Mở trình đơn chính

Chiến tranh Liên Xô–Ba Lan diễn ra giữa nước Nga Xô viếtBa Lan từ 1919 đến 1921 trên vùng lãnh thổ mà ngày nay là Ba Lan, Belarus, Latvia, LitvaUkraina. Chiến tranh bùng nổ sau khi quân Ba Lan vượt biên giới, tấn công quân Nga tại Trận Bereza Kartuska (1919) (tuy vậy trên thực tế nhiều cuộc giao tranh nhỏ lẻ đã nổ ra giữa hai bên ở vùng biên giới từ nhiều tháng trước đó).

Chiến tranh Liên Xô–Ba Lan (1919—1921)
Một phần của Hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất
Polish-soviet war montage.jpg
Từ trái sang phải: Xe tăng Renault F1 của quân đội Ba Lan; Ụ súng máy của quân Ba Lan trong trận vòng cung Ossow-Radzymin-tháng 8 1920; liên quân Ba Lan-Ukraina tại mặt trận Kiev mùa xuân năm 1920; binh lính Ba Lan phòng thủ trong trận Warsaw; tù binh Nga sau trận Ossow-Radmyzin, chiến hào phòng thủ của Ba Lan ở Belarus, tháng 9 năm 1920.
Thời gian 14 tháng 2 năm 191918 tháng 3 năm 1921 (2 năm, 1 tháng, 4 ngày)
Địa điểm TrungĐông Âu
Kết quả Ba Lan chiến thắng
Thỏa thuận hòa bình Riga 1921
Khu vực Tây UkrainaTây Belarus (rộng 135.000 km² / 52123.8 sq mi) bị Ba Lan chiếm.
Tham chiến
 Nga Xô viết
 CHXHCNXV Ukraina
 CHXHCNXV Byelorussia
Polrewkom
Hỗ trợ:
 Litva
 Ba Lan
Ukraina
(Sau 1920)
 Latvia
(Trận Daugavpils)
Belarus
 CHXHCNXV Ukraina
(Biệt đội được chọn)
Hỗ trợ:
 Pháp
 Anh Quốc
(Quân Ba Lan tự do)
 Hoa Kỳ
(Quân Mỹ gốc Ba Lan)
Vương quốc Hungary (1920–1946) Hungary
 România
Nga Bạch Vệ
Chỉ huy và lãnh đạo
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang NgaMikhail Nikolayevich Tukhachevsky
(Phương diện phía Tây)
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang NgaJoseph Stalin
(Phương diện Lviv)
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang NgaAleksandr Ilyich Yegorov
(Phương diện Tây Nam)
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang NgaSemyon Mikhailovich Budyonny
Đệ nhị Cộng hòa Ba Lan Józef Piłsudski (Tổng tư lệnh)
Đệ nhị Cộng hòa Ba Lan Józef Haller
Đệ nhị Cộng hòa Ba Lan Tadeusz Jordan-Rozwadowski
Đệ nhị Cộng hòa Ba Lan Edward Rydz-Śmigły
Đệ nhị Cộng hòa Ba Lan Władysław Sikorski
Flag of the Ukrainian State.svg Symon Petlyura
Lực lượng
800.000—950.000 binh lính (mùa hè 1920) 738.000 binh lính (mùa hè 1920)
Thương vong và tổn thất
67,000 chết[1]
80,000—157,000[2][3] hoặc 200,000+ bị bắt
(khoảng 60.000-83.500 tù binh chết trong trại giam[4]
khoảng 47,000—72,000 chết
113,518 bị thương
51,351 bị bắt[5][6][7]

Mục lục

Nguyên nhân chiến tranhSửa đổi

Khi Thế chiến thứ nhất kết thúc (1918), Đế quốc Đức sụp đổ và Ba Lan được công nhận là nước độc lập. Trong Hội nghị Hòa bình Paris năm 1919, quốc tế đã ban hành một đường biên giới giữa Ba Lan và Nga vào tháng 12 năm 1919 (đường Curzon) như một nỗ lực nhằm xác định các vùng lãnh thổ có "đa số dân tộc Ba Lan không thể chối cãi". Theo đường Curzon, các vùng từ Brest trở về phía Đông là của Nga, trở sang phía Tây là của Ba Lan.

