James Augustine Aloysius Joyce (tiếng Ireland: Seamus Seoighe; 2 tháng 2 năm 1882 – 13 tháng 1 năm 1941) là một tiểu thuyết gia, nhà văn viết truyện ngắn, nhà thơ và nhà phê bình văn học người Ireland, được đánh giá là một trong những nhà văn có ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Ông nổi tiếng nhất với tiểu thuyết bước ngoặt Ulysses (1922). Các tác phẩm chính khác của ông là tập truyện ngắn Dubliners (1914), các tiểu thuyết A Portrait of the Artist as a Young Man (1916) và Finnegans Wake (1939). J. Joyce còn là tác giả của các tập thơ Nhạc thính phòng (Chamber Music, 1907), Thơ một xu một bài (Poems Pennyeach, 1927), Colleted Poems, 1936. Dù số lượng không nhiều nhưng thơ của James Joyce có sự ảnh hưởng rất lớn đến các nhà thơ Anh phái Hình tượng.

James Joyce
Revolutionary Joyce Better Contrast.jpg
Sinh(1882-02-02)2 tháng 2 năm 1882
Rathgar, Dublin, Ireland
Mất13 tháng 1 năm 1941(1941-01-13) (58 tuổi)
Zürich, Thụy Sĩ
Công việc
  • Tiểu thuyết gia
  • nhà văn viết truyện ngắn
  • nhà viết kịch
  • nhà thơ
Quốc tịchIreland
Trào lưuHiện đại

Chữ ký

Mặc dù phần lớn quãng đời trưởng thành của ông là ở nước ngoài, kinh nghiệm Ireland của Joyce vẫn rất tinh tế trong các bài viết của ông và nó cung cấp tất cả nền tảng cho tưởng tượng của ông và các vấn đề chủ thể nó. Không gian tưởng tượng trước tiên khởi điểm tại Dublin và phản ánh cuộc sống gia đình của ông và các sự kiện và bạn bè (và kẻ thù) từ những ngày ở trường phổ thông và trường đại học. Dù vậy, ông trở thành người chủ nghĩa toàn cầu nhất và là một trong số những người địa phương nhất của tất cả phạm vi tiếng Anh hiện đại.

Hoàn cảnh và giáo dụcSửa đổi

 
Tượng James Joyce trên phố North Earl, Dublin

Chính trị xã hộiSửa đổi

James Joyce sinh ra gần 30 năm sau Nạn đói lớn ở Ireland, một bi kịch thay đổi cả văn hóa chính trị đất nước, khiến dân số Ireland sụt giảm ước tính 20-25%. Từ năm 1801, Ireland bị sáp nhập vào Vương quốc Anh trở thành Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland (hoặc thường gọi là Đế quốc Anh). Đó là thời điểm đế quốc thuộc địa đạt đến đỉnh cao vào thời Nữ vương Victoria (1837-1901). Bị người Anh cai trị và áp đặt văn hóa, người Ireland nung nấu tâm lý phản kháng và ra sức cổ vũ cho phong trào Huynh đệ Fenian, một hình thức chủ nghĩa dân tộc ra đời năm 1858.[1] Dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn, người Fenian mơ về nước cộng hòa Ireland độc lập và thậm chí chấp nhận giải pháp bạo lực. Bầu không khí chính trị căng thẳng chuyển biến thành chủ nghĩa khủng bố cực đoan. Ví dụ như năm 1882 xảy ra vụ sát hại tân Thư ký trưởng Ireland bằng dao và vụ thảm sát một gia đình họ Joyce.[2] Một loại chủ nghĩa dân tộc khác ít cực đoan hơn, không chủ trương bạo lực được hình thành quanh Charles Stewart Parnell. Xã hội những năm đầu đời của James Joyce đầy dẫy các chi phối chính trị như phong trào Fenian, học thuyết Parnell, đôi lúc cả hai trào lưu cùng song song tồn tại đồng thời. Cha của Joyce lúc trẻ bị cuốn vào với Fenian, còn về sau lại tôn thờ Parnell.[3] Những cuộc trò chuyện thường xuyên của người cha với bạn bè về chính trị gia này cũng như số phận Ireland thấm nhuần phần đầu tiên trong tiểu thuyết đầu tay của Joyce A Portrait of the Artist as a Young Man. Khi bị ốm, nhân vật chính Stephendấy lên nỗi sợ chết đan xen với hình ảnh đau thương trong ký ức trẻ thơ về đám tang Parnell. Hay tại tiệc Giáng sinh, tuyệt vọng trước bối cảnh chính trị hỗn loạn, Stephen bước lên trưởng thành hơn.[4] Tuy nhiên, huyền thoại Parnell vẫn là biểu tượng ghi dấu sâu đậm cho thời thơ ấu được Joyce lý tưởng hóa, mà ông gọi là "những ngày tháng Tám" trong Finnegans Wake (Finnegan tỉnh thức).[5] Theo William Butler Yeats, văn học Ireland hiện đại bắt đầu ngay sau đó, khi hình tượng Parnell sụp đổ, xã hội "vỡ mộng và đau buồn" quay lưng lại với chính trị và toàn tâm dành cho văn hóa.[6]

Cha mẹSửa đổi

Cha của James là John Stanislaus Joyce (1849–1931) quê ở Cork, có họ hàng với chính trị gia nổi tiếng Daniel O'Connell "The Librator" (người giải phóng).[7] Theo Richard Ellmann, "Joyce" xuất phát từ joyeux (hạnh phúc) trong tiếng Pháp hoặc jocax trong tiếng Latinh, giống như tiền định cho nhà văn coi văn học là "thánh thần hoan lạc".[8] Tính tình phóng khoáng, vui vẻ và thích phiêu lưu, John Stanislaus Joyce đã có một cuộc sống đầy màu sắc. Năm 1859, ông được cha mẹ đăng ký theo học tại Cao đẳng Công giáo St. Colman tại Fermoy. Sau gần một năm, ông bỏ học phần vì đời sống khắc khổ cũng như sức khỏe yếu nên chỉ ham mê thể dục thể thao. Về sau, James thừa hưởng được niềm đam mê điền kinh và cricket từ cha. Khi còn thiếu niên, John từng làm việc trên thuyền hoa tiêu ở cảng Cork. Tại đó, ông học được nhiều tiếng lóng của thủy thủ khi thường uống rượu với bạn bè.[9] John học y trong ba năm (1867-1870) tại Queen's College, Cork, nhưng không tốt nghiệp được do lối sống bừa bãi và chạy theo khoái lạc.[10] Ngoài ra, John còn yêu thích diễn xuất và thể thao. Năm 1874 hoặc 1875, John chuyển đến Dublin[11] làm thư ký tại một nhà máy chưng cất rượu,[12] và tham gia nhiều hoạt động khác như săn bắn hay opera.[9] Ca sĩ Barton McGuckin nổi tiếng thời bấy giờ đã gọi John là "giọng tenor hay nhất Ireland".[12][13] Đa tài nhưng không tập trung lĩnh vực nào cụ thể, luôn cho rằng mình là nạn nhân của thời cuộc, đắm chìm trong lý tưởng chính trị, trong những cuộc trò chuyện bất tận và các thú vui phù phiếm như uống rượu và ca hát, cha của James Joyce là hình mẫu gợi cảm hứng cho con mình với hình ảnh tràn trề sinh lực.[14] Cách diễn đạt của cha được James khắc họa trong chương Cyclops của tiểu thuyết Ulysses, ví dụ like a shot off a shovel ("như một cái hất xẻng" ý là "nhanh") hay Twixt you and me, Caddereesh (Giữa anh và tôi, Caddereesh);[15] hoặc như trong Finnegans Wake nhắc đến hình ảnh người lính Ireland Buckley do dự chĩa súng vào viên tướng Nga nằm trên trận địa Krym với chiếc quần tụt xuống, qua đó bày tỏ lòng trắc ẩn với những người dễ bị tổn thương.[16] James dựng nên một số nhân vật quan trọng dựa theo hình mẫu cha mình như Simon Dedalus (A Portrait of the Artist as a Young Man, Ulysses), Humphrey Chimpden Earwicker (Finnegans Wake) hoặc Leopold Bloom (Ulysses).[15] Trong A Portrait of the Artist as a Young Man, nhân vật Stephen Dedalus chính là hình ảnh bản thân James Joyce đã mô tả cha mình như sau:

Ngày 5 tháng 5 năm 1880, John Stanislaus Joyce kết hôn với Mary Jane ("May") Murray. Sinh năm 1859 tại Longford, May lớn lên và được dạy dỗ ở trường Miss Flynn tại Dublin, trường cũng do hai bác gái của bà điều hành. Tại đây, May học thanh nhạc, dương cầm, khiêu vũ cũng như nghệ thuật giao thiệp.[19] Có cha mẹ cảm thụ âm nhạc sâu sắc như vậy, ngay từ khi còn nhỏ James Joyce đã hòa mình trong bầu không khí đầy giai điệu và được khơi dậy niềm đam mê với tính nhạc trong ngôn ngữ.[20] Mẹ James là tín đồ Công giáo mộ đạo, nên các biểu tượng lòng sùng kính như thánh giá, nến thánh, tràng hạt tràn ngập trong góc nhìn bé thơ của nhà văn thuở nhỏ.[5] Nhưng cha James lại tỏ thái độ chống Công giáo và hàng giáo phẩm, giống như đa số người Ireland khi ấy tin rằng Giáo hội Công giáo có thể thỏa hiệp bất lợi với giới Kháng Cách Anh.[21]

Thời thơ ấu (1882-1888)Sửa đổi

 
James Joyce năm lên 6 (1888)

James Joyce sinh ngày 2 tháng 2 năm 1882, đúng vào Lễ Đức Mẹ thanh tẩy. James là con thứ hai của John Stanislaus Joyce và Mary Jane Murray. Trước đó, Mary Jane sinh non con đầu lòng vào ngày 23 tháng 11 năm 1880 và đứa bé chỉ sống được tám tuần.[22] Mary Jane mang bầu cả thảy 17 lần[22] (hoặc 15),[23] nhưng chỉ 10 lần vượt cạn thành công. Với gia đình đông con như vậy, họ mướn một bà con xa của John là Elizabeth Conway đến giúp.[24]

Joyce được rửa tội ngày 5 tháng 2 năm 1882 tại Nhà nguyện đường gần (chapel of ease) Thánh Giuse ở Roundtown (nay là Terenure ngoại ô Dublin).[25] Trong giấy khai sinh, tên đệm bị ghi sai thành Augusta thay vì Augustine. Tên gọi âu yếm lúc nhỏ ở nhà là Sunny Jim, thể hiện mong ước của cha mẹ muốn con mình có cuộc đời sóng yên bể lặng. Lúc đầu, gia đình Joyce sống ở Dublin's Rathgar, 41 Brighton Square West. Cha James được thăng tiến vị trí trong xã hội, năm 1884 gia đình chuyển đến 23 Đại lộ Castlewood, rồi năm 1887 tới tòa nhà bên bờ biển thị trấn Bray, cách Dublin 20 km.[26] Bạn bè John Stanislaus thường ghé thăm vào cuối tuần, một vài trong số đó đã gây cảm hứng cho nhân vật trong các tác phẩm của Joyce về sau.[27] Ví dụ, người họ hàng bên nội William O'Connell chính là hình mẫu cho nhân vật "bác Charles" trong A Portrait of the Artist as a Young Man.[28] Trong cùng tác phẩm còn có nhân vật "cô Dante" hiện thân của nữ gia sư Elizabeth Conway, người có ảnh hưởng nhất đến Joyce chỉ sau cha mẹ.

 
Opening of the Sixth Seal (Mở ấn thứ sáu), tranh của Francis Danby. Joyce thuở nhỏ xem bức tranh này khi được "cô Dante" đưa đến Phòng trưng bày Quốc gia ở Dublin. Hình ảnh kinh hoàng trong sách Khải Huyền để lại dấu ấn đậm nét trong tâm trí nhà văn tương lai.[29]

Cô Dante rất nghiêm túc quan tâm đến việc giáo dục James Joyce, dạy cậu biết đọc, biết viết, cả số học và địa lý.[30] Cô cố gắng nhồi cho cậu bé những tư tưởng dân tộc và tôn giáo của mình, nhưng chính những mệnh lệnh của cô đã tác động xấu đến tính thơ ngây non nớt của đứa trẻ. Trong Portrait, cô Dante hăm dọa cậu bé Stephen rằng "nếu không xin lỗi thì chim đại bàng sẽ lao xuống và móc mắt cậu ấy",[31] giống như lời nguyền nghiệt ngã, Joyce lớn lên gặp vấn đề về thị lực. Những bài học tôn giáo của cô đầy dẫy hình ảnh ngày tận thế, in hằn trong Joyce nỗi sợ hãi sấm sét đầy phi lý về cơn thịnh nộ của Chúa. Joyce không bao giờ thoát khỏi nỗi sợ ám ảnh từ thuở nhỏ này, đến mức một người bạn hỏi vì sao ông lại sợ sét, nhà văn trả lời "Anh không được lớn lên tại Ireland Công Giáo đó".[30] Trong Finnegans Wake, Joyce gọi Thiên Chúa"Đấng giáng sấm sét từ trên cao"[a] còn trong A Portrait of the Artist as a Young Man, nhân vật ăn năn trước quyền năng thiên thượng và tự hỏi "Sao Chúa không đánh chết cậu?".[32] Joyce còn một nỗi ám ảnh thường trực khác là chứng sợ chó, cũng hình thành từ thuở nhỏ, sau khi bị một con chó săn Ireland tấn công trên bãi biển Bray.[33]

