Trần Vũ (đạo diễn)

đạo diễn, Nghệ sĩ nhân dân Việt Nam

Trần Vũ (10 tháng 11 năm 192516 tháng 2 năm 2010) là một đạo diễn có nhiều đóng góp cho Điện ảnh Việt Nam. Ông được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân vào năm 1988.

Trần Vũ
Nghệ sĩ nhân dân
Trần Vũ.jpg
Chân dung nghệ sĩ Trần Vũ
Thông tin cá nhân
SinhNguyễn Phú
(1925-11-10)10 tháng 11, 1925
Nam Định
Mất16 tháng 2, 2010(2010-02-16) (84 tuổi)
Hà Nội
Giới tínhnam
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệp
Sự nghiệp điện ảnh
Năm hoạt động1959 – 2010
Đào tạoTrường Điện ảnh Việt Nam
Tác phẩm
Giải thưởngGiải thưởng Nhà nước (2007)
Giải thưởng
Liên hoan phim Việt Nam 1973
Đạo diễn xuất sắc
Liên hoan phim Việt Nam 1975
Đạo diễn xuất sắc
Liên hoan phim Việt Nam 1977
Biên kịch xuất sắc

Website
Trần Vũ trên IMDb

Tiểu sửSửa đổi

Trần Vũ tên thật là Nguyễn Phú, sinh ngày 10 tháng 11 năm 1925 tại Nam Định. Năm 1959, khi đã 34 tuổi, ông bắt đầu theo học khóa đầu tiên của lớp đạo diễn điện ảnh kéo dài 3 năm của Trường Điện ảnh Việt Nam dưới sự đào tạo của một số đạo diễn đến từ Khối phía Đông như Ajdai Ibraghimov (ru), một đạo diễn người Azerbaijan.[1] Sau hàng loạt giải thưởng tại Liên hoan phim Việt Nam và các liên hoan phim quốc tế, ông được nhà nước trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú vào năm 1984,[2] và Nghệ sĩ nhân dân vào năm 1988.[3]

Năm 2007, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước cho chuyên ngành điện ảnh.[4] Đầu năm 2010, ông lâm bệnh nặng và qua đời vào ngày 16 tháng 2, thọ 85 tuổi.[5]

Sự nghiệpSửa đổi

Khởi đầuSửa đổi

Bộ phim đầu tay đồng thời là tác phẩm tốt nghiệp của ông là "Con chim vành khuyên". Cho đến khi Trần Vũ qua đời, Con chim vành khuyên vẫn là một trong những bộ phim thành công nhất của điện ảnh Việt Nam. Bộ phim không chỉ giành được Bông Sen Vàng cho phim truyện điện ảnh tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 nhân dịp 20 năm thành lập ngành Điện ảnh Cách mạng Việt Nam, mà còn nhận được giải đặc biệt dành cho phim ngắn tại Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary vào năm 1962.[5] Con chim vành khuyên được đánh giá là sự "sáng tạo của một nghệ sĩ được đào tạo bài bản, và thoải mái trong hình thức nghệ thuật của mình".[6]

Năm 1963, ông làm phó đạo diễn cho Mai Lộc trong bộ phim Đi bước nữa. Trong đoàn làm phim còn có Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đăng Bảy đảm nhiệm quay phim, họa sĩ Nguyễn Như Huân, nhạc sĩ Văn Cao và hai Nghệ sĩ ưu túĐức Hoàn, Lưu Xuân Thư với vai trò diễn viên.[7] Năm 1964, ông hợp tác với Nghệ sĩ nhân dân Huy Thành để thực hiện bộ phim Làng nổi. Bộ phim chính thức công chiếu tại Việt Nam vào năm 1965 và sau đó được xuất hiện tại rạp Liên Xô với tên "Добрый дракон".

