Mở trình đơn chính

Giáo phận Phát Diệm (tiếng Latin: Dioecesis de Phat Diem) là một giáo phận Công giáo Rôma tại Việt Nam.[2][3][4] Đây là giáo phận đầu tiên ở Việt Nam được ủy thác cho hàng giáo sĩ Việt Nam cai quản thay cho các giáo sĩ truyền giáo ngoại quốc, vì thế mà nơi đây được ví như "kinh đô Công giáo" của Việt Nam.[5]

Giáo phận Phát Diệm
Dioecesis de Phatdiem
Phat Diem Cathedral (font).jpg
Vị trí
Địa giớiNinh Bình và một phần tỉnh Hoà Bình
Thống kê
Dân số
- Địa bàn
- Giáo dân

1.031.357 (2017)
154.167 (2017)[1]
Giáo xứ79[1]
Thông tin
Thành lập15 tháng 4 năm 1901
Nhà thờ chính tòaNữ Vương Rất Thánh Mân Côi
(Nhà thờ Phát Diệm)
Linh mục đoàn115[1]
Lãnh đạo giáo phận hiện tại
Giám mụcTrống tòa
Giám quản Tông ToàGiám mục trống tòa.png Giuse Nguyễn Năng
Tổng Đại diệnAntôn Phan Văn Tự
Nguyên giám mụcGiám mục trống tòa.png Giuse Nguyễn Văn Yến
Trang mạng
http://www.phatdiem.org

Giáo phận hiện tại đang trống tòa, sau khi giám mục giáo phận Giuse Nguyễn Năng được thuyên chuyển làm Tổng giám mục Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh tháng 10 năm 2019. Giám mục Nguyễn Năng đảm trách vai trò Giám quản Tông Tòa Giáo phận này.[6]

Tổng quanSửa đổi

Địa giới giáo phận Phát Diệm rộng 1.787 km². Năm 2017, giáo phận Phát Diệm có khoảng 154.167 giáo dân (15% dân số), 115 linh mục và 79 giáo xứ, trong tổng số dân số địa phương là 1.031.357 người.[7] Nhà thờ Đức mẹ Mân Côi (còn gọi là nhà thờ đá Phát Diệm) ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình được chỉ định làm nhà thờ chính tòa của giáo phận.[8]

Mặc dù giáo phận Phát Diệm nằm trên diện tích rộng 1.787 km², bao gồm toàn bộ tỉnh Ninh Bình và vùng phía nam tỉnh Hòa Bình nhưng mật độ giáo dân lại tập trung nhiều ở huyện Kim Sơn với 80.000 giáo dân và 32 giáo xứ, chiếm 55% tổng số giáo dân của giáo phận mặc dù diện tích chỉ chiếm 11,6% tổng diện tích giáo phận.

Lịch sửSửa đổi

Đầu thế kỷ XIX, cả vùng Kim Sơn ngày nay vẫn còn là vùng đất bồi với bùn lầy, cỏ sậy. Năm 1828, ông Nguyễn Công Trứ được triều đình Huế phái ra Bắc để khai phá những vùng đất mới và đã lập ra huyện Tiền Hải (tỉnh Thái Bình) và huyện Kim Sơn (tỉnh Ninh Bình). Tên gọi Phát Diệm xuất hiện vào năm Minh Mạng thứ 10 (1829), khi huyện Kim Sơn được thành lập.

Có thể nói công cuộc truyền giáo tại Đàng Ngoài chỉ thực sự bắt đầu từ khi cha Alexandre de Rhodes và cha Marquez cập bến Cửa Bạng (nay thuộc Ba Làng, Thanh Hóa) vào ngày lễ thánh Giuse (19 tháng 3 năm 1627). Trong khi chờ đợi ra kinh đô Thăng Long (nay là Hà Nội), các ngài đã giảng đạo tại Van-no, vốn từng được một số người cho là gần cửa Thần Phù, ngày nay là xứ Hảo Nho, thuộc giáo phận Phát Diệm.