James Joyce vào học trường mẫu giáo của cô Raynor và mẹ tại Bray. Cậu kết thân với cô bé hàng xóm Eleanor ("Eileen") Vance. Vì nhà Eileen theo Tin Lành nên cô Dante ngăn cản và nói với Joyce rằng làm bạn với những ai không theo Công Giáo thì sẽ bị xuống hỏa ngục. Lời này phản tác dụng và có lẽ cũng muốn làm ngược lại, hai đứa trẻ lập ra bối cảnh "địa ngục" để chơi với nhau, James đóng vai ác quỷ còn cô bé là "nạn nhân" nằm dưới xe cút kít bị lật, tạo ra những tiếng động đáng sợ.[34] James cũng làm một vở kịch nhỏ về nguyên tội, tự mình vào vai con rắn còn hai đứa em Stannie và Margaret Alice diễn Adam và Eva.[35] Trùng hợp là nhiều năm sau, nhà văn bị bà chủ nhà ở Zürich đặt biệt danh là Ngài Satan vì lúc nào cũng để râu cằm nhọn, dáng đi mạnh mẽ và quần áo chỉnh tề.[36]

Clongowes Wood (1888-1891)Sửa đổi

 
Trường Clongowes Wood ở Sallins, hạt Kildare

Tháng 9 năm 1888, James Joyce nhập trường Clongowes Wood tại thị trấn Sallins (gần thành phố Clane), hạt Kildare.[37] Là trường Công Giáo nội trú do Dòng Tên thành lập năm 1814, với danh tiếng tại Ireland, Clongowes Wood có vẻ là lựa chọn hoàn hảo mà cha mẹ James muốn biến con trai mình thành một quý ông thực thụ. Học phí 25 bảng một năm nằm trong khả năng gia đình chi trả một cách dễ dàng.[38] Ở trường, James được học tiếng Anh, toán, tiếng Latin và tôn giáo,[39] Cách học cơ bản là học thuộc lòng qua sách giáo lý dưới dạng vấn đáp. Cấu trúc giáo lý vấn đáp chính là khung sườn chương Ithaca trong tiểu thuyết Ulysses.[40] Với trí nhớ phi thường, Joyce nhanh chóng đứng đầu lớp và gây ấn tượng với hiệu trưởng là Cha Conmee.[41] Bạn học thì không hiểu được trí thông minh của Joyce và chỉ thấy cậu lầm lì, yếu đuối.[40] Thực ra Joyce bị lũ bạn học là con cái giới thượng lưu dọa nạt. Để không bị khinh thường, trong A Portrait of the Artist as a Young Man, nhân vật Stephan Dedalus nói dối rằng cha mình là quý ông thượng lưu còn chú bác mình là thẩm phán và tướng quân.[41] Ngày 21 tháng 4 năm 1889, Joyce lần đầu tiên dự Tiệc Thánh, sự kiện quan trọng đối với đời sống tâm linh người Công Giáo. Giáo dục tôn giáo được tăng cường bằng cách thường xuyên dự lễ và phải kỷ luật nghiêm ngặt trong trường.[42] Có "Sách trừng phạt" để ghi lại lỗi học trò như quên sách vở, đi giày bẩn và nói tục là điều khiến Joyce có vẻ rất thích thú.[43][44] Năm 10 tuổi, Joyce lấy tên Thánh Aloysius Gonzaga (Thánh bảo trợ giới trẻ và quý tộc)[43] làm tên đệm nhưng không bao giờ dùng tới.[45]

Tại Clongowes Wood, James Joyce cảm thấy xa lạ và cô đơn, như những trang đầu của cuốn tự truyện Portrait:

Trong các môn thể thao, cậu chỉ thích chạy và cricket, đến tận khi trưởng thành, Joyce vẫn còn thích cricket.[48] Trong các kỳ lễ của trường, Joyce tham gia diễn nhiều vở kịch khác nhau.[49] Qua sách giáo khoa, Joyce được tiếp xúc với lịch sử cổ đại, thần thoại Hi Lạp-La Mã (lần đầu tiên biết về Ulysses) và những tác phẩm như Bá tước Monte Cristo hay thơ Byron.[50] Có lần bị Cha Daly trừng phạt không công bằng trước cả lớp vì làm vỡ kính không cho học nữa, Joyce trở thành anh hùng trong mắt các bạn khi can đảm kể hết cho hiệu trưởng Cha Conmee.[51] Joyce không được tận hưởng việc này lâu vì phải thôi học vào mùa thu năm 1891 do cha mẹ gặp khó khăn tài chính không thể trả nổi học phí, và cũng có thể do sức khỏe Joyce không tốt.[52]

Dưới bóng Parnell (1891-1893)Sửa đổi

 
Sông Liffey, Dublin

Liên quan đến bê bối ngoại tình và bị Giáo hội Công Giáo và xã hội Ireland tẩy chay, Charles Stewart Parnell qua đời vào ngày 6 tháng 10 năm 1891. Khi ấy, cậu bé James Joyce mới 9 tuổi đã sáng tác một bài thơ Et Tu, Healy (Còn ngươi, Healy) để tố cáo Timothy Healy, kẻ đã phản bội Parnell.[53] John Stanislaus ấn tượng với bài thơ của con trai đến mức đã cho in, phát cho bạn bè và và thậm chí gửi cho Thư viện Vatican, nhưng hiện nay không còn giữ được bản sao nào của tác phẩm "đầu tay" này.[54] Sự sụp đổ của Parnell không chỉ làm John chìm vào thất vọng mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sự nghiệp của ông. Tên ông xuất hiện trong danh sách những con nợ và phá sản trên tờ Stubbs Weekly GazettePerry's Gazette. Ông bị mất chức và buộc phải nghỉ hưu sớm.[55] Buông thả theo số phận, ông ngày càng nghiện rượu[56] và bộc phát bạo lực trước mặt vợ (thậm chí có lần định bóp cổ vợ) và các con.[57] Gia đình Joyce buộc phải chuyển đến Blackrock[58] (ngoại ô Dublin) và đổi nhà liên tục trong thời gian rất ngắn, cuối cùng về lại thủ đô.[59]

Chi tiết về giai đoạn này của James không rõ ràng. James tự học ở nhà trong khi các em vẫn tiếp tục đến trường. Cậu làm thơ và bắt đầu viết tiểu thuyết với bạn hàng xóm.[60] Thường xuyên dạo chơi trên đường phố Dublin, ghi nhớ toàn bộ kiến trúc thành phố, quan sát cuộc sống đa dạng của mọi người, Joyce có được nguồn cảm hứng vô tận cho các sáng tác mai sau.[61] "Tượng đài" quan trọng nhất của thành phố là dòng sông Liffey thường được thần thánh hóa trong văn của Joyce và trở thành nét chủ đạo trong tiểu thuyết Finnegans Wake. Từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1893, James và Stannie theo học trường O'Connell ở North Richmond dành cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, về sau nhà văn cố gắng xóa bỏ chi tiết này trong tiểu sử mình.[62] Cha của James bất ngờ gặp lại Cha Conmee chuyển từ Clongowes Wood tới Dublin, James Joyce được học miễn phí tại trường Belvedere College mới của Dòng Tên.[63][64]

Belvedere College (1893-1898)Sửa đổi

Belvedere College không phải trường nội trú nên học sinh hoàn toàn tự do vào buổi chiều và buổi tối.[65] Chương trình học dành riêng cho giáo dục Công Giáo. Ngoài tôn giáo, toán và ba ngoại ngữ (tiếng Latinh, tiếng Pháptiếng Ý), Joyce còn thích học tiếng Anh và văn học Anh, thầy George Dempsey sớm nhận thấy cậu học trò này là "cậu bé với vô số ý tưởng trong đầu".[b] Môn ngữ văn tại Belvedere College không chỉ chú trọng từ nguyên học hoặc ngữ pháp, mà còn phát triển kỹ thuật dịch, chuyển ngữ trung thành với văn bản ngoại ngữ gốc. Kevin Sullivan nêu bật vai trò kỷ luật Dòng Tên trong việc hình thành nghệ sĩ ngôn từ trong Joyce, nhà văn bị cuốn hút, thậm chí ám ảnh về khả năng biến đổi của động từ.[67]

Là học sinh ưu tú gương mẫu, James Joyce nhận học bổng và được bầu làm nhóm trưởng Hội tương tế Đức Mẹ Đồng Trinh Maria (Sodality of the Blessed Virgin Mary) trong trường.[68] Chịu ảnh hưởng đặc biệt từ thơ Byron,[69] FergusonYeats, Joyce đã viết loạt phác thảo Silhouettes (Hình bóng)[70] và tập thơ Moods (Tâm trạng).[71] Theo Costello, đọc Lịch sử Florence của Machiavelli đã đưa Joyce đến nhìn ra bản chất bản sắc văn hóa thành phố quê hương Dublin.[72] Tuy nhiên, ở mặt bí mật của tuổi đang lớn, cậu thiếu niên có những ham muốn xác thịt. Cậu tán tỉnh một cô hầu gái trẻ và quan hệ lăng nhăng với gái làng chơi.[73] Mặc cảm tội lỗi được khắc họa qua cuộc trốn chạy ban đêm trong tiểu thuyết A Portrait of the Artist as a Young Man. Joyce hối hận, cảm thấy mình đã phản bội lý tưởng Công Giáo. Bài giảng nóng cháy của hiệu trưởng về cuộc đời Thánh Phanxicô Xaviê một lần nữa làm dấy lên trong Joyce nỗi sợ hãi sự đoán phạt của Thượng Đế.[74] Trong vài tháng, James Joyce nỗ lực không mệt mỏi để lấy lại lòng yêu kính đối với Kitô giáo. Về sau, ông đã gọi một cách hài hước mỗi hành động sùng bái của mình khi ấy đều là một giao dịch thiên thượng:

 
Bãi biển Dollymount Strand, nơi thiên thần đẹp đẽ hiển linh trong tiểu thuyết tự truyện A Portrait of the Artist as a Young Man

Dù cố gắng ngoan đạo, việc xa rời học thuyết Công Giáo là không thể đảo ngược, Joyce coi tín ngưỡng mới của mình là nghệ thuật, nơi ông cống hiến cả phần đời còn lại.[71] Trong A Portrait of the Artist as a Young Man, Stephen Dedalus đã nhìn thấy một thị kiến (hay "epiphany - hiển linh" như lời nhà văn) trên bãi biển Dollymount Strand với hình ảnh cô gái đẹp chết người, tóc đen dài nữ tính chơi đùa trong làn nước. Hình ảnh lôi cuốn, khêu gợi như đối lập với sự dịu dàng thuần khiết của Đức Mẹ Đồng Trinh, trở thành biểu tượng kêu gọi đến với nghệ thuật.[77] Lời của Stephen "Sống, phạm sai lầm, vấp ngã, chiến thắng và làm lại cuộc đời!" dường như là phát ngôn của một James Joyce trưởng thành.[78]

Những năm đại học (1898-1902)Sửa đổi

 
Ecce Homo của Mihály Munkácsy. Dựa trên bức họa Hungary này, James Joyce có bài phân tích phê phán xã hội Ireland khi còn là sinh viên.

Mùa thu năm 1898, James Joyce vào Đại học Cao đẳng Dublin (University College Dublin - UCD), tập trung học các ngôn ngữ hiện đại (tiếng Anh, Pháp, Ý).[79] Năm nhất đại học, Joyce đọc các tác phẩm của Carlyle, Macaulay, Ruskin, d'Annunzio, Sudermann, Dante, Zola, BlakeTurgenev.[80] Thích sân khấu, Joyce sáng tác vài vở kịch (nay không còn) trong đó có My Brilliant Career (Sự nghiệp rực rỡ của tôi) và coi đó là "tác phẩm thực sự đầu tiên trong đời tôi".[81] Tuy nhiên, tác phẩm nói trên cùng tập thơ Shine and Dark (Sáng tối) bị nhà phê bình William Archer từ chối và không được xuất bản.[82] Mặc dù nhìn ra tài năng tuyệt vời của chàng sinh viên trẻ, Archer khuyên Joyce chưa vội ra mắt.[83] Một ảnh hưởng đáng chú ý với Joyce đến từ nhà viết kịch người Na Uy Henrik Ibsen, người dung hòa các trào lưu văn học đương thời là chủ nghĩa hiện thựcchủ nghĩa tượng trưng qua các tác phẩm của mình.[80] Năm 1900, Joyce viết cho tạp chí Fortnightly Review bài đánh giá khen ngợi vở kịch Når vi døde vaagner (Khi kẻ chết chúng ta thức tỉnh) của Ibsen. Ấn tượng về bài phê bình, Ibsen bày tỏ lòng ngưỡng mộ khi gửi cho chàng sinh viên 19 tuổi một lá thư tiếng Na Uy.[84] Joyce cũng phúc đáp cảm ơn lại.[85] Joyce viết nhiều bài báo phê bình văn học-nghệ thuật, thường qua đó bày tỏ thái độ bất đồng chính kiến của mình. Từ bức tranh Ecce Homo của Mihály Munkácsy, Joyce tố cáo xã hội giả hình, rập khuôn tôn giáo và thấp hèn vì đã tẩy chay Parnell[c] giống như dân Do Thái khước từ Chúa Giêsu.[87] Joyce ủng hộ Yeats khi vở kịch The Countess Cathleen (Nữ bá tước Cathleen) bị cáo buộc là dị giáo.[88] Bạn học thời sinh viên của Joyce về sau trở thành những trí thức nổi bật có thể kể đến như John Francis Byrne, Thomas Kettle, Constantine Curran, Francis Skeffington và George Clancy,[79] những người trở thành hình mẫu cho các nhân vật trong tác phẩm của Joyce. Tham gia Hiệp hội Văn học và Lịch sử (Literary and Historical Society) ở Dublin, tại đó Joyce có chuyên luận Drama and Life (Kịch và đời) thành công rực rỡ ngày 20 tháng 1 năm 1900.[89] Càng ngày càng đam mê nghệ thuật và viết lách khiến Joyce không tập trung học được và nhận điểm thi kém.[90][91] Trong khoảng thời gian đó, gia đình Joyce gặp cảnh thiếu thốn trầm trọng, nguồn thu nhập duy nhất là tiền trợ cấp của John Stanislaus. James Joyce chỉ về nhà vào ban đêm, thường sẽ ngồi lại Thư viện Quốc gia cho đến 10 giờ tối.[92] Thomas Kettle nhớ lại về Joyce "ương bướng, khó tính, mê đắm nghịch lý elf... thể hiện tinh thần văn học".[93]

Trưởng thành và sự nghiệpSửa đổi

Khởi đầu xuất ngoại (1902-1904)Sửa đổi

Ra trường với điểm số trung bình nên không thể kiếm được việc liên quan,[94] Joyce quyết định theo học ngành khác là y khoa nhưng không phải ở Dublin mà là Paris. Lady Gregory trả tiền cho Joyce sang Paris, bà là nhà viết kịch, nghiên cứu văn hóa dân gian và bảo trợ nhiệt thành cho văn hóa Ireland. Cũng trong năm 1902, Joyce gặp gỡ hai nhân vật văn chương quan trọng: nhà huyền bí học George Russell và nhà thơ William Butler Yeats.[95] Ấn tượng với khả năng thiên tài của chàng trai trẻ, cả Lady Gregory lẫn Russell hay Yeats đều cố gắng bỏ qua cách cư xử thô lỗ và thái độ kiêu ngạo thái quá của Joyce.[96] Russell nói Joyce "cao ngạo như Lucifer".[97] Bạn của Yeats là nhà thơ Arthur Symons miêu tả về Joyce "sự tổng hợp kỳ dị giữa thiên tài nham hiểm và tài năng bất ổn".[98]

Ở Paris, Joyce phải chịu thiếu thốn đủ điều về vật chất, bị đói,[99] chịu rét[100] và thiếu mặc.[101] Joyce nghỉ học một thời gian ngắn và làm gia sư tiếng Anh để tự trang trải cuộc sống.[102] Joyce thường xuyên đến Thư viện Quốc gia PhápThư viện Sainte-Geneviève. Tiểu thuyết Les Lauriers sont coupés (Cây nguyệt quế bị cắt) của Édouard Dujardin giúp Joyce khám phá kỹ thuật văn học mới độc thoại nội tâm, về sau được hoàn thiện trong các tác phẩm thông qua dòng ý thức và giúp Joyce nổi tiếng.[103][104] Đồng thời, Joyce viết truyện về những khải thị mà các nhân vật chính nhận được (epiphany - hiển linh), qua đó bày tỏ cách nhìn nhận bản thân và thế giới hoàn toàn mới, đây là những mở đầu cho tập truyện Dubliners. Ngày 10 tháng 4 năm 1903, nhận được tin mẹ sắp qua đời, Joyce trở về Dublin.[105]

Bị xơ gan nặng (hoặc ung thư như quan điểm một số nhà tiểu sử),[106] Mary Jane Joyce bất động đợi con mình về.[107] Bà khuyên con trai quay về nhà thờ xưng tộihiệp thông trở lại nhưng Joyce từ chối.[108] Ngày 13 tháng 8 năm 1903, bà qua đời sau vài giờ hôn mê, cả gia đình quỳ quanh bà để cầu nguyện, ngoại trừ hai anh em James và Stannie là những người đã bỏ đạo.[109] Dù thể hiện là mình theo chủ nghĩa khắc kỷ, cái chết của người mẹ tác động lớn đến nhà văn.[110] Khoảng thời gian kế tiếp ở Dublin, Joyce đến với rượu như cha mình, hoàn toàn chìm đắm trong các quán rượu say xỉn cùng với Oliver Gogarty.[111] Một lần say rượu, Joyce bị một người lính đánh cho nhừ tử do hiểu lầm ở St Stephen's Green Park, và được người quen của cha là Alfred H. Hunter đưa về trị thương.[112] Hunter bị cả Dublin đồn đại là người Do Thái và có cô vợ lăng loàn, trở nên hình mẫu cho nhân vật Leopold Bloom trong Ulysses.[113] Còn bản thân Gogarty trở thành Buck Mulligan qua cách thức hư cấu gợi lại tình tiết đáng xấu hổ:[114]

 
Tháp pháo đài ven sông Dublin, nơi Joyce ở sáu ngày với Gogarty, tháng 9 năm 1904

Tháng 1 năm 1904, được em trai Stannie gợi ý, Joyce thử gửi tự truyện ngắn với tựa đề A Portrait of the Artist (Chân dung nghệ sĩ) cho tạp chí Dana.[116] Tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành cây bút lại bị tòa soạn từ chối, Joyce quyết định dùng nó để viết tiểu thuyết Stephen Hero. Tuy nhiên, bản thảo gần nghìn trang này cũng bị bỏ lại và chỉ được xuất bản sau khi Joyce qua đời, còn nội dung chính được chuyển tải thành tiểu thuyết A Portrait of the Artist as a Young Man năm 1916.[117] Ngày 10 tháng 6 năm 1904, Joyce gặp vợ tương lai là Nora Barnacle đang giúp việc tại khách sạn Finn.[118] Ngày 16 tháng 6, họ lần đầu hẹn hò, ngày này về sau đi vào lịch sử văn học, trở thành ngày kỷ niệm Bloomsday của tác phẩm Ulysses.[119] Cuộc sống những tháng cuối cùng ở Dublin của Joyce trở nên khó khăn hơn. Joyce phải vay mượn bạn bè và làm thầy giáo bán thời gian tại một trường tư thục.[120] Với chất giọng nam cao thiên phú, Joyce thậm chí còn ghi danh tham dự lễ hội âm nhạc Ireland Feis Ceoil, nhưng kết quả chỉ dành được huy chương đồng do không thể (và từ chối) đối mặt với thử thách "hát theo nốt nhạc".[121] Cảnh nhà lộn xộn túng thiếu vì người cha say xỉn, Joyce chuyển ra thuê nhà của gia đình McKernan.[122] Ngày 9 tháng 9, Joyce đến sống cùng Oliver Gogarty và Dermot Chenevix Trench trong tháp pháo đài ở Sandycove ven sông Dublin.[123] Sáu ngày sau, vì những lý do không rõ ràng, Joyce đột ngột chạy khỏi tháp vào nửa đêm, đoạn tuyệt với Gogarty mãi mãi. Joyce tuyên bố Gogarty và Trench đã dàn dựng để chơi khăm mình khi dùng súng bắn lung tung trong phòng vào con báo do họ tưởng tượng ra, khiến kệ sách và xoong nồi đổ xuống người Joyce. Quá sốc trước màn náo động này nên Joyce mới bỏ đi vào giờ khuya đó.[124] Ngày 8 tháng 10, Joyce rời Ireland lần thứ hai cùng với bạn gái Nora.[125] Gia đình vẫn chưa biết gì về mối quan hệ của hai người nên trong khi Joyce tạm biệt người nhà tại bến tầu North Wall Quay thì Nora tẽ riêng lên tàu để tránh thu hút sự chú ý từ John Stanislaus.[126]

Bên bờ Adriatic (1904-1909)Sửa đổi

Ngày 11 tháng 10 năm 1904, James Joyce đến Zürich theo thư xác nhận được nhận vào dạy tiếng tại trường Berlitz.[127] Hóa ra chỉ là nhầm lẫn nhưng giám đốc Zürich giới thiệu cho Joyce vị trí tương tự còn trống ở Trieste.[128] Nhưng cũng bị từ chối ở đó, Joyce cuối cùng có được công việc ở trường Berlitz mới thành lập tại Pula trên bán đảo Istria.[129] Cả Trieste (nay thuộc Ý) và Pula (nay thuộc Croatia) khi ấy đều thuộc Đế quốc Áo-Hung, cư dân chủ yếu là người Ý, người Croat và người Sloven. Joyce cảm thấy Pula thật trì trệ và buồn tẻ, mô tả nó "Siberia hải quân [...] thực sự bị quân phục bạc màu gặm nhấm", đầy dẫy "những người Slav ngu dốt đội mũ đỏ bé tí và mặc quần chẽn rộng thùng thình".[130] Phương ngữ Ý tại đây gây khó cho nhà văn vốn chỉ quen với ngôn ngữ văn học kinh điển của Dante.[131] Cú sốc văn hóa với Nora còn mạnh mẽ hơn vì không thích ứng được lối sống Địa Trung Hải.[132] Tháng 3 năm 1905 xảy ra vụ bê bối gián điệp khiến chính quyền trục xuất tất cả người nước ngoài khỏi thành phố.[133] Joyce đến ở Trieste, tiếp tục dạy tiếng Anh.[134] Trước đó Joyce chủ yếu dạy cho tầng lớp sĩ quan Áo-Hung thì giờ đây có thể có các sinh viên riêng hay cá nhân dân sự. Học trò nổi tiếng của Joyce có thể nhắc đến Ettore Schmitz người Do Thái (bút danh Italo Svevo) là nhà văn Ý hiện đại; hai người gặp nhau năm 1907 và trở thành bạn bè.[135] Svevo giới thiệu văn hóa Do Thái với Joyce và cô vợ anh Livia tóc dài chính là hình mẫu cho nhân vật Anna Livia Plurabelle trong Finnegans Wake. Philippe Soupault xác định "giai đoạn Trieste" là quan trọng nhất với cuộc đời Joyce,[136] bản thân nhà văn cũng gọi thành phố mới này là "La nostra bella Trieste" (Trieste xinh đẹp của chúng ta).[137] Khi ấy, Trieste có nhiều nét chung với Dublin như đều là cảng do nước ngoài nắm giữ, văn hóa sôi nổi sống động, âm nhạc, kịch hát và chuyện hài hước phong phú.[136] Joyce thường ghé nhà hát Teatro Verdi thưởng thức các tác phẩm của Verdi, Bellini, Donizetti hay kịch Sudermann, Roberto Bracco, Strindberg và Ibsen.[138] Ban đêm, Joyce thường lui tới các quán bar,[139] nơi tiếp xúc và đồng hóa những ý tưởng Chủ nghĩa xã hội liên quan đến tự do kinh tế, chủ nghĩa hòa bình và tránh xung đột chủ nghĩa dân tộc.[140] Dù theo thuyết bất khả tri, Joyce vẫn thường đi lễ nhà thờ Chính thống giáo và Công giáo ở Trieste.[141]

 
Italo Svevo, người tiên phong của chủ nghĩa hiện đại trong văn học, là bạn thân của James Joyce khi ở Trieste

Môi trường giao lưu nhiều nền văn hóa ảnh hưởng lớn đến cách viết của nhà văn. Joyce bị không khí bí ẩn kỳ lạ của phương Đông thu hút từ các vùng như Hy Lạp, Palestine, Ả Rập hoặc Tây Ban Nha, càng đậm nét tại cảng Địa Trung Hải này, như được phản ánh qua hoài niệm thơ ấu ở Gibraltar của nhân vật Molly Bloom trong Ulysses:[143]

Đồng thời, Joyce học phương ngữ Triestino bản địa kết hợp nhiều yếu tố từ các ngôn ngữ thiểu số tại đó như tiếng Armenia, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Sicilia, tiếng Đức, tiếng Croatia, tiếng Slovene, tiếng Séctiếng Hy Lạp.[145] Sự pha trộn ngôn ngữ này là cảm hứng cho Joyce thử nghiệm bằng tiếng Anh trong Finnegans Wake mà John McCourt coi là sự nâng cao phóng đại của phương ngữ nói ở Trieste.[146] Ví dụ, Joyce mô tả gió Bora độc đáo qua một loạt hỗn hợp từ ngữ gợi hình ảnh ngày tận thế tham chiếu ngôn ngữ, văn học và thần thoại.[147]

"...the Boraborayellers, blohablasting tegolhutsa up to tettiesb and ruching sleets off the coppeehouses, playing ragnowrockc rignewreck, with an irritant, penetrant, siphonopterousd spuke" "Borabora la hét, thổi bay qua những ngôi nhà mái ngói, giật tung cửa các quán cà phê, chơi đùa phá hủy như Ragnarök, với con ma có cánh hình ống xuyên qua, khó chịu"
Finnegans Wake[148] (tạm dịch từ ngữ)
a tegola (tiếng Ý)= ngói
b hai từ ghép tetti (tiếng Ý) = mái nhàtatter (tiếng Anh) = giẻ rách
c Ragnarök = (thần thoại Bắc Âu) khải huyền
d sífon (tiếng Hy Lạp) = ống + pterón (tiếng Hy Lạp) = cánh
e spuk (tiếng Đức) = ma

Khi ấy, Nora đang mang thai lại phải chịu đựng khí hậu nóng bức và món ăn Ý nên mệt mỏi, thường chỉ nằm cả ngày trên giường.[147] "Gia đình" bất ổn và Joyce lấy ngay quan hệ của mình vào trong tác phẩm Dubliners, những cặp đôi bất hạnh, phản bội, không hiểu nhau là chủ đề gắn kết cả tập truyện.[149] Ngày 27 tháng 7 năm 1905, Nora sinh con trai đầu lòng Giorgio, hai người tuyên bố đã kết hôn để con sinh ra là hợp pháp.[150] Joyce cố thuyết phục em trai Stannie cùng chuyển đến Trieste, hứa hẹn về cuộc sống đủ đầy khi làm giáo viên tại trường Berlitz. Trên thực tế, Joyce chỉ muốn lợi dụng em trai để có thể giúp đỡ thêm cho đời sống nghệ sĩ phóng túng của mình được dễ dàng hơn.[151] Quan hệ với Stannie lúc ở Trieste ngày càng căng thẳng, đặc biệt là do lối sống hoang phí và phù phiếm của Joyce.[152] Ngày 30 tháng 7 năm 1906, James và Nora rời Trieste đến Roma sống, Joyce làm việc tại ngân hàng.[153] Công việc mới mệt mỏi mà không có nhiều tiền nên cả hai quay lại bờ biển Adriatic vào tháng 3 năm 1907 với bộ dạng "gần như ốm yếu và nghèo khổ như những người nhập cư Ý".[154] Hè 1907, Joyce bị sốt thấp khớp, phải nằm viện một tháng và thêm ba tháng ở nhà để bình phục.[155] Đứa con thứ hai Lucia chào đời ngày 27 tháng 7 năm 1907 trong nhà đỡ cho người nghèo, "gần như nằm trên đường phố".[155][156]

Dần từ bỏ chủ nghĩa xã hội, Joyce tiếp nhận chủ nghĩa dân tộcchủ nghĩa phục hồi lãnh thổ, nghiên cứu về đất nước mình và đăng các bài viết về Ireland trên tờ Il Piccolo della Sera.[157][158] Tháng 5, Joyce ra mắt tập thơ đầu tay Chamber Music (Nhạc thính phòng) do Elkin Mathews xuất bản.[159] Một giai thoại nổi tiếng cho rằng tiêu đề tập thơ như vậy là do Joyce nghe tiếng động lớn người ta đi tiểu vào bô (chamber pot).[160] Cùng năm, Joyce hoàn thành tập truyện Dubliners nhưng phải đến năm 1914 mới được xuất bản, trải qua hơn 20 lần bị 15 nhà xuất bản từ chối. Tháng 11 năm 1907, Stannie ghi lại ý định của anh trai mình mở rộng một câu chuyện được viết ở Roma cho đồ sộ hơn, giống như kiểu Peer Gynt cho Dublin, cùng với ảnh hưởng từ HamletFaust. Đó chính là tác phẩm Ulysses chúng ta biết ngày nay.[161]

Qua lại Trieste và Dublin (1909-1915)Sửa đổi

 
James Joyce 1915

Tháng 8 năm 1909, Joyce về Dublin để xem xét khả năng xuất bản Dubliners tại quê nhà.[162] Nora ở lại Trieste chỉ có Joyce mang con trai về gặp ông nội. Lần này, nhà văn lại là nạn nhân của trò đùa dở khóc dở cười do những người bạn là Cosgrave và Gogarty gây ra, họ khiến Joyce cho rằng Nora không chung thủy thậm chí đến mức nghi ngờ Giorgio không phải con mình.[163] Trò đùa tác động lớn đến Joyce chỉ khi người bạn John Francis Byrne một mực phủ nhận, cũng như em trai Stannie và chính Nora xác nhận mới khôi phục lại được niềm tin của Joyce vào vợ mình.[164] Joyce đưa em gái mình là Eva cùng về Trieste nhằm thoát khỏi không khí gia đình u ám tại Ireland.[165] Thích thú những rạp chiếu phim Ý, Eva đã gợi ý cho anh trai mở rạp chiếu phim đầu tiên ở Dublin.[166] Ngày 20 tháng 12 năm 1909, Joyce cùng các cộng sự Ý mở Cinematograph Volta, thoạt đầu có vẻ thành công.[167] Nhưng dấu hiệu bệnh về mắt[167] khiến Joyce một lần nữa rời Dublin cùng với cô em gái khác là Eileen vào ngày 2 tháng 1 năm 1910.[168] Nằm trong tay các đối tác, Volta chịu lỗ lớn và bị bán đi ngày 14 tháng 6 năm 1910.[169] James Joyce thất vọng về các đối tác vì không kiếm được gì từ 10% như được hứa hẹn, không có khả năng quản lý và kiếm tiền có lẽ di truyền từ người cha.[170] Tuy nhiên, từ chuyến kinh doanh phiêu lưu này, Joyce đã đưa niềm yêu thích điện ảnh vào Ulysses: các đề mục Aeolus làm giống như tựa phim của cảnh mới hay với kỹ thuật "góc quay" chuyển lấy nét từ điểm này sang điểm khác trong Wandering Rocks để giống như đoạn phim ngắn về Dublin.[171]

Volta thất bại đặt dấu chấm hết cho những tham vọng kinh doanh khác của Joyce, ví như ý định mang vải tuýt Ireland bán vào Trieste. Tình hình vật chất vẫn không ổn định, có thể thấy qua những bài giảng tại Đại học Popolare: "Ireland, Island of Saints and Sages" (Ireland, đảo các thánh và hiền triết) ngày 27 tháng 4 năm 1907[172] và hai bài "Realism and idealism in English literature" (Chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa duy tâm trong văn học Anh) tháng 3 năm 1912.[173] Với văn học Anh, Joyce tập trung chủ yếu vào hai tác gia Daniel DefoeWilliam Blake tương ứng với nhân vật đặt trưng mà người Ireland coi là đặc trưng Anh Robinson Crusoe hay nhân loại nói chung Albion.[174] Cuối tháng 8 năm 1910, nhà Joyce cùng các em gái chuyển đến căn hộ mới trên đường Via della Barriera Vecchia và ở đó cho đến tháng 9 năm 1912, họ cũng thuê quản gia Maria Kirn.[175] Eileen nhớ lại một kỷ niệm suýt thay đổi thảm khốc sự nghiệp văn học của Joyce. Khi ấy, bị Nora trách chỉ tốn thời gian viết lách, Joyce tức giận đến mức ném bản thảo A Portrait of the Artist as a Young Man vào lửa; may là Eileen và Maria Kirn ngay lập tức lao vào lấy lại được.[176] Tháng 4 năm 1912, Joyce đến Padua tham gia thi khảo hạch trình độ giáo viên Ý.[177] Dù đạt được điểm số xuất sắc 421/450, Joyce vẫn không được tuyển dụng vì bộ máy quan liêu cứng nhắc không thừa nhận bằng cấp tương đương của ông tại Ireland.[178][179]

Hè năm 1912, Nora cùng con gái Lucia đi thăm họ hàng ở Galway, để James Joyce lại Trieste.[180] Nhớ nhung chờ đợi, nhà văn quyết định đến thăm rồi mang Giorgio về Dublin ngày 12 tháng 7. Khi biết Giorgio đã 7 tuổi mà chưa được rửa tội, họ ngoại nhà Joyce đã bí mật tiến hành lễ rửa tội trong nhà tắm.[181] Joyce tận dụng chuyến về quê này để thương lượng lại việc xuất bản Dubliners. Ông sẵn sàng chiều theo ý nhà xuất bản George Roberts bỏ đi truyện An Encounter (Một cuộc gặp)[182] khắc họa nhân vật đồng tính.[183] Nhưng khi phải xác định nghĩa vụ tài chính trong trường hợp xảy ra kiện tụng do việc xuất bản tập truyện, Joyce một lần nữa đành phải từ bỏ dự định in ấn này.[184] Vận rủi chưa hết, cuối tháng 7, chủ nhà gửi giấy không cho ở nữa vì nợ quá nhiều.[185] Joyce đang ở Dublin nên Stannie tìm giúp qua địa chỉ mới tại số 4 via Donato Bramante.[186] Tháng 9, Joyce trở lại Trieste. Đó là chuyến trở về Ireland cuối cùng của Joyce, về sau ngay cả khi cha mình hoặc Yeats mời gọi, ông cũng kiên quyết không trở lại "hòn đảo của các thánh và hiền triết".[187]

 
James Joyce năm 1915

Từ năm 1913, Joyce làm giáo viên tại trường trung học Scuola Superiore di Commercio Revoltella đồng thời vẫn dạy gia sư riêng.[188][189] Trong số học sinh có Amalia Popper được Joyce dành cho tình yêu thuần khiết những năm cuối ở Trieste, cũng là nguồn cảm hứng chính cho nhân vật cô gái trẻ bí ẩn trong tự truyện "thơ tình" bằng văn xuôi Giacomo Joyce.[190] Một số nhà viết tiểu sử còn coi Amalia Popper là nguyên mẫu của nhân vật Molly Bloom.[191] Thủ pháp dòng ý thức được Joyce thể hiện đầu tiên trong A Portrait of the Artist as a Young Man, nhấn mạnh trong Giacomo Joyce và đạt đến toàn mỹ với Ulysses năm 1915. Giữa năm 1914 và 1915, Joyce viết kịch Exiles (Tha hương) về mối tình tay ba, lấy cảm hứng từ quan hệ với Nora Barnacle.[192] Vận mệnh văn chương James Joyce thay đổi vào cuối năm 1913, khi một lá thư bất ngờ từ nhà thơ Mỹ Ezra Pound[193] gửi đến mời ông xuất bản tác phẩm trên hai tạp chí bằng "quan hệ không chính thức" là The EgoistThe Cerebralist.[194] Dựa trên thông tin ban đầu từ William Butler Yeats, đến khi nhận được bản thảo A Portrait of the Artist as a Young ManDubliners, Pound coi Joyce là nhà văn hiện đại sánh ngang với Henry James, William Henry Hudson hay Joseph Conrad.[195] Ngày 2 tháng 2 năm 1914, A Portrait of the Artist as a Young Man bắt đầu được đăng nhiều kỳ trên tạp chí The Egoist dưới sự bảo trợ của Pound. Cùng năm, cuốn Dubliners được Grant Richards Ltd. ấn hành. Hai ấn phẩm đặt Joyce vào vị trí trung tâm của làng văn: Arthur Symons ngưỡng mộ chủ nghĩa hiện thực Pháp thể hiện theo nguyên bản kiểu Ireland còn Gerald Gould coi Joyce là "thiên tài".[196] Có một số báo chí như tờ The Times Literary Supplement bất bình với các chủ đề trong Dubliners[197] nhưng hầu hết đều là các đánh giá tích cực. Những thành công ban đầu này của nhà văn sớm bị lu mờ khi Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ năm 1914. Giao thông giữa London và Trieste bị chặn lại, các chương cuối Portrait bị trì hoãn xuất bản cho đến tận ngày ngày 1 tháng 9 năm 1915. Ngày 9 tháng 1 năm 1915, em trai Stannie bị Áo-Hung bắt giữ và cầm tù suốt cuộc chiến vì quan điểm phục hồi lãnh thổ.[198] Ngày 15 tháng 9 năm 1914, bị cảnh sát mật can thiệp, James Joyce bị đình chỉ công việc tại Scuola Revoltella và quyết định lưu vong một lần nữa, lần này là tới Thụy Sĩ.[199]

Ở Zürich (1915-1920)Sửa đổi

 
Đài phun nước James-Joyce-Kanzel, công viên Platzspitz, Zürich. James Joyce thường đến nghỉ ngơi thư giãn tại hợp lưu sông LimmatSihl.

Ngày 30 tháng 6 năm 1915, James Joyce cùng vợ con chuyển đến Zürich. Hơn bốn năm tại Zürich, gia đình đã bảy lần chuyển địa chỉ.[200] Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, đây là nơi tập trung nhiều người tị nạn và lãnh tụ cách mạng như Tristan Tzara, Marcel Iancu, Carl JungLenin.[201] Ở Zürich, James Joyce kết bạn với Ottocaro Weiss và Frank Budgen Rudolf Goldschmidt.[202] Có được được danh tiếng nhờ những tác phẩm mới xuất bản nhưng cuộc sống vật chất của Joyce vẫn không thay đổi. Ông dạy gia sư tiếng Anh và được Pound, Yeats, Wells hỗ trợ tài chính và tinh thần, đặc biệt biên tập viên The Egoist Harriet Shaw Weaver đã cho tới 23.000 bảng Anh năm 1930. Hơn nữa, Joyce còn thường xuyên được những người hâm mộ ẩn danh gửi tới 1.500 franc mỗi tháng.[203] Trong khi đó, B. W. Huebsch cho xuất bản A Portrait of the Artist as a Young Man lần đầu tiên tại Hoa Kỳ ngày 29 tháng 12 năm 1916. Không lâu sau, Weaver lập nên nhà xuất bản Egoist Press để cho ra ấn bản tại Anh, khi mà dường như tất cả các nhà xuất bản khác đều đã từ chối.[204]

Đầu năm 1917, Joyce bị tăng nhãn áp nghiêm trọng, ngay giữa phố mà không nhìn thấy gì, khó khăn lắm mới về được đến nhà.[205] Mắt được chẩn đoán bị nhiều vấn đề như kích ứng, tăng nhãn áp, đục thủy tinh thể hay dính mống mắt khiến Joyce phải thực hiện phẫu thuật không dưới 25 lần từ năm 1917 đến 1930.[206] Joyce thường phải đeo kính tròng tối màu để bảo vệ mắt khỏi ánh sáng chói, thậm chí có những lúc như bị mù hẳn.[207] Theo lời khuyên của thầy thuốc, Joyce dành khoảng thời gian cuối năm 1917 tại thành phố Locarno. Tại đó, Joyce phải lòng yêu nữ bác sĩ Đông Phổ 26 tuổi Gertrude Kaempffer, ông còn viết cho cô về ham muốn tình dục đầu tiên của mình khi 14 tuổi.[208] Gertrude xé thư và không trả lời.[209] Trở thành nhân vật Gerty MacDowell trong Ulysses, cô gái trẻ có vị trí trung tâm ở chương Nausicaa, cùng với những xung động tình dục của nhân vật chính giảm xuống thành thị dâm. Trong năm 1917, Joyce cũng gửi Nora sách của Sacher-Masoch mà cả hai cùng thích, đây là tác giả về sau được gán tên cho hình thức khổ dâm (masochism).[210] Ngày nay, có những bức thư tình Joyce gửi Nora cuối năm 1909 với lời lẽ đầy nhục dục được phát hiện và phổ biến tới độc giả.[211]

Quá ảnh hưởng do chiến tranh, Joyce tập trung cho tiểu thuyết mới Ulysses, kết hợp các kỹ thuật văn học thời bấy giờ. Ông chia sẻ ý tưởng của mình cho người bạn Frank Budgen (về sau trở thành người viết tiểu sử Joyce) rằng:

Muốn tác phẩm có tính cách mạng về ngôn ngữ, nhà văn cố gắng phá bỏ một cách hệ thống và phát minh lại từ vựng và cú pháp tiếng Anh, như nói với Stefan Zweig:

 
Logo của Hiệp hội chống đồi bại New York là tổ chức quyết định cấm tiểu thuyết UlyssesHoa Kỳ

Nỗ lực táo bạo này nhằm xây dựng một ngôn ngữ phổ quát được Joyce khởi đầu trong Ulysses và tiếp tục mở rộng đến mức cường điệu không thể dịch nổi trong Finnegans Wake. Việc lựa chọn hình tượng Ulysses huyền thoại cũng không phải ngẫu nhiên. Nhân vật là con trai của Laertes, cha của Telemachus, chồng của Penelope và người tình của tiên nữ Calypso, Joyce coi vua Ithaca đã thể hiện tất cả những nhược điểm của nhân loại nên mới là "con người hoàn chỉnh", tiêu biểu hơn cả Hamlet hay Faust.[213] Ulysses cũng giống tác giả ở số phận ngao du, thích âm nhạc (Ulysses buộc mình vào cột buồm để nghe tiếng hát nàng tiên cá) và tính hài hước thể hiện qua câu thoại với Cyclops "Tên tôi là Outis (Không ai cả)".[214] Theo các bản thảo hiện có, Joyce hoàn tất ba chương đầu Telemahiada vào cuối năm 1917 tại Locarno; chương 4-12 (từ Calypso đến Cyclops) được viết ở Zürich vào năm 1918 và 1919; NausicaaBoii Soarelui được hoàn thành ở Trieste từ tháng 11 năm 1919 đến tháng 6 năm 1920; bốn chương cuối được viết chủ yếu ở Paris cho đến tháng 12 năm 1921.[215] Tháng 3 năm 1918, Ezra Pound hỗ trợ xuất bản tiểu thuyết này dưới dạng nhiều kỳ (giống như Portrait) trên tạp chí The Little Review tại New York.[216] Khi đọc những câu đầu tiên chương Proteus, nhà sáng lập The Little Review Margaret Anderson đã phải thốt lên: “Đây là điều đẹp nhất mà chúng ta từng có. Chúng ta sẽ in nó ngay cả khi đó là nỗ lực cuối đời." Tuy nhiên, một số độc giả bảo thủ coi tác phẩm là thô tục và có tính phá hoại.[217] Do đó, The Little Review bị New York Society for the Suppression of Vice (Hiệp hội chống đồi bại New York) theo dõi sát sao và tác động đến Bưu điện Hoa Kỳ tịch thu và thiêu hủy các số tạp chí: số tháng 1 năm 1919 đăng phần đầu Lestrigonii và số tháng 5 năm 1919 đăng phần cuối chương Scila và Caribda.[218] Hè năm ấy, một phần của chương Nausicaa đầy tai tiếng bị gửi nhầm cho con gái của một luật sư ở New York, là nguyên cớ dấy lên sự đối đấu công khai giữa Thanh giáo truyền thống và chủ nghĩa hiện đại tân thời. Margaret Anderson và đồng nghiệp Jane Heap bị liên đới pháp lý về tội phát tán Ulysses với ngôn từ bẩn thỉu. Tại Anh là nơi ít khoan dung hơn cả Hoa Kỳ, Miss Weaver và The Egoist chỉ xuất bản những chương 2, 3, 6 và 10 không tai tiếng trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 12 năm 1919.[219]

 
Margaret Anderson, người sáng lập và biên tập viên của The Little Review, xuất bản 13 chương đầu của Ulysses tại Hoa Kỳ cho đến khi bị cấm.

Niềm yêu thích sân khấu của Joyce càng được nâng cao nhờ môi trường văn hóa Zürich, qua một loạt biến cố, nơi đây đã trở thành trung tâm nghệ thuật kịch vào năm 1917.[220] Cùng với nam diễn viên người Anh Claud Sykes, Joyce thành lập công ty kịch nghệ The English Players ở Zürich với mục đích quảng bá kịch Anh tại Thụy Sĩ.[221] Tháng 5 năm 1918, Grant Richards (London) và Huebsch (New York) cuối cùng cũng xuất bản vở kịch Exiles.[222] Năm 1919, theo đề xuất của Stefan Zweig, vở kịch được diễn ra mắt tại München.[223] Năm 1918, diễn viên nghiệp dư và cựu quân nhân Henry Carr kêu ca đòi Joyce phải trả thêm tiền cho việc diễn trên sân khấu The English Players.[224] Carr đe dọa "vặn cổ" Joyce dẫn ra hai vụ kiện cáo nhau trước tòa.[225] Nhà văn đa tình còn vướng vào tình cảm với cô gái trẻ Marthe Fleischmann sống trong căn hộ bên kia đường.[226] Quan hệ giữa hai người thể hiện qua những bức thư tình và bưu thiếp ký tên "Odysseus" gửi "Nausikaa".[227] Nhưng hình ảnh Marthe sẽ được Joyce dùng làm nguyên mẫu cho các nhân vật của mình, giống như Nora, Amalia Popper hay Gertrude Kaempffer. Ngày 11 tháng 11 năm 1918, Thế chiến I kết thúc, hai tháng sau Chiến tranh giành độc lập của Ireland bùng nổ. Khi được Budgen hỏi tại sao không trở về quê nhà, Joyce nêu lý do: "Vì tôi là một kẻ hèn nhát và sợ bị bắn", nỗi sợ khá chính đáng vì nhà văn bị coi là kẻ ủng hộ chính sách của Anh.[228] Joyce trở lại Trieste vài tháng nhưng chỉ còn thấy bầu không khí thù hận,[229] thành phố hoang vắng không còn khơi dậy hứng thú lửa nhiệt tình như trước.[230] Tháng 6 năm 1920, hai người khổng lồ của chủ nghĩa hiện đại Anh, James Joyce và Ezra Pound lần đầu tiên gặp nhau tại Sirmione.[231] Pound gợi ý đến Paris sống, và Joyce thấy trước khả năng dịch PortraitDublinerssang tiếng Pháp nên đã chấp nhận, tạo nên thay đổi mang tính quyết định cho hai mươi năm tiếp theo cuộc đời nhà văn.[232]

Paris và tác động của Ulysses (1920-1924)Sửa đổi

Ngày 8 tháng 7 năm 1920, gia đình Joyce đến Gare de Lyon, Paris, đánh dấu bước lùi trong sự phát triển tự nhiên của hai con trẻ, chúng không quen tiếng Pháp và khó khăn để thích nghi.[233] Giorgio 15 tuổi muốn học ngành y nhưng buộc phải chọn nghề nhân viên nhà băng do rào cản ngôn ngữ.[234][235] Lucia 13 tuổi bị khiêu vũ hiện đại thu hút và thường xuyên tập luyện với những nhân vật nổi tiếng như Raymond Duncan (anh trai của Isadora Duncan) và Lubov Egorova.[236]

Ở Paris, Joyce áp dụng lối sống tỉnh thức và chậm rãi hơn, từ bỏ cách sống phóng túng lúc trước.[234] Joyce thay đổi chỗ ở 19 lần, lâu nhất là tại số 2 Square Robiac (tháng 6 năm 1925 - tháng 3 năm 1931) và số 7 phố Edmond Valentin (tháng 7 năm 1934 - tháng 4 năm 1939).[237] Joyce dễ dàng hòa nhập vào giới văn học Paris do tình bạn với hai nhân vật văn hóa quan trọng là Sylvia BeachAdrienne Monnier.[238] Monnier giới thiệu với Joyce các nhà văn André GidePaul Valéry.[239] Joyce cũng quen với Valery Larbaud, người sớm tuyên bố hâm mộ Ulysses cuồng nhiệt, ông coi đó là tiểu thuyết "vĩ đại, toàn diện và nhân văn như Rabelais".[240] Nhà văn và phê bình nghệ thuật gốc Dublin Arthur Power đã mô tả tình bạn vài năm với Joyce trong cuốn sách của mình với tựa đề Conversations With James Joyce (Trò chuyện với James Joyce).[241] Trong số những người Mỹ định cư tại Paris, Joyce tiếp xúc với các nhà thơ E. E. CummingsWilliam Carlos Williams, nhà soạn nhạc tiên phong George Antheil[242] hay nhà văn Gertrude Stein ghen ghét Joyce vì chiếm mất vị trí đi đầu của chủ nghĩ hiện đại đáng ra thuộc về mình.[243] Ngày 15 tháng 8 năm 1920, Joyce cùng với Giorgio đến ăn tối với T. S. Eliot và lần đầu gặp họa sĩ người Anh Wyndham Lewis.[244] Lewis mỉa mai nhớ lại: "Tôi thấy con người kỳ cục đi giày da thuộc, đeo kính to dày, để ria như bánh gừng, liến thoắng tiếng Ý với cậu học sinh cau có: vào vai gã Ireland hơi quá nhưng kỹ thuật vui nhộn".[245][246] Joyce gặp cả Marcel Proust năm 1922, khi Stephen Hudson mời hai người đến dự tiệc.[247] Nhưng lần gặp duy nhất của hai bậc thầy văn xuôi theo chủ nghĩa hiện đại không mang tính văn học chút nào: theo các giai thoại, cả hai nói chuyện về nấm cục, nữ công tước hay gái hầu phòng.[248] Cùng năm, nhà văn Djuna Barnes phỏng vấn Joyce và đăng trên trên tạp chí Vanity Fair.[249] Bà và bạn là Mina Loy mỗi người phác thảo chân dung của nhà văn. Hai bản ký họa nổi tiếng khác ra đời năm 1929[250] dự định dùng cho cuốn Tales Told of Shem and Shaun là phần trích từ Finnegans Wake. Bức đầu tiên bị nhà xuất bản coi là tầm thường và từ chối, nhưng bức thứ hai trở thành "biểu tượng của James Joyce" chỉ với hình xoắc ốc và các đoạn thẳng.[251] Năm 1926, để chứng minh với người bạn Myron C. Nutting rằng mình không bị mù, đến lượt Joyce thực hiện một bức vẽ nhỏ trên giấy về Leopold Bloom theo phong cách Chaplin.[252]

 
Ký họa năm 1922 của Djuna Barnes vẽ James Joyce che một mắt do vấn đề thị lực

Dù được luật sư John Quinn ra sức bảo vệ trường phái hiện đại trước tòa, The Little Review vẫn thua kiện, Anderson và Heap bị phạt, không được quyền xuất bản Ulysses ở Hoa Kỳ nữa.[239][253] Trong bối cảnh ấy, người sáng lập hiệu sách Shakespeare and Company Sylvia Beach đề nghị in tiểu thuyết này ở Paris, dù bà chưa bao giờ xuất bản sách cả.[254] Joyce hoàn thành chương cuối vào năm 1921 nhưng quá trình xuất bản luôn gặp phải vấn đề. Ngày vướng mắc khiến ông phẫn nộ mà đốt mất. Ngày 8 tháng 4, thợ đánh máy Harrison hốt hoảng thông báo rằng chồng mình đọc được bản thảo chương Circe và đốt hết vì kinh tởm.[255] Joyce buộc phải viết lại chương cuối này dựa trên bản thảo trước đó John Quinn còn giữ được. Nhà văn cảm thấy kiệt quệ và trống rỗng khi gấp rút hoàn tất cuốn tiểu thuyết:[256]

 
Chân dung James Joyce của Patrick Tuohy, 1924

Dưới nỗ lực của Sylvia Beach, Ulysses xuất hiện tại Paris ngày 2 tháng 2 năm 1922. Chỉ vài tuần trước đó, Beach đã chuẩn bị cho những độc giả tiềm năng đăng ký sách: các nhà văn Léon-Paul Fargue, Ernest Hemingway, Ezra Pound, Robert McAlmon, YeatsAndré Gide, rổi cả Winston Churchill, cháu họ của Béla Kun là giám mục Anh giáo và lãnh đạo của phong trào cách mạng Ireland, những người quan tâm, trong đó Valery Larbaud tiên đoán về tác phẩm "sự trở lại văn học châu Âu cao cấp của Ireland một cách náo động".[259] George Bernard Shaw từ chối đăng ký, xếp Ulysses vào loại "ghi chép nổi loạn về giai đoạn kinh tởm của nền văn minh nhưng chính xác".[260] Chính Joyce chọn màu sắc cho ấn bản đầu tiên là xanh lam và trắng gợi nhớ đến quốc kỳ và địa lý Hy Lạp đặc trưng những hòn đảo trắng rải rác trên nền lam Biển Aegea.[261] Các tiểu thuyết nhắm trở thành "sử thi của hai dân tộc Do TháiIreland" đặc trưng bởi ba nhân vật: nhà văn trẻ Stephen Dedalus, Leopold Bloom (người Do Thái làm việc trong lĩnh vực quảng cáo) và Molly Bloom (ca sĩ opera).[262]

Ulysses tạo ra một loạt phản ứng từ công chúng. Yeats ghi nhận tác phẩm là sự sáng tạo phi thường "không phải những gì mắt thấy tai nghe mà là tâm trí suy tưởng lang thang từ nơi này sang nơi khác".[263] T. S. Eliot viết:

Trên tờThe New Republic, Edmund Wilson gọi cuốn tiểu thuyết "có lẽ là tấm phim X quang chính xác nhất từng chụp về ý thức con người hàng ngày".[265] Trong một bức thư, Hemingway đơn giản gọi nó là "cuốn sách tuyệt vời chết tiệt nhất" (a most goddamn wonderful book).[266] D. H. Lawrence thấy Ulysses "kinh tởm hơn Casanova".[267] Còn Virginia Woolf ghi nhật ký rằng "bối rối, buồn chán, cáu kỉnh và vỡ mộng" khi đọc Ulysses và trước ngôn ngữ thô tục, đã tự hỏi "Nếu có thịt chín, tại sao mọi người lại muốn ăn thịt sống?".[268] Trên tạp chí Dublin Review, Shane Leslie mô tả cuốn tiểu thuyết bằng những từ ngữ xúc phạm như "chủ nghĩa Bolshevik viễn tưởng", "chống Cơ Đốc giáo", "đa tình" và "không thể đọc nổi",...[269]