Miền Bắc sau 1954Sửa đổi

Đối với đề tài con người mới trong thời kỳ xây dựng cuộc sống mới sau năm 1954 của điện ảnh Việt Nam, những bộ phim trong giai đoạn 1954–1970 có thể xem là chưa có bộ phim nào thành công. Cho đến năm 1971, Trần Vũ cho ra đời bộ phim truyện Vợ chồng anh Lực. Đây được xem là bộ phim đầu tiên của giai đoạn sau 1971 làm về đề tài này và là phim tiêu biểu cho nghệ thuật hiện thực tâm lý.[8][9] Bộ phim không chỉ giành được Bông sen vàng cho phim truyện điện ảnh tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1973 mà còn giúp Trần Vũ nhận được giải Đạo diễn xuất sắc.[10]

Năm 1974, ông lần đầu tiên hợp tác cùng nhà biên kịch Bành Bảo thực hiện bộ phim Đến hẹn lại lên.[11] Cũng từ đây mà cả hai liên tục hợp tác thực hiện nhiều bộ phim đoạt được giải thưởng cao tại các kỳ Liên hoan phim Việt Nam. Bộ phim đã được công chiếu tại Liên Xô với tên До встречи, любимый.[12] Năm 1979, ông trở thành người Việt Nam duy nhất trong ban giám khảo của Liên hoan phim quốc tế Moskva.[13]

Miền Nam sau 1975Sửa đổi

Năm 1976, Trần Vũ hợp tác cùng Nghệ sĩ nhân dân Trần Phương để làm bộ phim Chuyến xe bão táp. Đây là bộ phim duy nhất mà Trần Vũ đứng tên đồng biên kịch với Bành Bảo. Không chỉ chiến thắng Bông sen vàng cho phim truyện điện ảnh tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 4 mà bộ phim còn giúp Trần Vũ nhận được giải Biên kịch xuất sắc.[14]

Sau sự thành công của Chuyến xe bão táp, Trần Vũ và Trần Phương tiếp tục thực hiện phần 2 mang tên Những người đã gặp. Phần 2 đã tiếp nối thành công của phần 1 khi chiến thắng cả Bông sen vàng và 2 hạng mục khác là Biên kịch xuất sắc và Quay phim xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5. Cả 2 bộ phim này của Trần Vũ được xem như đại diện tiêu biểu cho phim truyện những năm sau khi miền Nam Việt Nam được giải phóngViệt Nam tái lập hòa bình, phản ánh những va chạm với cuộc sống đời thường của những người quân nhân trở về từ chiến trường ác liệt.[15]

Phim chiến tranhSửa đổi

Năm 1986, Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức hợp tác sản xuất bộ phim Những mảnh đời rừng (còn có tên là Ngọn tháp Hà Nội),[16][17] do Trần Vũ và đạo diễn người Đức Jörg Foth (de) thực hiện.[18][19] Bộ phim lấy bối cảnh cuối thập niên 40, đầu thập niên 50 của thế kỷ 20, là câu chuyện về những người lính trong quân đội của Hitler đã đào ngũ và gia nhập vào Binh đoàn Lê dương Pháp đến Việt Nam.[20]

Thời kỳ đổi mớiSửa đổi

Trong giai đoạn giao thời giữa 2 thời kỳ (bao cấpđổi mới) của xã hội Việt Nam, Trần Vũ đã thực hiện thành công bộ phim Anh và em,[21] giành được Bông sen vàng cho phim truyện điện ảnh tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1988. Đến thời kỳ đổi mới, ông chỉ dàn dựng 2 tác phẩm nữa là Tiền ơiGiọt lệ Hạ Long.[22]

Năm 1994, ông hợp tác với đạo diễn Nguyễn Hữu Phần và Phi Tiến Sơn thực hiện bộ phim Giọt lệ Hạ Long,[23][24] dựa trên truyện ngắn "Chuyện tình bên sông Ka Long" của tác giả Tô Ngọc Hiển.[25] Đây là bộ phim hợp tác giữa Việt NamHồng Kông,[26] có sự tham gia của Quyền Linh,[27] Nghệ sĩ nhân dân Thu Hà,[28] và Nghệ sĩ nhân dân Như Quỳnh.[29] Bộ phim không chỉ nhận được giải B của Hội Điện ảnh Việt Nam năm 1994 (không có giải A),[30][31] mà còn giúp Nghệ sĩ ưu tú Phi Tiến Sơn chiến thắng giải quay phim xuất sắc tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 11.[32] Được công chiếu quốc tế vào năm 1995, Giọt lệ Hạ Long trở thành bộ phim Việt Nam đầu tiên được mời tham dự trình chiếu trong chương trình Panaroma tại Liên hoan phim quốc tế Berlin.[33][34]

Tác phẩmSửa đổi

Năm Tên phim Biên kịch Quay phim Đồng đạo diễn Nguồn
1962 Con chim vành khuyên (ru) Nguyễn Văn Thông Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đăng Bảy Nguyễn Văn Thông [35][36][37]
1964 Đi bước nữa Mai Lộc Mai Lộc [7][38][39]
1965 Làng nổi Huy Thành Nghệ sĩ nhân dân Huy Thành [40][41][42]
1967 Khói Nguyễn Thụ Nguyễn Thụ [43][44]
1971 Vợ chồng anh Lực Vũ Lê Mai Đỗ Mạnh Hùng Không có [45][46]
1974 Đến hẹn lại lên Bành Bảo Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Đăng Bảy [47][48][49]
1977 Chuyến xe bão táp Nghệ sĩ nhân dân Trần Phương [50][51]
1979 Những người đã gặp Trần Trung Nhàn [52][53]
1986 Những mảnh đời rừng Jörg Foth (de) Phạm Thiện Thuyết Jörg Foth (de) [54][55]
1988 Anh và em Dương Thu Hương Nguyễn Hữu Tuấn Nguyễn Hữu Luyện [56][57]
1989 Tiền ơi Nguyễn Hữu Luyện [58][59]
1990 Chuyện lạ thế kỷ [60][61]
1992 Chuyện tình thời Sida Hữu Ước [62][63]
1995 Giọt lệ Hạ Long Nghệ sĩ ưu tú Phi Tiến Sơn Nghệ sĩ nhân dân Nguyễn Hữu Phần [22][24]

Danh hiệuSửa đổi

Giải thưởng và đề cửSửa đổi

Năm Lễ trao giải Hạng mục Tác phẩm Kết quả Nguồn
1962 Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary Phim ngắn Con chim vành khuyên Giải đặc biệt [65][66]
1970 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 1 Phim truyện điện ảnh Làng nổi Bằng khen
1973 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 2 Con chim vành khuyên Bông sen vàng [67][68]
Vợ chồng anh Lực [9]
Đạo diễn xuất sắc Đoạt giải [10]
1975 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 3 Phim truyện điện ảnh Đến hẹn lại lên Bông sen vàng [10]
Đạo diễn xuất sắc Đoạt giải
1976 Liên hoan phim quốc tế Karlovy Vary Giải đặc biệt [69]
1977 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 4 Phim truyện điện ảnh Chuyến xe bão táp Bông sen bạc [70]
Biên kịch xuất sắc Đoạt giải [14]
1980 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 5 Phim truyện điện ảnh Những người đã gặp Bông sen vàng [71]
1988 Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 8 Phim truyện điện ảnh Anh và em [72]

Đời tưSửa đổi

Người vợ đầu của Trần Vũ là Nghệ sĩ ưu tú Đức Hoàn. Cả hai có một người con gái là Nghệ sĩ nhân dân Phương Hoa. Tại các kỳ Liên hoan phim Việt Nam, bà đã chiến thắng 2 giải Đạo diễn xuất sắc và 4 giải Họa sĩ xuất sắc cho phim hoạt hình. Về sau, Phương Hoa kết hôn với Nghệ sĩ nhân dân Phạm Minh Trí, người đã 3 lần nhận giải thưởng Đạo diễn xuất sắc cho phim hoạt hình tại các kỳ Liên hoan phim Việt Nam.[3]