Năm 1659, Tòa Thánh thành lập hai Vùng Đại Diện Tông Tòa (từ đây xin gọi tắt là giáo phận) Đàng NgoàiĐàng Trong, với hai vị Đại Diện Tông Toà tiên khởi là François PalluLambert de la Motte, cũng là hai vị sáng lập Hội Thừa Sai Paris. Tuy nhiên, mãi đến năm 1666, các cha đầu tiên thuộc Hội Thừa sai Paris mới đặt chân lên Đàng Ngoài và bắt đầu thực sự tham gia công việc rao giảng Tin Mừng tại vùng đất này.

Năm 1679, giáo phận Đàng Ngoài được phân đôi thành ĐôngTây Đàng Ngoài. Vùng đất giáo phận Phát Diệm ngày nay thuộc Tây Đàng Ngoài do Đức Cha Jacques de Bourges coi sóc. Năm 1712, vùng đất ngày nay là Phát Diệm đã có 34 nhà thờ và nhà nguyện với 4.540 tín hữu.

Ngày 27 tháng 3 năm 1846, giáo phận Tây Đàng Ngoài lại được chia thành Tây và Nam Đàng Ngoài. Phát Diệm thuộc về Tây Đàng Ngoài do Đức Cha Retord Liêu coi sóc với 4 giáo xứ: Phúc Nhạc có 10.600 tín hữu, Yên Vân 1.598, Bạch Bát 3.482, Đồng Chưa 4.000.

Năm 1895, giáo phận Tây Đàng Ngoài lại được phân chia lần nữa thành Tây Đàng Ngoài và Thượng Đàng Ngoài, quen gọi là giáo phận Đoài. Phần đất giáo phận Phát Diệm thuộc giáo phận Tây Đàng Ngoài do Đức cha Gendreau Đông coi sóc.

Giáo phận Phát Diệm chính thức được thành lập ngày 19 tháng 4 năm 1901 khi Giáo hoàng Lêô XIII chia Tây Đàng Ngoài thành hai: Tây Đàng Ngoài (Hà Nội bây giờ) và giáo phận mang tên mới là Duyên Hải Đàng Ngoài, còn được gọi là giáo phận Thanh, gồm tỉnh Ninh Bình, Thanh HóaChâu Lào. Ngày 3 tháng 12 năm 1924, giáo phận Thanh được đổi thành giáo phận tông tòa Phát Diệm.

Năm 1932, giáo phận Phát Diệm được chia đôi để thành lập giáo phận mới mang tên giáo phận Thanh Hóa.

Ngày 11 tháng 6 năm 1933, Giáo hoàng Piô XI đặt Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, giám mục người Việt Nam tiên khởi, làm giám mục phó giáo phận Phát Diệm.

Ngày 24 tháng 11 năm 1960, với sắc chỉ Venerabilium Nostrorum, Tòa Thánh thành lập hàng giáo phẩm Việt Nam và nâng các giáo phận tông tòa ở Việt Nam lên hàng chính tòa. Đức Cha Phaolô Bùi Chu Tạo là giám mục chính tòa đầu tiên của giáo phận Phát Diệm.

Danh sách các giáo xứSửa đổi

 
Nhà thờ chính tòa - Nhà thờ Phát Diệm
 
Thị trấn Phát Diệm, nơi đặt trung tâm giáo phận

Hạt Phát DiệmSửa đổi

  1. Phát Diệm: Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình[9][10]
  2. Bình Sa: Lai Thành, Kim Sơn, Ninh Bình
  3. Hảo Nho: Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình
  4. Hoài Lai: Lai Thành, Kim Sơn, Ninh Bình
  5. Phát Vinh: Lưu Phương, Kim Sơn, Ninh Bình
  6. Phương Thượng: Lưu Phương, Kim Sơn, Ninh Bình
  7. Trì Chính: Kim Chính, Kim Sơn, Ninh Bình
  8. Yên Bình: Tân Thành, Kim Sơn, Ninh Bình