Do tính chất gây tranh cãi, Ulysses vẫn là cuốn sách bị cấm ở các nước nói tiếng Anh cho đến thập niên 1930. Hoa Kỳ trở thành quốc gia nói tiếng Anh đầu tiên (sau Ireland) cho phép tiểu thuyết của Joyce được tự do xuất bản năm 1934, nhờ vào phán quyết của Thẩm phán Liên bang John M. Woolsey bác bỏ cáo buộc về sự thô tục trong vụ United States v. One Book Called Ulysses.[270] Trong số người hâm mộ tác phẩm không có Nora Barnacle, được cho là chưa bao giờ đọc Ulysses[271] hoặc cố đọc nhưng không thích nên đã dừng "ở trang 27, bao gồm cả trang bìa".[272] Hơn nữa, mối quan hệ nhân tình nhân ngãi lại căng thẳng trên thực tế, nên mặc cho Joyce khuyên ngăn, Nora đưa con về Ireland vào năm 1923.[265] Nội chiến Ireland cũng làm bi kịch hóa bối cảnh, khi chuyến xe lửa nối Galway và Dublin bị đạn pháo tấn công khiến Nora và Lucia[273] hoảng sợ nằm rạp xuống sàn tàu.[274] Sức khỏe Joyce cũng không tốt: răng đau nhức nhối nên phải nhổ bớt đi.[275] Ngày 28 tháng 4 năm 1923, bác sĩ Joyce Louis Borsch làm thủ thuật mở cơ thắt mắt trái cho Joyce, làm rộng đồng tử bằng cách loại bỏ một phần mống mắt.[276] Joyce được giảm đau bằng chườm đá và đỉa vào mắt[277] và được kê đơn Ethylmorphine gốc morphin. Joyce có thể đã dùng cả cocaine, thời ấy cũng lan truyền đồn đại ông bị phụ thuộc vào ma túy.[278]

Nhà văn dành hè 1923 ở Luân Đôn và nghỉ mát bên bờ biển Bognor, nơi bắt đầu nghiêm túc sáng tác Finnegans Wake.[279] Trên thực tế, hai trang tác phẩm này như Joyce từng khoe "đã được viết ra ngay sau khi phần Da của Ulysses hoàn tất" từ tháng 3, miêu tả vua Ireland Roderick O'Connor.[280] Đến lượt nó có lẽ cũng là phác thảo đầu tiên dựa trên Tristan và Iseult, viết dành riêng cho Nora khi gặp vấn đề về thị lực.[281] Năm 1924, Joyce quảng bá cho cuốn tiểu thuyết La coscienza di Zeno (Lời tuyên xưng của Zeno) của người bạn cũ Italo Svevo nhằm khơi dậy sự quan tâm của công chúng tới kiệt tác văn học chủ nghĩa hiện đại dường như không còn tiếng tăm.[282]

Work in Progress (1924-1932)Sửa đổi

 
Samuel Beckett năm 1970. Gặp gỡ vào mùa thu năm 1928,[283] Beckett trở học trò và giúp Joyce hoàn thành Finnegans Wake.

Joyce say mê sáng tác tiểu thuyết tiếp theo Finnegans Wake, mỗi ngày cả buổi sáng từ 8 giờ sáng đến 12 rưỡi trưa, nghỉ trưa rồi lại ngồi từ 2 đến 8 giờ tối.[284] Tiêu đề tác phẩm không được tiết lộ cho đến khi xuất bản năm 1939 mà thường được gọi bằng cái tên chung là Work in Progress (tác phẩm đang viết). Nếu Ulysses nắm bắt dòng ý thức con người ban ngày, thì Finnegans Wake là câu chuyện về đêm, nơi tiềm thức và giấc mơ xáo trộn quy ước tường thuật. Harriet Weaver là người trao đổi thư từ nhiều với Joyce khi ấy, viết rằng cuốn tiểu thuyết mới không có "chủ đề theo đúng nghĩa của từ này" mà có "cấu trúc phức tạp mờ ám xuất hiện và tái tạo một cách ngẫu nhiên".[285] Phần đầu tiên của tác phẩm phức tạp này được xuất bản trên The Transatlantic Review ngày 1 tháng 4 năm 1924. Các phần khác tiếp tục xuất hiện trên Transition, tạp chí văn học của nhà văn Eugene Jolas và vợ là Maria Jolas. Hai người cổ vũ và khuyến khích Joyce trong bối cảnh phản ứng công chúng khá tiêu cực và The Dial từ chối xuất bản, khiến Joyce thấy mình như "cô gái 19 tuổi lần đầu vào đời".[286] Nội dung Finnegans Wake xoay quanh một gia đình điển hình: người cha Humphrey Chimpden Earwicker (HCE) làm nghề pha chế rượu[287] gốc Scandinavia[288] nhân cách hóa cho thành phố Dublin (do người Viking lập ra); người mẹ Anna Livia Plurabelle (ALP), hiện thân cho dòng nước chảy, tiêu biểu là sông Liffey; hai con trai là nhà văn Shem và người đưa thư Shaun mâu thuẫn nhau như huyền thoại Cain và Abel; con gái út Issy (Isolde) bị HCE có tình cảm loạn luân, được xây dựng theo tính cách Lucia Joyce.[289] Bên cạnh đó là nhân vật tập thể không phân biệt Mamalujo gợi lên Biên niên sử Tứ chúa Ireland Trung cổ, bốn tác giả Tin Mừng (bằng tiếng Anh là Matthew, Mark, Luke, John) hoặc bốn tỉnh của Ireland. Bản chất tuần hoàn của tác phẩm bắt đầu và dừng lại ở cùng một cụm từ (Harriet Weaver so sánh nó với Ouroboros[290]) lấy cảm hứng từ lý thuyết lịch sử lặp lại của Giambattista Vico trong La Scienza Nuova. Một nguồn cảm hứng khác là Phúc Âm Kells. Một số nhà phê bình đương thời đó đã so sánh kỹ thuật ngôn ngữ mà Joyce sử dụng với tác phẩm của Lewis Carroll, đặc biệt là bài thơ vô nghĩa của Jabberwocky trong Alice ở xứ sở gương soi.[291] Joyce nói rằng mình không đọc Carroll, nhưng sự ảnh hưởng này có thể là do khi học opera bằng tiếng Anh.[292]

Văn phong dày đặc, tối nghĩa của tiểu thuyết mới thu hút rất nhiều chỉ trích, ngay cả những người vốn ngưỡng mộ các tác phẩm trước đây như Ezra Pound và Stanislaus Joyce.[293][294] Wyndham Lewis giờ đây cũng không ngừng chỉ trích Joyce với những ngôn từ như "mất trí", "nói lắp" và "không bền".[295] Ngay cả người cung cấp tài chính cho nhà văn, bà Weaver cũng đầy những cảm xúc trái chiều với thử nghiệm mới này: dù rất thích đoạn độc thoại của Anna Livia Plurabelle (I.8) nhưng về tổng thể thì coi tác phẩm chỉ là "sự tò mò lớn về văn học".[296] Đa số những lời này đã xúc phạm và khiến Joyce bị suy nhược trong vài tháng.[297] Coi Weaver là độc giả yêu thích của mình, Joyce gửi lại manh mối ý nghĩa của tác phẩm và đánh bóng những từ ngữ khó hiểu đã dùng.[298] Ngày 27 tháng 5 năm 1929, mười hai nhà văn và bạn thân của Joyce cùng ký vào tập tiểu luận để xuất bản nhằm xua tan vẻ mập mờ văn chương bất thường của Work in Progress. Tựa đề nhại hài hước của tuyển tập này do chính Joyce chọn là Our Exagmination Round His Factification For Incamination Of Work In Progress.[299] Dù thị lực kém, Joyce không từ bỏ những thú vui trí tuệ nho nhỏ. Không thể đọc quá nhiều, Joyce mua một chiếc máy hát và một số đĩa nhạc[300] hoặc nhờ bạn bè như Mary Colum, Sylvia Beach,... đọc giúp.[301] Joyce học tiếng Flemish[302]tiếng Tây Ban Nha qua các bản ghi âm.[303] Joyce liên tục áp dụng lộng ngữ, chơi chữ và thử nghiệm ngôn ngữ cho Finnegans Wake đến mức trở thành nỗi ám ảnh hàng ngày, khiến cho người bạn Frank O’Connor tin rằng ông đã mắc "hội chứng liên kết" (association mania).[301] Tháng 11 năm 1924 và tháng 8 năm 1929, Joyce ghi âm lại giọng mình đọc các đoạn trích chương Aeolus trong (Ulysses) và Anna Livia Plurabelle (Finnegans Wake).[304] Bản ghi âm năm 1929 được thực hiện trong phòng thu của nhà ngôn ngữ học Charles Kay Ogden, Harold Nicolson nhận xét "Anh ấy có giọng tuyệt vời nhất mà tôi từng biết - nhẹ nhàng tinh tế như lời thì thầm dưới nước."[305]

Ngoài việc suy giảm thị lực và thái độ không ủng hộ của độc giả, một loạt các sự kiện khó chịu đã ảnh hưởng đến nhịp độ sáng tác Finnegans Wake cuối thập niên. Tạp chí Two WorldsTwo Worlds Monthly của Samuel Roth đã in lậu Ulysses và các phần Finnegans Wake mà không tôn trọng quyền tác giả của Joyce.[306] Joyce liền kêu gọi quốc tế ngăn chặn sự bất công bằng cách thu thập được 167 chữ ký từ những nhân vật quan trọng như Albert Einstein, Benedetto Croce, Giovanni Gentile, Hugo von Hofmannsthal, Luigi Pirandello, các nhà phê bình Virginia Woolf, Wyndham LewisD. H. Lawrence.[307] Vụ này không được tòa xử cho đến cuối năm 1928.[308] Mùa xuân năm 1927, kỳ nghỉ ngắn ngày của Joyce trên bờ biển Hà Lan bị thời tiết xấu phá hỏng và trở nên ác mộng khi Joyce bị chó tấn công giống như thuở nhỏ.[309] Cùng năm đó, tập thơ thứ hai Pomes Penyeach ra đời nhưng các nhà phê bình thờ ơ đón nhận. Tháng 11 năm 1926, chồng Eileen là Frantisek Schaurek tự sát vì vấn đề tài chính[310] và tháng 9 năm 1928, Italo Svevo qua đời vì một cơn đau tim. [311] Cũng trong năm 1928, Nora Barnacle phải nhập viện phẫu thuật vì nghi ngờ mắc ung thư.[312] Nhưng tồi tệ nhất chắc chắn là cái chết của người cha ngày 29 tháng 12 năm 1931, Joyce cảm giác tội lỗi nặng nề vì đã gần 20 năm không hề thăm ông.[313] Trong sự trầm uất lạ lùng, Joyce đặt tên cho các ngày trong tuần theo cách rất bi thương: Monday (thứ Hai) thành Moansday (ngày than khóc), Tuesday (thứ Ba) thành Tearsday (ngày nước mắt), Wednesday (thứ Tư) thành Wailsday (ngày kêu khóc), Thursday (thứ Năm) thành Thumpsday (ngày thổn thức), Friday (thứ Sáu) thành Frightday (ngày hãi hùng), Saturday (thứ Bảy) thành Shatterday (ngày vỡ nát).[314] Giữa những xáo trộn và trở ngại đó, Joyce cho rằng mình sẽ không bao giờ hoàn thành nổi Work in Progress, thậm chí còn có ý định giao tác phẩm cho nhà văn James Stephens mà chỉ quen biết mơ hồ. Cách thức này dường như dựa trên một số trùng hợp "ngẫu nhiên": tên James Stephens dường như hợp nhất với Stephen Dedalus do Joyce sáng tạo ra, Joyce còn nhầm tưởng Stephens cũng sinh ngày 2 tháng 2. Cuối cùng điều này cũng không xảy ra.[315]

 
Chân dung John Stanislaus Joyce, cha của James Joyce, do Patrick Tuohy vẽ năm 1923.

Vì "lý do thừa kế"[316] đảm bảo quyền lợi hợp pháp của con cái, Joyce chính thức kết hôn với Nora Barnacle tại một văn phòng đăng ký hộ tịch ở Luân Đôn ngày 4 tháng 7 năm 1931.[294] Dù dự định định cư lâu dài tại thủ đô nước Anh vào đầu hè, nhưng Joyce lại rời Kensington khi thu đến,[317] vì Paris cuốn hút.[318] Ngày 10 tháng 12 năm 1930, Giorgio cưới Helen Kastor Fleischman người Mỹ gốc Do Thái từng ly hôn.[319] Ngày 15 tháng 2 năm 1932, họ sinh con đầu (và duy nhất) tên là Stephen James Joyce.[320] Nhà văn ghi lại hai dấu mốc quan trọng đời mình - cha chết và cháu chào đời - thành những câu thơ bất tử Ecce Puer (1932):

A child is sleeping:
An old man gone.
O, father forsaken,
Forgive your son!
Trẻ thơ đang ngủ,
Ông cụ qua đi.
Ôi, cha từ bỏ,
Tha thứ con mình!
Ecce Puer (1932) Ecce Puer (1932)

Câu này trùng hợp với lời sau cuối của John Stanislaus "Jim không bao giờ quên tôi".[321]

Trong khi đó, Lucia Joyce luôn phải chịu áp lực phải bước ra khỏi cái bóng của người cha nổi tiếng khi đến tuổi trưởng thành.[322] Năm 1929, sau một tháng "khóc", Lucia quyết định từ bỏ nhảy múa dù đã có thành công ban đầu khi chiến thắng cuộc thi Bal Bullier.[236] Đam mê nghệ thuật thị giác, Lucia tham gia các lớp học vẽ, nhờ đó sau này trang trí chữ cái viết tắt cách điệu cho tập thơ A Chaucer ABC[321] của Geoffrey ChaucerPoems Penyeach.[323] Bị chàng trai trẻ Samuel Beckett thu hút đầy ám ảnh,[324] hai người bắt đầu hẹn hò vào năm 1930, nhưng hành vi kỳ lạ, lo lắng, bất an của Lucia cũng như sự can thiệp của Nora đã đẩy Beckett ra xa.[325] Beckett nói rõ rằng mình quan tâm đến Lucia chủ yếu vẫn là do cha cô, khiến Lucia cảm thấy bị từ chối.[326]

Tác phẩm tiêu biểuSửa đổi

 
Dubliners, 1914
 
James Joyce trên tờ tiền giấy £10 Ailen

Dubliners - Người Dublin

Kinh nghiệm Ailen của Joyce tạo thành một phần tử tinh tế trong các tác phẩm của ông và cung cấp nền tảng cho trí tượng tượng của ông và rất nhiều các vấn đề chủ thể. Tập truyện ngắn trong ấn bản đầu tay Dubliners đã tập trung phân tích sự đình trệ và sự tê liệt của xã hội Dublin. Các câu truyện kết hợp chặt chẽ The stories incorporate sự hiện thân, một từ được sử dụng riêng bởi Joyce, với ý nghĩa là ý thức bất chợt của "tâm hồn" một thứ gì đó. Câu truyện cuối cùng và nổi tiếng nhất trong tập truyện, "Cái chết", được John Huston đạo diễn như là phim đặc trưng cuối cùng của ông vào năm 1987.