Với sự sụp đổ của Đế chế Nga và Đức trong Thế chiến 1, hầu như tất cả các nước nhỏ ở Đông Âu đã phát động chiến tranh để tranh giành nhau lãnh thổ: Romania đánh nhau với Hungary để giành Transylvania, Nam Tư đánh nhau với Ý để giành Rijeka, Ba Lan đánh nhau với Tiệp Khắc để giành Cieszyn Silesia, đánh với Đức để chiếm Poznań và Đông Galicia.

Không chỉ có tranh chấp lãnh thổ với Tiệp Khắc và Đức, Ba Lan còn muốn chiếm đất của nước Nga. Chính phủ Ba Lan không thỏa mãn với đường biên giới Curzon mà muốn muốn tái lập lãnh thổ mà Đế chế Ba Lan thời cực thịnh từng có năm 1772, khi đó Ba Lan có lãnh thổ rộng lớn nhất nhờ việc đánh chiếm và sáp nhập các vùng đất của người BelarusUkraina trong suốt thế kỷ 16. Được sự hậu thuẫn của Anh, Pháp, Hoa Kỳ (về sau có cả Đức) trong mục đích tiêu diệt nước Nga Xô viết, Chính quyền Ba Lan сho rằng thời gian lộn xộn do cách mạng ở Nga là cơ hội lý tưởng để sáp nhập vùng Belarus và Ukraina, từ đó tạo điều kiện để Ba Lan vươn lên thành cường quốc ở châu Âu.

 
Áp phích tuyên truyền của Ba Lan, dòng chữ có nghĩa là "tấn công đám Bolshevik".

Theo giáo sư Michael Jabara Carley ở Đại học Montreal (Canada), lãnh đạo Ba Lan là nguyên soái kiêm tư lệnh Jozef Piłsudski là một nhân vật đầy tham vọng và bí ẩn, ông ta muốn khôi phục lại lãnh thổ Ba Lan về thời kỳ năm 1772 (tức là khi Ba Lan vẫn còn đô hộ nhiều vùng ở Ucraina và Belarus), và xa hơn, "biến Ba Lan thành một cường quốc vĩ đại". Ba Lan đã lớn tiếng phê phán Tiệp Khắc và đã giao chiến giành lãnh thổ với cả người Lithuania lẫn Ukraine[8].

Chính quyền Xô Viết nỗ lực khôi phục lãnh thổ thuộc Đế chế Nga trước Chiến tranh thế giới thứ nhất, vốn đã có nhiều phần đất tách ra ly khai hoặc bị Đức chiếm mất sau hiệp ước Brest-Litovsk mà Nga ký với Đức. Ngoài ra, họ cũng ủng hộ việc thiết lập các nhà nước xã hội chủ nghĩa ở các nước châu Âu. Sau cách mạng tháng 11 ở Đức (1918), Thỏa thuận hòa bình Brest giữa nước Nga Xô Viết với Đế quốc Đức trở nên vô hiệu. Với sự rút lui của quân Đức, Hồng Quân bắt đầu tiến mạnh về phía Tây nhằm tái chiếm lại vùng Belarus và Ucraina (bị Đế quốc Đức chiếm từ Nga trong thế chiến thứ nhất).

Ngày 17 tháng 12 năm 1918, Hồng quân tiến quân vào Dаugаvpils (Dvinsk) và tiếp tục tiến sâu vào các vùng mà nay là Litva và Belarus. Ngày 1 tháng 1 năm 1919, sau khi quân Đức rút khỏi Vilnius, các tổ chức quân sự Ba Lan địa phương đã chiếm thành phố, nhưng ngày 5 tháng 1, Hồng Quân giành lại Vilnius. Vùng Memel tách ra khỏi Đức và bị Pháp chiếm. Người Litva gửi 1.500 binh lính để chiếm Klаipeda. Quân Litva giao chiến với 200 người Pháp, trận đánh giành thành phố diễn ra trong 5 ngày, kết quả có 12 người Litva, 2 người Pháp và 1 cảnh sát Đức chết, Nga lập tức đưa quân đến biên giới. Vào tháng 2 năm 1919, Nga dựng nên chính quyền Cộng hòa Litva Bêlarut (Litbel), chính phủ này không được ưa chuộng do chính sách cưỡng chế thực phẩm và ngựa của người dân để dành cho quân đội. Trong khi đó, tại Ba Lan, những người cộng sản Ba Lan lập ra Đảng Công nhân Ba Lan Cộng sản và kêu gọi người dân Ba Lan đứng lên lật đổ chế độ tư sản, lập tức Đảng này bị chính phủ Ba Lan trấn áp, lãnh đạo của họ bị bắt giam hoặc phải lưu vong sang nước khác[9].

Từ ngày 16 tháng 11, những người Bolshevik đã thành lập Quân đoàn phương Tây. Vào ngày 18 tháng 11 năm 1918, Vladimir Lenin đã ra lệnh cho Hồng quân bắt đầu một chiến dịch, có tên theo một số nguồn là Target Vistula. Mục đích cơ bản của chiến dịch là tiến quân về phía Đông, lập nên các chính phủ ủng hộ Xô viết tại các quốc gia mới giành độc lập ở đây và hỗ trợ các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Đức và Áo-Hung. Quân đội Nga Xô viết đã không lường trước sự phản kháng nghiêm trọng đối với họ trên đường đi, tiến độ của họ bị chậm lại do cuộc nội chiến đang tiếp diễn. Đối mặt với những sự chống cự ban đầu của các lực lượng đối lập và quân tự vệ địa phương, cuộc tấn công chậm về phía tây của Hồng quân tiếp tục đến cuối tháng 12 năm 1918. Vào ngày 12 tháng 1, Bộ Tư lệnh Xô viết đã tuyên bố mục tiêu của chiến dịch Target Vistula: tiến về phía sông Neman. Vào ngày 12 tháng 2, mục tiêu đó đã được cập nhật thành vượt qua sông Bug và áp sát biên giới của Ba Lan.

Vào ngày 5 tháng 1 năm 1919, Hồng quân đã tiến vào Minsk gần như không bị ngăn cản, lật đổ nước Cộng hòa Nhân dân Belarus tồn tại ngắn ngủi. Nhưng ngày càng nhiều đơn vị dân quân tự phát của Ba Lan và Belarus đã xuất hiện ở miền tây Belarus và Litva. Được trang bị không tốt và hầu hết bao gồm các tân binh địa phương, thế nhưng họ quyết tâm ngăn chặn bước tiến của quân Nga. Một loạt cuộc giao tranh giữa họ và quân Bolshevik xảy ra sau đó. Quân đội Ba Lan bắt đầu gửi các đơn vị chính quy về phía đông để hỗ trợ cho các lực lượng dân quân Ba Lan, trong khi người Nga đã gửi các đơn vị của họ về phía tây. Xung đột giữa hai bên dường như không thể tránh khỏi.

Vào đầu năm 1919, một số cuộc giao tranh lẻ tẻ đã diễn ra gần như một cách tình cờ mà không có bất kỳ mệnh lệnh nào từ các chính phủ của hai bên, khi các đơn vị quân đội Ba Lan xuất hiện tự phát ở khu vực biên giới của Litva, Belarus và phía tây Ukraine và đã đụng độ với những người cộng sản địa phương và lực lượng Bolshevik. Cuối cùng, quân Xô viết có tổ chức hơn đã thắng và đẩy lùi các đội quân Ba Lan về phía tây.

Chính phủ Ba Lan muốn chủ động tấn công Nga. Họ đã chuẩn bị sẵn việc tuyên chiến với quân đội Nga Xô viết bằng việc đàm phán một hiệp ước với Đức vào ngày 2 tháng 2, cho phép các đơn vị Ba Lan di chuyển qua các vùng lãnh thổ vẫn thuộc kiểm soát của Đức. Các lực lượng nhỏ của Ba Lan (12 tiểu đoàn pháo binh, 12 trung đoàn kỵ binh, 3 pháo binh) đã chiếm được vùng biên giới phía đông. Khu vực phía nam, từ sông Pripyat đến thị trấn Szczytno, được giao cho Grupa Podlaska (Tập đoàn Podlaska, sau này gọi là Grupa Poleska), do Tướng Antoni Listowski chỉ huy. Các đơn vị này đã tập trung gần Antopol và di chuyển về phía Brest, Pinsk và Bereza Kartuska. Vùng Wolyn được giao cho Grupa Wołyńska (Tập đoàn Wolyn) dưới quyền Tướng Edward Rydz-migły. Khu vực phía bắc, từ Szczytno đến Skidel, được bảo vệ bởi Dywizja Litewsko-Białoruska (Sư đoàn Litva Belarus) dưới quyền Tướng Wacław Iwaszkiewicz-Rudoszański, tập trung gần Volkovysk. Đến ngày 14 tháng 2, quân Ba Lan đã đảm bảo các vị trí tấn công dọc theo tuyến Kobryn, Pruzhany, sông Zalewianka và Neman. Vào ngày 14 tháng 2, các đơn vị Ba Lan có tổ chức đầu tiên đã tiếp cận với các đơn vị tiên phong của Hồng quân và một tiền tuyến biên giới bắt đầu hình thành từ Litva, qua Belarus đến Ukraine.