Hạt Văn HảiSửa đổi

  1. Văn Hải: Văn Hải, Kim Sơn, Ninh Bình[9]
  2. Cồn Thoi: Cồn Thoi, Kim Sơn, Ninh Bình
  3. Hóa Lộc: Ðịnh Hóa, Kim Sơn, Ninh Bình
  4. Như Tân: Kim Tân, Kim Sơn, Ninh Bình
  5. Tân Khẩn: Kim Mỹ, Kim Sơn, Ninh Bình
  6. Hợp Thành: Cồn Thoi, Kim Sơn, Ninh Bình
  7. Kim Trung: Kim Trung, Kim Sơn, Ninh Bình
  8. Tân Mỹ: Kim Mỹ, Kim Sơn, Ninh Bình
  9. Tùng Thiện: Kim Tân, Kim Sơn, Ninh Bình

Hạt Tôn ÐạoSửa đổi

  1. Tôn Ðạo: Ân Hòa, Kim Sơn, Ninh Bình[9]
  2. Dục Ðức: Kim Ðịnh, Kim Sơn, Ninh Bình
  3. Hòa Lạc: Như Hòa, Kim Sơn, Ninh Bình
  4. Hướng Ðạo: Ðồng Hướng, Kim Sơn, Ninh Bình
  5. Khiết Kỷ: Ân Hòa, Kim Sơn, Ninh Bình
  6. Phú Hậu: Hùng Tiến, Kim Sơn, Ninh Bình
  7. Thuần Hậu: Ân Hòa, Kim Sơn, Ninh Bình
  8. Ứng Luật: Quang Thiện, Kim Sơn, Ninh Bình

Hạt Cách TâmSửa đổi

  1. Cách Tâm: Chính Tâm, Kim Sơn, Ninh Bình[9]
  2. Dưỡng Ðiềm: Hồi Ninh, Kim Sơn, Ninh Bình
  3. Mông Hưu: Chính tâm, Kim Sơn, Ninh Bình
  4. Như Sơn: Xuân Thiện, Kim Sơn, Ninh Bình
  5. Quân Triêm: Chất Bình, Kim Sơn, Ninh Bình
  6. Quyết Bình: Chất Bình, Kim Sơn, Ninh Bình
  7. Tín Thuận: Xuân Thiện, Kim Sơn, Ninh Bình
  8. Xuân Hồi: Xuân Thiện, Kim Sơn, Ninh Bình

Hạt Phúc NhạcSửa đổi

  1. Phúc Nhạc: Khánh Nhạc, Yên Khánh, Ninh Bình[9]
  2. Bình Hòa: Khánh Hồng, Yên Khánh, Ninh Bình
  3. Gia Lạc: Khánh Hội, Yên Khánh, Ninh Bình
  4. Hiếu Thuận: Khánh Mậu, Yên Khánh, Ninh Bình
  5. Nam Biên: Khánh Mậu, Yên Khánh, Ninh Bình
  6. Phúc Hải: Khánh Trung, Yên Khánh, Ninh Bình
  7. Tam Châu: Khánh Nhạc, Yên Khánh, Ninh Bình
  8. Yên Vân: Khánh Vân, Yên Khánh, Ninh Bình

Hạt Ninh BìnhSửa đổi

  1. Ninh Bình: P. Thanh Bình, thành phố Ninh Bình, Ninh Bình[9]
  2. An Ngải: Quảng Lạc, Nho Quan, Ninh Bình
  3. Áng Sơn: Ninh Hòa, Hoa Lư, Ninh Bình
  4. Đồng Bài: Xã Quảng Lạc, Nho Quan, Ninh Bình
  5. Hào Phú: Khánh Phú, Yên Khánh, Ninh Bình
  6. Hoàng Mai: Ninh An, Hoa Lư, Ninh Bình
  7. La Vân: Ninh Giang, Hoa Lư, Ninh Bình
  8. Thiện Dưỡng: Ninh Vân, Hoa Lư, Ninh Bình

Hạt Bạch LiênSửa đổi

  1. Bạch Liên: Yên Thành, Yên Mô, Ninh Bình [9]
  2. Bình Hải: Yên Nhân, Yên Mô, Ninh Bình
  3. Hải Nạp: Xã Yên Hòa - Yên Mô, Ninh Bình
  4. Phú Thuận: Xã Khánh Thịnh - Yên Mô, Ninh Bình
  5. Quảng Nạp: Yên Thắng, Yên Mô, Ninh Bình
  6. Quảng Phúc: Yên Phong, Yên Mô, Ninh Bình
  7. Yên Liêu: Xã Khánh Thịnh, Yên Mô, Ninh Bình
  8. Yên Thổ: Yên Phú, Yên Mô, Ninh Bình.