Di sảnSửa đổi

 
Biểu tượng của cuộc ngao du James Joyce năm 2006

Tiểu sửSửa đổi

 
Tượng bán thân James Joyce trong vườn St. Stephen, Dublin

Tác phẩmSửa đổi

  • Stephen Hero (Người hùng Stephen, 1904 - 1946), tiểu thuyết xuất bản 1944
  • Chamber Music (Nhạc thính phòng, 1907), tập thơ
  • Giacomo Joyce (1907), tập thơ
  • Dubliners (1914), tập truyện ngắn
  • A Portrait of the Artist as a Young Man (1916), tiểu thuyết
  • Exiles (1918), kịch
  • Ulysses (1922), tiểu thuyết
  • Pomes Penyeach (Thơ một xu một bài, 1927), tập thơ
  • Collected Poems (Tuyển tập thơ, 1936), tập thơ
  • Finnegans Wake (1939), tiểu thuyết
  • The Cat and the Devil (Con mèo và ác quỷ, 1965), tập truyện ngắn
  • The Cats of Copenhagen (Những con mèo Copenhagen, 2012), tập truyện ngắn

Xem thêmSửa đổi

Nhạc thính phòng (Chamber Music, 1907)

Thơ một xu một bài (Poems Pennyeach, 1927

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Nguyên văn: Him Which Thundereth From On High
  2. ^ Nguyên văn: a boy with a plethora of ideas in his head[66]
  3. ^ Joyce vẫn nhớ rất lâu sau cái chết của Parnell. Năm 1897, Joyce đeo vòng thường xuân quanh cổ để tưởng niệm Parnell, coi như cố vấn chính trị của mình.[86]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Gibson 2006, tr. 22.
  2. ^ Bowker 2011, tr. 22.
  3. ^ Gibson 2006, tr. 23.
  4. ^ Arndt, Melanie, “Joyce's Hero Mythicized: Charles Stewart Parnell” [Người hùng được thần thoại hóa của Joyce: Charles Stewart Parnell], The Modern Word (bằng tiếng Anh), Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 8 năm 2000
  5. ^ a b Bowker 2011, tr. 21.
  6. ^ Gibson 2006, tr. 28.
  7. ^ Bowker 2011, tr. 11.
  8. ^ Ellmann 1983, tr. 12.
  9. ^ a b Bowker 2011, tr. 13.
  10. ^ Bowker 2011, tr. 14.
  11. ^ Ellmann 1983, tr. 15.
  12. ^ a b Bowker 2011, tr. 15.
  13. ^ Ellmann 1983, tr. 15-16.
  14. ^ Ellmann 1983, tr. 22-23.
  15. ^ a b Ellmann 1983, tr. 22.
  16. ^ Bowker 2011, tr. 15-16.
  17. ^ Joyce 1916, tr. 284.
  18. ^ Joyce 2005, V-7.
  19. ^ Ellmann 1983, tr. 19.
  20. ^ Bowker 2011, tr. 17.
  21. ^ Gibson 2006, tr. 23-24.
  22. ^ a b Bowker 2011, tr. 18.
  23. ^ Poplawski 2003, tr. 217.
  24. ^ Costello 1992, tr. 62-63.
  25. ^ Costello 1992, tr. 53.
  26. ^ Ellmann 1983, tr. 24.
  27. ^ Bowker 2011, tr. 26-27.
  28. ^ Bowker 2011, tr. 24.
  29. ^ Bowker 2011, tr. 25.
  30. ^ a b Ellmann 1983, tr. 25.
  31. ^ Joyce 1916, tr. 2.
  32. ^ Joyce 2005, III-4.
  33. ^ Bowker 2011, tr. 28.
  34. ^ Costello 1992, tr. 70.
  35. ^ Ellmann 1983, tr. 26.
  36. ^ Hogan 1995, tr. 73.
  37. ^ Bowker 2011, tr. 30.
  38. ^ Costello 1992, tr. 75.
  39. ^ Costello 1992, tr. 77.
  40. ^ a b Bowker 2011, tr. 32.
  41. ^ a b Ellmann 1983, tr. 29.
  42. ^ Bowker 2011, tr. 33.
  43. ^ a b Ellmann 1983, tr. 30.
  44. ^ Bowker 2011, tr. 35.
  45. ^ Costello 1992, tr. 81.
  46. ^ Joyce 1916, tr. 3.
  47. ^ Joyce 2005, I-1.
  48. ^ Costello 1992, tr. 79.
  49. ^ Costello 1992, tr. 82.
  50. ^ Bowker 2011, tr. 34.
  51. ^ Bowker 2011, tr. 39.
  52. ^ Costello 1992, tr. 101-102.
  53. ^ Costello 1992, tr. 103.
  54. ^ Ellmann 1983, tr. 33.
  55. ^ Costello 1992, tr. 108-112.
  56. ^ Bowker 2011, tr. 41.
  57. ^ Ellmann 1983, tr. 41.
  58. ^ Ellmann 1983, tr. 34.
  59. ^ Ellmann 1983, tr. 35, 39, 42.
  60. ^ Ellmann 1983, tr. 34-35.
  61. ^ Bowker 2011, tr. 42.
  62. ^ Bowker 2011, tr. 43.
  63. ^ Costello 1992, tr. 120.
  64. ^ Ellmann 1983, tr. 35.
  65. ^ Costello 1992, tr. 121.
  66. ^ Ellmann 1983, tr. 36.
  67. ^ Bowker 2011, tr. 46.
  68. ^ Ellmann 1983, tr. 47.
  69. ^ Ellmann 1983, tr. 40.
  70. ^ Bowker 2011, tr. 54.
  71. ^ a b Ellmann 1983, tr. 50.
  72. ^ Costello 1992, tr. 145.
  73. ^ Ellmann 1983, tr. 47-48.
  74. ^ Bowker 2011, tr. 53.
  75. ^ Joyce 1916, tr. 171.
  76. ^ Joyce 2005, IV-1.
  77. ^ Ellmann 1983, tr. 55.
  78. ^ Joyce 1916, tr. 200.
  79. ^ a b Costello 1992, tr. 159.
  80. ^ a b Bowker 2011, tr. 61.
  81. ^ Ellmann 1983, tr. 78.
  82. ^ Ellmann 1983, tr. 83.
  83. ^ Ellmann 1983, tr. 79.
  84. ^ “James Joyce Dies; Wrote 'Ulysses' [James Joyce, tác giả Ulysses, qua đời], The New York Times (bằng tiếng Anh), ngày 13 tháng 1 năm 1941, lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 5 năm 2021, truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2021
  85. ^ Costello 1992, tr. 164-166.
  86. ^ Gibson 2006, tr. 31.
  87. ^ Gibson 2006, tr. 43.
  88. ^ Bowker 2011, tr. 66-67.
  89. ^ Ellmann 1983, tr. 69.
  90. ^ Costello 1992, tr. 174.
  91. ^ Bowker 2011, tr. 80, 85.
  92. ^ Bowker 2011, tr. 82.
  93. ^ Bowker 2011, tr. 86.
  94. ^ Bowker 2011, tr. 87.
  95. ^ “On 3 November 1902 Joyce was invited to dine with Yeats and Lady Gregory” [Ngày 3 tháng 11 năm 1902, Joyce được mời dùng bữa với Yeats và Lady Gregory], The James Joyce Centre Dublin (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 10 năm 2020, truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2021
  96. ^ Ellmann 1983, tr. 89, 104.
  97. ^ Bowker 2011, tr. 88.
  98. ^ Bowker 2011, tr. 95.
  99. ^ Bowker 2011, tr. 102.
  100. ^ Ellmann 1983, tr. 113.
  101. ^ Bowker 2011, tr. 105.
  102. ^ Costello 1992, tr. 203.
  103. ^ Bowker 2011, tr. 104.
  104. ^ Ellmann 1983, tr. 126.
  105. ^ Costello 1992, tr. 208.
  106. ^ Ellmann 1983, tr. 129.
  107. ^ Costello 1992, tr. 210.
  108. ^ Bowker 2011, tr. 108.
  109. ^ Ellmann 1983, tr. 136.
  110. ^ Costello 1992, tr. 212.
  111. ^ Bowker 2011, tr. 112.
  112. ^ Bowker 2011, tr. 124.
  113. ^ Ellmann 1983, tr. 161-162.
  114. ^ Ellmann 1983, tr. 161.
  115. ^ Joyce 1922, tr. 208-209.
  116. ^ Bowker 2011, tr. 114.
  117. ^ Ellmann 1983, tr. 144.
  118. ^ Bowker 2011, tr. 121.
  119. ^ Ellmann 1983, tr. 156.
  120. ^ Bowker 2011, tr. 116.
  121. ^ Bowker 2011, tr. 119.
  122. ^ Ellmann 1983, tr. 151.
  123. ^ Costello 1992, tr. 229.
  124. ^ Bowker 2011, tr. 130.
  125. ^ Bowker 2011, tr. 132-133.
  126. ^ McCourt 2000, tr. 7.
  127. ^ Ellmann 1983, tr. 184.
  128. ^ Bowker 2011, tr. 135.
  129. ^ McCourt 2000, tr. 9.
  130. ^ Bowker 2011, tr. 138.
  131. ^ McCourt 2000, tr. 12-13.
  132. ^ Bowker 2011, tr. 139.
  133. ^ McCourt 2000, tr. 23.
  134. ^ Bowker 2011, tr. 142.
  135. ^ McCourt 2000, tr. 86.
  136. ^ a b McCourt 2000, tr. 27.
  137. ^ Mangiafico, Luciano, “Thinking God Knows What: James Joyce and Trieste” [Ngẫm rằng Chúa biết: James Joyce và Trieste], Open Letters Monthly (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2021
  138. ^ McCourt 2000, tr. 34.
  139. ^ McCourt 2000, tr. 62-63.
  140. ^ McCourt 2000, tr. 72.
  141. ^ McCourt 2000, tr. 58-60.
  142. ^ Eco 1966, tr. 12.
  143. ^ McCourt 2000, tr. 41-46.
  144. ^ Joyce 1922, tr. 731-732.
  145. ^ McCourt 2000, tr. 51.
  146. ^ McCourt 2000, tr. 52-53.
  147. ^ a b McCourt 2000, tr. 36-37.
  148. ^ Joyce 1939, tr. 416-417.
  149. ^ McCourt 2000, tr. 37-38.
  150. ^ McCourt 2000, tr. 39-40.
  151. ^ Ellmann 1983, tr. 213.
  152. ^ Ellmann 1983, tr. 312.
  153. ^ McCourt 2000, tr. 78.
  154. ^ McCourt 2000, tr. 85.
  155. ^ a b Ellmann 1983, tr. 262.
  156. ^ McCourt 2000, tr. 121.
  157. ^ McCourt 2000, tr. 113-120.
  158. ^ Cixous 1976, tr. 450.
  159. ^ McCourt 2000, tr. 124.
  160. ^ Ellmann 1983, tr. 154.
  161. ^ Bowker 2011, tr. 172.
  162. ^ Ellmann 1983, tr. 276.
  163. ^ Ellmann 1983, tr. 280.
  164. ^ McCourt 2000, tr. 138.
  165. ^ Ellmann 1983, tr. 291.
  166. ^ Ellmann 1983, tr. 300.
  167. ^ a b Bowker 2011, tr. 193.
  168. ^ Bowker 2011, tr. 192.
  169. ^ McCourt 2000, tr. 190.
  170. ^ McCourt 2000, tr. 143.
  171. ^ McCourt 2000, tr. 147.
  172. ^ Bowker 2011, tr. 168.
  173. ^ Bowker 2011, tr. 198.
  174. ^ Ellmann 1983, tr. 318-319.
  175. ^ McCourt 2000, tr. 171.
  176. ^ Bowker 2011, tr. 197.
  177. ^ Costello 1992, tr. 294.
  178. ^ Bowker 2011, tr. 199.
  179. ^ Shenkar, Israel (ngày 19 tháng 9 năm 1975), “Unpublished Work By Joyce Is Found” [Tìm thấy tác phẩm chưa xuất bản của Joyce], New York Times (bằng tiếng Anh), truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2021
  180. ^ Bowker 2011, tr. 200.
  181. ^ Bowker 2011, tr. 201.
  182. ^ Joyce 2018, tr. 31.
  183. ^ Mullin 2003, tr. 28.
  184. ^ Gibson 2006, tr. 92.
  185. ^ McCourt 2000, tr. 186-187.
  186. ^ Bowker 2011, tr. 204-206.
  187. ^ Ellmann 1983, tr. 338.
  188. ^ Bowker 2011, tr. 207.
  189. ^ Ellmann 1983, tr. 339.
  190. ^ Bowker 2011, tr. 214.
  191. ^ Ellmann 1983, tr. 342.
  192. ^ Gibson 2006, tr. 66.
  193. ^ Pound 1967, tr. 17-18.
  194. ^ Ellmann 1983, tr. 349.
  195. ^ Ellmann 1983, tr. 350.
  196. ^ Bowker 2011, tr. 212-213.
  197. ^ Dettmar 1996, tr. 103.
  198. ^ Ellmann 1983, tr. 380.
  199. ^ Bowker 2011, tr. 214-215.
  200. ^ Bowker 2011, tr. 219.
  201. ^ Ellmann 1983, tr. 409.
  202. ^ Gibson 2006, tr. 115.
  203. ^ Ellmann 1983, tr. 422.
  204. ^ Bowker 2011, tr. 226.
  205. ^ Ellmann 1983, tr. 412.
  206. ^ Meija, Jay (ngày 6 tháng 10 năm 2002), “James Joyce”, Literary Kicks (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2021, truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2021
  207. ^ a b Bowker 2011, tr. 232.
  208. ^ Ellmann 1983, tr. 418-419.
  209. ^ Bowker 2011, tr. 240.
  210. ^ Ellmann 1983, tr. 417.
  211. ^ O'Connor, Nuala (ngày 18 tháng 4 năm 2021), “The erotic, sensual love of Nora and her James” [Tình yêu khêu gợi, nhục dục của Nora và James], Independent.ie (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 4 năm 2021, truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2021
  212. ^ Ellmann 1983, tr. 397.
  213. ^ Bowker 2011, tr. 250.
  214. ^ Ellmann 1983, tr. 416-417.
  215. ^ Crispi, Luca, A Chronological List of Extant Ulysses Manuscripts and Typescripts [Danh sách bản thảo viết tay và đánh máy còn tồn tại của Ulysses theo thứ tự thời gian], UCD James Joyce Research Centre, Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2013
  216. ^ Bowker 2011, tr. 242.
  217. ^ Bowker 2011, tr. 262.
  218. ^ Bowker 2011, tr. 261-262.
  219. ^ Ellmann 1983, tr. 443.
  220. ^ Ellmann 1983, tr. 411.
  221. ^ Gibson 2006, tr. 111.
  222. ^ Bowker 2011, tr. 248.
  223. ^ O'Brien, Edna (ngày 29 tháng 7 năm 2006), “The ogre of betrayal” [Yêu tinh phản bội], The Guardian (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2021, truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2021
  224. ^ Stoppard 1974, tr. ix-x.
  225. ^ Ellmann 1983, tr. 427.
  226. ^ Gibson 2006, tr. 116.
  227. ^ Attridge 1997, tr. 253.
  228. ^ Bowker 2011, tr. 259.
  229. ^ Ellmann 1983, tr. 471.
  230. ^ Bowker 2011, tr. 270.
  231. ^ Bowker 2011, tr. 273.
  232. ^ Ellmann 1983, tr. 479.
  233. ^ Bowker 2011, tr. 283.
  234. ^ a b Ellmann 1983, tr. 485.
  235. ^ Bowker 2011, tr. 317.
  236. ^ a b Ellmann 1983, tr. 612.
  237. ^ Fennell 2011, tr. 27.
  238. ^ Bloom 2009, tr. 54.
  239. ^ a b Bloom 2009, tr. 55.
  240. ^ Ellmann 1983, tr. 499.
  241. ^ “Arthur Power”, Irish Paris (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2021, truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2022
  242. ^ Ellmann 1983, tr. 557.
  243. ^ Bowker 2011, tr. 287.
  244. ^ Lewis 1967, tr. 266.
  245. ^ Ellmann 1983, tr. 492.
  246. ^ Lewis 1967, tr. 267.
  247. ^ Bowker 2011, tr. 310.
  248. ^ Davenport-Hines 2006, tr. 39-42.
  249. ^ Bowker 2011, tr. 298.
  250. ^ Gilbert 1957, tr. 279.
  251. ^ Bowker 2011, tr. 383-384.
  252. ^ Mike Springer, “James Joyce, With His Eyesight Failing, Draws a Sketch of Leopold Bloom (1926)” [James Joyce hỏng mắt vẽ ký họa Leopold Bloom], Open Culture (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2021, truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2022
  253. ^ Bowker 2011, tr. 286.
  254. ^ Bowker 2011, tr. 287-288.
  255. ^ Bowker 2011, tr. 290.
  256. ^ Ellmann 1983, tr. 500.
  257. ^ Ellmann 1983, tr. 512.
  258. ^ Gilbert 1957, tr. 167.
  259. ^ Ellmann 1983, tr. 506.
  260. ^ Bowker 2011, tr. 295.
  261. ^ Bloom 2009, tr. 57.
  262. ^ Bloom 2009, tr. 76.
  263. ^ Ellmann 1983, tr. 530-531.
  264. ^ Eliot 1975, tr. 175.
  265. ^ a b Bowker 2011, tr. 308.
  266. ^ Lynn 1988, tr. 161.
  267. ^ Bowker 2011, tr. 307.
  268. ^ Woolf 1980, tr. 188-189.
  269. ^ Bowker 2011, tr. 305-306.
  270. ^ Ellmann 1983, tr. 666-667.
  271. ^ Bowker 2011, tr. 302.
  272. ^ Bowker 2011, tr. 314.
  273. ^ Ellmann 1983, tr. 535.
  274. ^ Bowker 2011, tr. 309.
  275. ^ Bowker 2011, tr. 320.
  276. ^ Norburn 2004, tr. 109.
  277. ^ Bowker 2011, tr. 339-340.
  278. ^ Bloom 2009, tr. 56.
  279. ^ Norburn 2004, tr. 110.
  280. ^ Bowker 2011, tr. 318.
  281. ^ Crispi & Slote 2007, tr. 8.
  282. ^ Ellmann 1983, tr. 559-560.
  283. ^ Bowker 2011, tr. 378.
  284. ^ Bowker 2011, tr. 328.
  285. ^ Bowker 2011, tr. 352.
  286. ^ Gilbert 1957, tr. 243.
  287. ^ Bloom 2009, tr. 80.
  288. ^ Bishop 1986, tr. 135.
  289. ^ Shelton 1999, tr. 203-221.
  290. ^ Bowker 2011, tr. 356-357.
  291. ^ Bowker 2011, tr. 388.
  292. ^ Gilbert 1957, tr. 254-255.
  293. ^ Ellmann 1983, tr. 591.
  294. ^ a b Fargnoli & Gillespie 1995, tr. 121.
  295. ^ Bowker 2011, tr. 351.
  296. ^ Ellmann 1983, tr. 599.
  297. ^ Bowker 2011, tr. 368.
  298. ^ Gilbert 1957, tr. 247-248, 270-274.
  299. ^ Goldwasser 1979, tr. 219-222.
  300. ^ Bowker 2011, tr. 342.
  301. ^ a b Bowker 2011, tr. 350.
  302. ^ Gilbert 1957, tr. 245.
  303. ^ Bowker 2011, tr. 379.
  304. ^ “James Joyce reading his work (1924/1929)” [James Joyce đọc tác phẩm mình (1924/1929)], The Public Domain Review (bằng tiếng Anh), lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 12 năm 2021, truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2022
  305. ^ Bowker 2011, tr. 389.
  306. ^ Bowker 2011, tr. 353.
  307. ^ Ellmann 1983, tr. 586.
  308. ^ Bowker 2011, tr. 381.
  309. ^ Bowker 2011, tr. 365.
  310. ^ Ellmann 1983, tr. 585.
  311. ^ Bowker 2011, tr. 376.
  312. ^ Ellmann 1983, tr. 607.
  313. ^ Jackson & Costello 1997, tr. 4.
  314. ^ Ellmann 1983, tr. 644.
  315. ^ Finneran 1974, tr. 284-286.
  316. ^ Bowker 2011, tr. 419.
  317. ^ Ellmann 1983, tr. 637.
  318. ^ Bowker 2011, tr. 424.
  319. ^ Ellmann 1983, tr. 631.
  320. ^ Bowker 2011, tr. 432.
  321. ^ a b Bowker 2011, tr. 429.
  322. ^ Bowker 2011, tr. 327.
  323. ^ Shloss 2003, tr. 210.
  324. ^ Bowker 2011, tr. 384-385.
  325. ^ Bowker 2011, tr. 400.
  326. ^ Vanessa Thorpe (ngày 21 tháng 2 năm 2010), “Alone at the end: the tragic muse who inspired James Joyce” [Cô đơn khúc cuối: nàng thơ bi kịch truyền cảm hứng cho James Joyce], The Guardian, lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2021, truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2022