Trong quá trình chiến tranh, Ba Lan đã nhận được những khoản viện trợ vũ khí khá lớn từ Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, HungaryRomania, những quốc gia có chung sự thù địch với nước Nga Xô viết. Pháp đã viện trợ hàng trăm triệu franc cho Ba Lan. Với ngân sách ước khoảng 350 triệu franc, Pháp đã đào tạo và trang bị cho khoảng 70.000-80.000 binh sĩ thuộc đội quân Jozef Haller, vốn đã được triển khai tại Ba Lan sau khi Thế chiến I. Chính phủ Pháp còn gửi một phái đoàn quân sự lớn đến Ba Lan gồm 600 cố vấn cấp cao để giúp Ba Lan lấy lại tinh thần, nhằm tấn công vào Nga Xô viết[10]

Cuộc đụng độ nghiêm trọng đầu tiên giữa hai bên xảy ra vào ngày 14/2/1919. Quân Ba Lan là bên ra tay trước, phát động tấn công vào lãnh thổ Nga tại Trận Bereza Kartuska (1919), sau đó quân Ba Lan vượt sông Neman, tràn vào lãnh thổ Nga, chiến tranh chính thức nổ ra.

Diễn biếnSửa đổi

 
Mặt trận vào tháng 3 năm 1919

Ba Lan tấn công NgaSửa đổi

  • Tháng 3, Trận Bereza Kartuska (1919), quân đội Ba Lan tấn công Nga và vượt sông Neman, bắt đầu xâm chiếm Ucraina và Belarus.
  • 4 tháng 4 — Ba Lan chiếm Kovel.
  • 9 tháng 2 — Ba Lan chiếm Brest.
  • Tháng 7, tại Ba Lan có đội quân 70 ngàn người được thành lập tại Pháp và được tổ chức ở mức đáng kể bởi người Mỹ gốc Ba Lan.
  • 1921 tháng 4 — Quân Ba Lan đánh chiếm Vilnius.
  • 8 tháng 8 — Quân đội Ba Lan chiếm Minsk.
  • 29 tháng 8 — Quân đội Ba Lan chiếm Bobruysk.
  • Vào tháng 12 năm 1919, Hồng quân rõ ràng đã giành ưu thế trong cuộc Nội chiến và chính phủ Liên Xô đã gửi các đề nghị đàm phán hòa bình cho chính phủ Ba Lan. Phía Ba Lan từ chối các cuộc đàm phán, do nghi ngờ rằng Nga chỉ muốn câu giờ trước khi phản công quân Ba Lan[9]
 
Mặt trận vào tháng 12 năm 1919
  • Mùa xuân năm 1920Anh, Pháp, Hoa Kỳ cung cấp cho Ba Lan 1.494 pháo và súng cối, 2.800 súng tự động, gần 700 máy bay, 10 triệu viên đạn. Pháp viện trợ cho Ba Lan 750 triệu phơ-răng.
  • 25 tháng 4, 1920 — thành lập liên minh với Simon Vasilievich Petlyura, quân Ba Lan cùng với lực lượng vũ trang của Petliura tấn công Nga, chuẩn bị chiếm UkrainaLitva, trên mặt trận rộng từ sông Pripyat đến sông Dnestr.
  • 7 tháng 5 — binh sĩ Ba Lan và Ukraina của Petlyura chiếm Kiev.
 
Vladimir Lenin, lãnh tụ Nga Xô viết phát biểu ở Moskva ngày 5 tháng 5 năm 1920 để động viên tinh thần binh lính.
  • Cuộc tấn công của binh lính Ba Lan kèm theo những cuộc thảm sát và xử bắn hàng loạt dân Do Thái và dân thường Ukrainia: ở thành phố Rovno, quân Ba Lan bắn chết hơn 3 ngàn thường dân, ở khu Теtievo gần 4 ngàn người Do Thái bị giết, các làng Ivanovtsi, Kucha, Sobachi, Yablunovka, Novaya Greblya, Melnichi, Kirillovka v.v... bị phá hủy hoàn toàn, dân làng cũng bị sát hại. Theo Elissa Bemporad, bạo lực mà quân Ba Lan gây ra cho người Do Thái đã khuyến khích sự ủng hộ của người Do Thái đối với Hồng quân[11][12]

Quân Nga phản côngSửa đổi

 
Mặt trận vào tháng 6 năm 1920
  • 5 tháng 6 năm 1920 — Quân Nga bắt đầu phản công ở Ukraina (mặt trận Tây-Nam dưới sự chỉ huy của Аleksandr Ilyich Еgorov).
  • 6 tháng 6 — Binh sĩ Xô Viết tái chiếm Zhitomir và Berdichev.
  • 12 tháng 6 — Binh sĩ Xô Viết tái chiếm Kiev.
  • 4 tháng 7 — bắt đầu cuộc tấn công của binh lính Xô Viết lên mặt trận phía Tây; binh sĩ Xô Viết tái chiếm Rovno.
  • 11 tháng 7 — Binh sĩ Xô Viết tái chiếm Minsk.
  • 20 tháng 7 — Binh sĩ Xô Viết tái chiếm Vilnius.
  • 28 tháng 7, hội nghị các đại sứ khối Аntаnta trao cho Ba Lan các vùng phía Đông của Теshen, bao gồm thành phố Теshen. Thượng viện Ba Lan không thỏa mãn với phần này của khu vực nên không chấp nhận.
  • 30 tháng 7, ở Belostok, Ủy ban Cách mạng Lâm thời Ba Lan được thành lập, tuyên bố rằng, Hồng Quân tiến đến biên giới Ba Lan không vì lợi ích của mình, mà để bảo vệ đất nước và sẵn sàng giúp đỡ nhân dân Ba Lan trong cuộc đấu tranh giải phóng của chủ nghĩa xã hội.
 
Mặt trận vào tháng 8 năm 1920
  • 25 tháng 720 tháng 8 — chiến dịch phản công Lvov của quân Xô Viết ở mặt trận Tây-Nam, kế quả là tái chiếm các phần: 13 tháng 8 - Brodi, 15 tháng 8 - Buek, nhưng không làm chủ được Lvov.
  • 2 tháng 8 — binh sĩ Xô Viết làm chủ mặt trận phía Tây Brest.
  • 13 tháng 8 — Hồng quân của Mikhail Tukhachevsky tấn công Warszawa, chiếm Radzimin, cách thủ đô Ba Lan 23 km; mũi tiến công xa nhất của Hồng quân cách Warsaza chỉ 8 km.

Ba Lan phản công, đánh chiếm miền Tây Ucraina, tây Belarus và LitvaSửa đổi

 
Biên giới Ba Lan theo kết quả chiến tranh
 
Các lãnh thổ mà Ba Lan chiếm của Nga năm 1921 được tô màu hồng. Đường màu xanh lá là đường Curzon, đường biên giới trước đó giữa Nga và Ba Lan
  • 14 tháng 8 — Ba Lan bắt đầu phản công từ Warszawa. Đó là Trận chiến Warszawa (hay Phép màu trên Wisla) kết thúc 25 tháng 8. Quân Ba Lan dưới sự chỉ huy của Józef Piłsudski phản công từ hướng Nam, bẻ gãy cuộc tấn công của quân Nga, buộc quân Nga phải rút chạy trong hỗn loạn về hướng Đông và phía sau sông Neman. Chỉ đến những năm đầu thế kỷ 21, các nhà sử học Ba Lan mới tìm thấy những thông điệp mật mã của Hồng quân đã được các nhà mật mã học Ba Lan giải mã, cho thấy rằng Pilsudski đã biết rõ các đơn vị Hồng quân bố trí ra sao, và điều này đã giúp ông ta quyết định tiến hành cuộc phản công thành công vào ngày 13 tháng 8.[9]
  • 17 tháng 8, ở Minsk bắt đầu các cuộc đàm phán giữa Ba Lan và Nga Xô Viết.
  • 25 tháng 826 tháng 8 — Một phần của tập đoàn quân 4, lữ đoàn 3 kỵ binh, sư đoàn 2 của tập đoàn quân 15 Xô Viết vượt biên giới Đông Phổ bị quân Đức đánh bại.
  • 31 tháng 8 — vòng vây Lwów được giải tỏa.
  • 31 tháng 8 — trận Kоmаrów, trận kỵ binh lớn nhất từ 1813. Tập đoàn quân 1 kỵ binh dưới quyền Budyonny bị thua.
  • 5 tháng 9, theo hòa ước Ba Lan-Litva, Vilnius nhập vào Litva.
  • 7 tháng 9, Ba Lan xóa bỏ hòa ước mới ký 2 ngày trước đó, tái chiếm Vilnius và thành lập ở đó chính phủ trung ương Litva.
  • 15 tháng 1025 tháng 10 — trận Neman. Quân rút lui của Tukhachevsky thử củng cố vị trí ở Polesie, vùng Grodno, nhưng bị quân Ba Lan dưới quyền Juzef Pilsudsky tấn công từ cánh, phải rút lui. Gần 40.000 quân bị bắt làm tù binh.
  • Nửa đầu tháng 10 — quân Ba Lan tiến đến đường Ternopol—Dubno—Minsk.
  • 9 tháng 10, tướng Ba Lan Zheligovsky chiếm thành phố Vilnius. Litva cắt đứt quan hệ ngoại giao với Ba Lan và công bố tình trạng chiến tranh. Chính phủ Xô Viết chống lại việc Ba Lan chiếm Vilnius.
  • 12 tháng 10 — ký kết hòa ước Riga.
  • 18 tháng 3 năm 1921 — kết thúc Thỏa thuận Riga 1921. Ba Lan chiếm được vùng Tây BelarusTây Ukraina, cũng như thủ đô Vilnius của Litva.
  • Trong số 200 ngàn binh sĩ Hồng quân, gần 70 ngàn bị Ba Lan bắt làm tù binh đã chết vì đói khát, bệnh tật, tra tấn, sỉ nhục và hình phạt.
  • 20 tháng 03, diễn ra trưng cầu dân ý về vấn đề Silezy thuộc Đức hay Ba Lan.
  • 20 tháng 10, phần Đông-Nam Thượng Silezy được trаo cho Ba Lan. Việc tái vũ trang của người Ba Lan ở Silezy vào tháng 5 kết thúc. Hạ Silezy ở lại nước Đức.
  • 15 tháng 3 năm 1923 - hội nghị các đại sứ Anh, Pháp, Nhật và Ý thiết lập biên giới Ba Lan-Litva, trao tỉnh Vilen cho Ba Lan.

Tù binh chiến tranhSửa đổi

Theo cuốn "The Polish Captivity" của giáo sư Matveyev ở Đại học Quốc gia Moscow, Ba Lan đã bắt được 206.877 binh lính Hồng quân. Matveyev cáo buộc rằng khi bị giam tại các trại của Ba Lan, binh lính Hồng quân đã bị đối xử vô nhân đạo, người bị thương không được cứu chữa, người thì bị chết đói hoặc chết vì giá lạnh, thậm chí bị tra tấn, nhục hình và ngược đãi. Nhà văn Xô Viết Alexander Serafimovich, sau là phóng viên đặc biệt cho tờ Izvestia và Pravda ở Ba Lan đã viết: "Sự tra tấn và nhục hình mà Hồng quân phải chịu làm cho thế giới phải rùng mình về sự tàn bạo mà quân đội Ba Lan đã áp dụng, vừa tra tấn vừa hô "diệt hết những con Chó Đỏ, những kẻ xâm lược Nga"[13].

Phía Ba Lan chỉ công nhận việc bắt giữ 80-110 nghìn tù binh, và có 18.000 tù binh Nga bị chết trong trại giam của họ. Tuy nhiên, theo tài liệu được bảo quản tại Lưu trữ Quân đội Trung ương Ba Lan (CAW) thì con số này không khớp. Giáo sư Matveyev đã chỉ ra quân đội Ba Lan đã bí mật giam giữ số lượng tù nhân thực tế vượt trên 150.000 người, và chỉ riêng trại giam Tuchola đã có khoảng 22.000 tù binh Hồng quân bị chết. Giáo sư Matveyev ước tính đã có khoảng 60.000 - 83.500 tù binh Nga đã chết trong trại giam Ba Lan, tương đương 30-40% số tù binh[13]

Tháng 9/1998, Tổng công tố Nga Yuri Chayka đã gửi thư cho Bộ trưởng Tư pháp Ba Lan yêu cầu tiến hành cuộc điều tra chính thức về cái chết của tù binh Nga bị bắt trong cuộc chiến do điều kiện sống cực khổ, vô nhân đạo. Phía Ba Lan đã bác bỏ đề nghị này. Đại sứ Nga Andreyev cho rằng Ba Lan không muốn dư luận hiểu sâu một số giai đoạn lịch sử mà Ba Lan là kẻ hiếu chiến, bởi "bất lợi, giữa kín càng lâu càng tốt"[13]

Tuy vậy, nguyên nhân chính gây ra cái chết của các binh sĩ Nga trong các trại giam của Ba Lan là do dịch bệnh truyền nhiễm, một phần xuất phát từ điều kiện vệ sinh kém trong các trại giam, một phần là bởi số tù binh quá đông. Cần lưu ý rằng vào thời điểm đó dịch bệnh bùng phát ở Ba Lan cũng đã khiến cho rất nhiều binh lính và thường dân thiệt mạng. Sử gia người Anh Edgar Vincent cũng khẳng định rằng các tù binh Nga đã được phía Ba Lan đối xử một cách nhân đạo: "Tôi đã tự mình làm nhiệm vụ xem xét điều kiện sống của các tù binh Nga và từ những gì tôi đã thấy, tôi có thể kết luận rằng việc đối xử đối với các tù binh là khá nhân đạo. Tôi thấy không có dấu hiệu bắt nạt những người dễ bị tổn thương. Các tù nhân Nga được người Ba Lan coi là nạn nhân chứ không phải là kẻ thù. Tôi thấy rằng họ khỏe mạnh và được chăm sóc tốt, và họ có vẻ hạnh phúc khi được sống an toàn và cách xa chiến trường" [14].

Ở chiều ngược lại, các nhà sử học Alexandrowicz Stanisław và Waldemar Rezmer cũng cho biết đã có tới 20,000 tù binh Ba Lan (trong tổng số 51.000 tù binh Ba Lan bị quân Nga bắt giữ) đã chết trong các trại giam của Nga và Lithuania [15]. Điều kiện trong các trại giam của Nga vô cùng tồi tệ: các tù binh Ba Lan bị tước đoạt tất cả những đồ đạc có giá trị, giày dép, quần áo, và thậm chí cả đồ lót. Nguồn lương thực khan hiếm khiến cho nhiều tù binh chết đói. Điều kiện vệ sinh, chăm sóc y tế kém cũng như việc thiếu quần áo trong khí hậu lạnh dẫn đến nhiều bệnh truyền nhiễm (thương hàn, thương hàn, kiết lỵ, cúm Tây Ban Nha). Ngoài ra, các tù binh Ba Lan cũng thường xuyên bị đánh đập tàn nhẫn. [16].

Kết quả chiến tranhSửa đổi

 
Tranh biếm họa mô tả việc Ba Lan chiếm miền Tây Belarus, xé đôi vùng đất này khỏi Nga

Kết quả chính của cuộc chiến: khu vực Tây Ukraina và Tây Belarus của nước Nga Xô viết bị Ba Lan đánh chiếm. Tại Hiệp ước Riga tháng 3 năm 1921, nước Nga Xô viết đã phải chấp nhận mất một vùng đất khá lớn ở phía đông của Đường Curzon (biên giới giữa 2 nước trước chiến tranh). Ba Lan đã chiếm được một vùng lãnh thổ lớn, bao gồm thành phố Vilnius, Đông Galicia (1919) bao gồm thành phố Lwów, cũng như hầu hết khu vực Volhynia (1921). Tổng cộng, Ba Lan đã xâm chiếm được gần 135.000 km2 lãnh thổ, lấn sâu khoảng 250 km về phía đông của đường Curzon (nay là miền Tây Ucraina và Tây Belarus)[17][18]. Ngoài ra, Ba Lan còn chiếm luôn thành phố Vilnius của Litva, khiến nước này cắt đứt quan hệ ngoại giao và công bố tình trạng chiến tranh với Ba Lan.