Hạt Ðồng ChưaSửa đổi

  1. Ðồng Chưa: Gia Thịnh, Gia Viễn, Ninh Bình[9]
  2. Lãng Vân: Gia Lập, Gia Viễn, Ninh Bình
  3. Mưỡu Giáp: Gia Xuân, Gia Viễn, Ninh Bình
  4. Phúc Lai: Sơn Lai, Nho Quan, Ninh Bình
  5. Trung Ðồng: Gia Trung, Gia Viễn, Ninh Bình
  6. Mỹ Thủy: Mỹ Thủy Gia Thịnh, Gia Viễn, Ninh Bình
  7. Uy Ðức: Gia Hòa, Gia Viễn, Ninh Bình
  8. Uy Tế: Gia Hưng, Gia Viễn, Ninh Bình

Hạt Vô HốtSửa đổi

  1. Vô Hốt: Lạc Vân, Nho Quan, Ninh Bình[9]
  2. Khoan Dụ: Khoan Dụ, Chi Nê, Hòa Bình
  3. Xích Thổ: Xích Thổ, Nho Quan, Ninh Bình
  4. Di Dân: TT. Di Dân - Yên Thủy, Hòa Bình
  5. Đồng Đinh: Thượng Hòa, Nho Quan, Ninh Bình
  6. Lạc Bình: Thạch Thành, Nho Quan, Ninh Bình
  7. Mỹ Châu: Quỳnh Lưu, Nho Quan, Ninh Bình
  8. Ngọc Cao: Đức Long, Nho Quan, Ninh Bình
  9. Phúc Châu: Phú Sơn, Nho Quan, Ninh Bình
  10. Sào Lâm: Văn Phú, Nho Quan, Ninh Bình
  11. Sơn Lũy: Đức Long, Nho Quan, Ninh Bình

Các danh địa trong giáo phậnSửa đổi

Nhà thờ chính tòa và Tòa Giám mụcSửa đổi

Tòa Giám mục của giáo phận đặt tại thị trấn Phát Diệm, Kim Sơn, Ninh Bình.

Thánh địa hành hươngSửa đổi

Các nhà thờ và tu viện lớnSửa đổi

Các đời Giám mục quản nhiệmSửa đổi

STT Tên Thời gian quản nhiệm Ghi chú
Hạt Đại diện Tông tòa Duyên hải Bắc Kỳ
1 † Jean-Pierre-Alexandre Marcou Thành   1901-1924
2 † Louis-Christian-Marie de Cooman Hành   1917-1924
Hạt Đại diện Tông tòa Phát Diệm
3 † Jean-Pierre-Alexandre Marcou Thành   1924 - 1935
2 † Louis-Christian-Marie de Cooman Hành   1924 - 1932
5 † Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng   1933 - 1943
6 † Gioan Maria Phan Ðình Phùng   1943 - 1944
7 † Tađêô Anselmô Lê Hữu Từ   1945 - 1959
8 † Phaolô Bùi Chu Tạo   1959 - 1960
Giáo phận Phát Diệm
Phaolô Bùi Chu Tạo   1960 - 1998
9 † Giuse Lê Quý Thanh   1963 - 1974
10 † Giuse Nguyễn Thiện Khuyến   1976 - 1981
11 Giuse Nguyễn Văn Yến   1988 - 1998
  1998 - 2007
12 Giuse Nguyễn Chí Linh   2007 - 2009 Giám quản Tông tòa
13 Giuse Nguyễn Năng   2009 - 2019
  2019 - nay[6]
Giám mục chính tòa
Giám quản Tông tòa

Ghi chú:

Nhân vật Công giáo nổi bậtSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi