình, bếp ăn tập thể, bệnh viện… đến xử lý ở quy mô công nghiệp bằng Ozone như nước thải, nước đóng chai…

Thiết bị thí nghiệmSửa đổi

Trong nhiều năm qua, Viện Vật lý Kỹ thuật là một đơn vị có uy tín, được Bộ Giáo dục và Đào tạo và các cơ sở sử dụng đánh giá cao về thiết kế, chế tạo các thiết bị thí nghiệm Vật lý cho các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông trong toàn quốc. Sản phẩm về thiết bị thí nghiệm Vật lý đại cương sản xuất bởi Viện có mặt ở hầu hết các trường đại học, cao đẳng và trung học phổ thông trên toàn quốc. Bên cạnh đó, sản phẩm Phần mềm phòng thí nghiệm ảo và các thiết bị thí nghiệm vật lý chuyên ngành đã được sử dụng ở nhiều cơ sở đào tạo.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Viện đào tạo của trường Đại học Bách khoa Hà Nội
  2. ^ a ă Một trong 4 chuyên ngành đào tạo cho sinh viên hệ Đại học

Liên kết ngoàiSửa đổi