Do sống trong vùng lãnh thổ bị Ba Lan đánh chiếm, đã có khoảng 6 triệu người dân Belarusia và Ukraina (thuộc dân tộc Nga) phải chịu sự chiếm đóng của Ba Lan. Việc chính phủ Ba Lan thi hành chính sách đồng hóa người Belarusia và Ukraina đã thúc đẩy sự phát triển của các tổ chức dân tộc chủ nghĩa Ucraina chuyên đấu tranh chống lại sự chiếm đóng của Ba Lan[19][20]

Đây trở thành nguyên nhân cho sự thù địch giữa hai nước trong suốt 20 năm. Đến năm 1939, lãnh thổ này được Liên Xô thu hồi trong cuộc tấn công Ba Lan, và được tái sáp nhập vào lãnh thổ Ukraina và Belarus. Biên giới hiện đại được quốc tế công nhận giữa Liên Xô (nay là Belarus, Ucraina) với Ba Lan trở về cơ bản giống như Đường Curzon, tức là biên giới giữa 2 nước vào đầu năm 1919.

Thư mụcSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Rummel1990
  2. ^ NDAP 2004 Official Polish government note about 2004 Rezmar, Karpus and Matveev book.
  3. ^ Matveev 2006
  4. ^ http://baodatviet.vn/the-gioi/ho-so/sat-hai-tu-binh-lien-xo-trong-cuoc-chien-voi-ba-lan-3328711/?paged=2
  5. ^ Norman Davies (1972). White eagle, red star: the Polish-Soviet war, 1919–20. Macdonald and Co. tr. 247. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2011. 
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Karpus_zwyciezcy
  7. ^ 47,055 names of Polish mortal casualties
  8. ^ http://baodatviet.vn/the-gioi/ho-so/sat-hai-tu-binh-lien-xo-trong-cuoc-chien-voi-ba-lan-3328711/
  9. ^ a ă â The Rebirth of Poland. University of Kansas, lecture notes by professor Anna M. Cienciala, 2004. Retrieved 2 June 2006.
  10. ^ http://baodatviet.vn/the-gioi/ho-so/sat-hai-tu-binh-lien-xo-trong-cuoc-chien-voi-ba-lan-3328711/
  11. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên PDS85
  12. ^ Bemporad, Elissa (2013). Becoming Soviet Jews: The Bolshevik Experiment in Minsk. Indiana University Press. ISBN 978-0253008275. 
  13. ^ a ă â http://baodatviet.vn/the-gioi/ho-so/sat-hai-tu-binh-lien-xo-trong-cuoc-chien-voi-ba-lan-3328711/?paged=2
  14. ^ https://niezlomni.com/oburzajaca-prowokacja-katyniu-tragicznym-dla-nas-miejscu-przypominaja-polacy-mordowali-rosjan-foto/
  15. ^ (tiếng Ba Lan) Karpus, Zbigniew, Alexandrowicz Stanisław, Zwycięzcy za drutami. Jeńcy polscy w niewoli (1919-1922). Dokumenty i materiały (Victors behind the fences. Polish POWs (1919-1922). Documents and materials). Wydawnictwo Uniwersytetu Mikołaja Kopernika w Toruniu, Toruń, 1995, ISBN 83-231-0627-4 Bản mẫu:Pn
  16. ^ Jeńcy polscy w niewoli sowieckiej 1919-1921
  17. ^ Michael Graham Fry; Erik Goldstein; Richard Langhorne (30 tháng 3 năm 2004). Guide to International Relations and Diplomacy. Continuum International Publishing Group. tr. 203. ISBN 978-0-8264-7301-1. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  18. ^ Spencer Tucker (11 tháng 11 năm 2010). Battles That Changed History: An Encyclopedia of World Conflict. ABC-CLIO. tr. 448. ISBN 978-1-59884-429-0. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ Jan S. Prybyla (2010). When Angels Wept: The Rebirth and Dismemberment of Poland and Her People in the Early Decades of the Twentieth Century. Wheatmark, Inc. tr. 46–. ISBN 978-1-60494-325-2. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011. 
  20. ^ Aviel Roshwald (2001). Ethnic nationalism and the fall of empires: central Europe, Russia, and the Middle East, 1914-1923. Routledge. tr. 168–. ISBN 978-0-415-17893-8. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2011.