Không rõ cuộc hôn nhân đầu tiên của Trần Vũ kết thúc vào năm nào, nghệ sĩ Đức Hoàn cũng đã tái hôn với người chồng mới. Người vợ thứ hai của ông là bà Lê Thị Hoàn, một họa sĩ thiết kế mỹ thuật.[73]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Charlot (1991), tr. 41.
  2. ^ Văn phòng Bộ Văn hóa và Thông tin (2000), tr. 94.
  3. ^ a b Thanh Hằng (1 tháng 4 năm 2013). “Gia đình NSND Trần Vũ - NSƯT Đức Hoàn: Niềm đam mê nghệ thuật vẫn chảy tràn”. Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  4. ^ U.Ly (14 tháng 2 năm 2007). “5 giải thưởng Hồ Chí Minh và 158 giải thưởng nhà nước”. Tuổi Trẻ Online. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  5. ^ a b Ngô Phương Lan (26 tháng 2 năm 2010). “Đạo diễn Trần Vũ - phim và người”. Tuổi Trẻ Online. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  6. ^ Charlot (1991), tr. 50.
  7. ^ a b Nguyễn Thị Hồng Ngát (2003), tr. 218.
  8. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2003), tr. 265.
  9. ^ a b Nhiều tác giả (2007), tr. 70.
  10. ^ a b c Trung Sơn (2004), tr. 105.
  11. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2003), tr. 275.
  12. ^ “До встречи, любимый”. Ėkran (bằng tiếng Nga). Moskva: Iskusstvo: 265. 1978. ISSN 0424-7582. OCLC 1067933066. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  13. ^ “Архив ММКФ 1979”. Liên hoan phim quốc tế Moskva. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  14. ^ a b Nguyễn Thị Hồng Ngát (2005), tr. 673.
  15. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2005), tr. 226.
  16. ^ Phan Bích Hà (2003), tr. 70.
  17. ^ Hiền Hoà (5 tháng 6 năm 2003). “Vì sao các đoàn phim VN khó hợp tác với nước ngoài?”. VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  18. ^ König, Wiedemann & Wolf (1996), tr. 427.
  19. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2006), tr. 70.
  20. ^ Torner & Lenshyn (2015), tr. 260.
  21. ^ Charlot (1989), tr. 447.
  22. ^ a b Nguyễn Thị Hồng Ngát (2005), tr. 392.
  23. ^ Nguyễn Hữu Phần (15 tháng 8 năm 2011). “ĐD Hữu Phần: Hồng Sơn, người tử tế gặp nhiều tai họa”. Báo điện tử VTC News. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  24. ^ a b Ngô Phương Lan (1998), tr. 104.
  25. ^ Bộ Văn hóa Thông tin (1995). “Giọt lệ Hạ Long”. Điện ảnh kịch trưởng Việt Nam. 1–5: 37. OCLC 777759683. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  26. ^ “G4365 Giot le Ha Long (Vietnam/Hong Kong, 1994?)” (PDF). Đại học La Salle. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  27. ^ Đông Du (30 tháng 5 năm 2021). “Ngã rẽ của 3 tài tử điển trai thập niên 90 Lý Hùng, Quyền Linh và Chi Bảo”. Báo Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  28. ^ Hà Tùng Long (28 tháng 4 năm 2021). “NSND Thu Hà: "Tôi từng chứng kiến Lý Hùng bị xé rách áo, bị cào cấu rách tay". Báo điện tử báo Nông thôn Ngày nay. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  29. ^ Trần Tuấn Hiệp (2002), tr. 167.
  30. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2005), tr. 649.
  31. ^ Ngô Phương Lan (1998), tr. 349.
  32. ^ Bộ Văn hóa Thông tin (1996). Văn hóa nghệ thuật, Số phát hành 149-150. Hà Nội: Bộ Văn hóa Thông tin. OCLC 985719601. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  33. ^ PV (5 tháng 2 năm 2014). “Nước - 2030 tham dự Liên hoan Phim Berlin”. Báo điện tử của Đài Truyền hình Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  34. ^ X.Q. (13 tháng 2 năm 2014). “Phim Việt Nam lần đầu tiên được chiếu khai mạc tại LHP Berlin”. Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2022.
  35. ^ Юткевич (1986), tr. 85.
  36. ^ Губер (1970), tr. 433.
  37. ^ Ngô Phương Lan (2005), tr. 105.
  38. ^ Fu & Yip (2019), tr. 31.
  39. ^ Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh (1994), tr. 52.
  40. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2003), tr. 223.
  41. ^ Huy Nguyên (26 tháng 5 năm 2018). “Đạo diễn Huy Thành đã về nơi gió cát”. Người Lao Động. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  42. ^ Fu & Yip (2019), tr. 16.
  43. ^ Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh (1994), tr. 362.
  44. ^ Bích Hồng (20 tháng 5 năm 2020). “Điện ảnh chiến tranh 'hợp duyên' với văn chương”. Báo Thể thao & Văn hóa. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  45. ^ Hồng Lực (2000), tr. 58.
  46. ^ Fu & Yip (2019), tr. 20.
  47. ^ Bùi Chu (1984).
  48. ^ Trần Tuấn Hiệp (2002), tr. 163.
  49. ^ Charlot (1991), tr. 43.
  50. ^ Đặng Nhật Minh (2005), tr. 50.
  51. ^ Nguyễn Thụ (1984), tr. 85.
  52. ^ Fu & Yip (2019), tr. 17.
  53. ^ Ngô Phương Lan (1998), tr. 18.
  54. ^ Cesari & Rigney (2014), tr. 221.
  55. ^ Wagner (2014), tr. 35.
  56. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2005), tr. 157.
  57. ^ Nhiều tác giả (2007), tr. 107.
  58. ^ Vũ Ngọc Thanh (tháng 11 năm 2019). “Một số vấn đề về phim hài điện ảnh Việt Nam”. Tạp chí Văn hóa nghệ thuật. 305. OCLC 985719601. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.
  59. ^ Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh (1994), tr. 48.
  60. ^ Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh (1994), tr. 324.
  61. ^ Trần Hoàng Thiên Kim (28 tháng 4 năm 2017). “Nghệ sĩ Hoàng Thắng: Luôn tử tế với những vai không tử tế”. Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2022.
  62. ^ Viện nghệ thuật và lưu trữ điện ảnh (1994), tr. 104.
  63. ^ Việt Hà (19 tháng 8 năm 2005). “Có một dòng phim đậm chất… Công an”. Báo Công an Nhân dân điện tử. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2022.
  64. ^ Phạm Văn Đồng (25 tháng 1 năm 1984). “Quyết định về việc tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân và Nghệ sĩ ưu tú”. Thư viện pháp luật. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2022.
  65. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2003), tr. 508.
  66. ^ PV (21 tháng 10 năm 2010). “A look at Vietnam's first int'l film festival”. VietNamNet (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2022.
  67. ^ Nam Hà (1998), tr. 364.
  68. ^ Bộ Quốc phòng (1996), tr. 574.
  69. ^ Юткевич (1986), tr. 480.
  70. ^ Bành Bảo (1986), tr. 186.
  71. ^ Nguyễn Thị Hồng Ngát (2005), tr. 225.
  72. ^ Ngô Phương Lan (1998), tr. 341.
  73. ^ Ngô Hương Sen (17 tháng 1 năm 2010). “NSND - Đạo diễn Trần Vũ: Thời gian chậm trôi qua những kẽ tay”. Báo Công an Nhân dân điện tử. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2022. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2022.

NguồnSửa đổi

Ngoại ngữ
Tiếng Việt

Liên kết ngoàiSửa đổi