Thư mụcSửa đổi

  • Joyce, James (1916), A Portrait of the Artist as a Young Man (bằng tiếng Anh), London: Egoist
  • —— (1922), Ulysses (bằng tiếng Anh), London: Egoist
  • —— (1939), Finnegans Wake (bằng tiếng Anh), London: Faber & Faber Limited
  • —— (2005), Chân dung một chàng trai trẻ, Nguyễn Thế Vinh biên dịch, Tựa gốc A Portrait of the Artist as a Young Man, Nhà xuất bản Thế giới
  • —— (2018), Dân Dublin, Thiên Lương biên dịch, Tựa gốc Dubliners, Hà Nội: Nhà xuất bản Văn học, ISBN 978-604-969-938-2

Tiểu sử

Chung

  • Attridge, Derek biên tập (1997), The Cambridge companion to James Joyce [Đồng hành với James Joyce của Cambridge] (bằng tiếng Anh), Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0521376734
  • Bishop, John (1986), Joyce's Book of the Dark: Finnegans Wake [Cuốn sách đen tối của Joyce: Finnegans Wake] (bằng tiếng Anh), Madison, Wisconsin: University of Wisconsin Press
  • Cixous, Hélène (1976), The Exile of James Joyce [Sự tha hương của James Joyce] (bằng tiếng Anh), Sally A. J. Purcell; John Calder biên dịch, tựa gốc tiếng Pháp L'Exil de James Joyce 1968, London
  • Crispi, Luca; Slote, Sam (2007), How Joyce Wrote Finnegans Wake: A Chapter-by-chapter Genetic Guide [Joyce viết Finnegans Wake như thế nào: Hướng dẫn chi tiết từng chương] (bằng tiếng Anh), University of Wisconsin Press
  • Davenport-Hines, Richard P. T. (2006), Proust at the Majestic [Proust tại Majestic] (bằng tiếng Anh), New York: Bloomsbury, ISBN 9781582344713
  • Dettmar, Kevin J. H. (1996), The Illicit Joyce of Postmodernism: Reading Against the Grain [Chủ nghĩa hậu hiện đại của Joyce bất chánh] (bằng tiếng Anh), Madison, Wisconsin: Univ. of Wisconsin Press, ISBN 9780299150648
  • Eco, Umberto (1966), Le Poetiche di Joyce [Chất thơ của Joyce] (bằng tiếng Italy), Milano: Bompiani Editore
  • —— (1982), The Aesthetics of Chaosmos : The Middle Ages of James Joyce (bằng tiếng Anh), Esrock, Ellen biên dịch, Tựa gốc tiếng Ý Le Poetiche di Joyce, University of Tulsa, OCLC 644475452
  • Eliot, Thomas Stearns (1975), Kermode, Frank (biên tập), Selected prose of T.S. Eliot [Văn tuyển T. S. Eliot] (bằng tiếng Anh), New York: Harcourt Brace Jovanovich
  • Gilbert, Stuart biên tập (1957), Letters of James Joyce [Thư của James Joyce] (bằng tiếng Anh), New York: Viking Press
  • Hogan, Patrick Colm (1995), Joyce, Milton, and the Theory of Influence [Joyce, Milton và thuyết ảnh hưởng] (bằng tiếng Anh), Gainesville, Florida: University Press of Florida, ISBN 9780813014050
  • Jackson, John Wyse; Costello, Peter (1997), John Stanislaus Joyce: The Voluminous Life and Genius of James Joyce's Father [John Stanislaus Joyce: Cuộc đời rực rỡ và thiên tài của cha James Joyce] (bằng tiếng Anh), Fourth Estate, ISBN 9781857024173
  • Lewis, Wyndham (1967), Blasting & Bombardiering [Nổ & bắn] (bằng tiếng Anh), London: Calder & Boyars, ISBN 9780714501307
  • Lynn, Kenneth Schuyler (1988), Hemingway (bằng tiếng Anh), New York: Ballantine Books
  • Mullin, Katherine (2003), James Joyce, Sexuality and Social Purity [James Joyce, tình dục và thanh sạch xã hội] (bằng tiếng Anh), Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 9780521827515
  • Poplawski, Paul (2003), Encyclopedia of Literary Modernism [Bách khoa toàn thư văn học tân thời] (bằng tiếng Anh), Westport, Connecticut: Greenwood Press, ISBN 9780313310171
  • Pound, Ezra (1967), Read, Forrest (biên tập), Pound/Joyce; the Letters of Ezra Pound to James Joyce: With Pound's Essays on Joyce [Pound/Joyce; thư Ezra Pound gửi James Joyce: Với luận của Pound về Joyce] (bằng tiếng Anh), New Directions Publishing, ISBN 9780811201599
  • Stoppard, Tom (1974), Travesties [Đùa nhại] (bằng tiếng Anh), New York: Grove Press
  • Woolf, Virginia (1980), The Diary of Virginia Woolf [Nhật ký Virginia Woolf] (bằng tiếng Anh), 2, New York: Harcourt Brace Jovanovich, ISBN 0156260379

Tạp chíSửa đổi

  • Finneran, Richard J. (1974). “James Joyce and James Stephens: The Record of a Friendship with Unpublished Letters from Joyce to Stephens” [James Joyce và James Stephens: Ghi chép về tình bạn với những bức thư không công bố của Joyce gửi Stephens]. James Joyce Quarterly (bằng tiếng Anh). University of Tulsa. 11 (3).
  • Shelton, Jen (1999). “Issy's Footnote: Disruptive Narrative and the Discursive Structure of Incest in Finnegans Wake” [Chú thích cuối trang của Issy: Tường thuật gây rối và cấu trúc gián đoạn của loạn luân trong Finnegans Wake]. ELH - English Literary History (bằng tiếng Anh). The Johns Hopkins University Press. 66 (1). JSTOR 30032068.
  • Goldwasser, Thomas A. (1979). “Who Was Vladimir Dixon? Was He Vladimir Dixon?” [Vladimir Dixon là ai? Anh ta có phải là Vladimir Dixon không?]. James Joyce Quarterly (bằng tiếng Anh). University of Tulsa. 16 (3).

Liên kết ngoàiSửa đổi