Thời đại Khám phá

(đổi hướng từ Thời đại khám phá)
Tấm bản đồ Juan de la Cosa năm 1500, hình minh họa sớm nhất không tranh cãi về châu Mỹ.
Bảo tàng Hàng hải Madrid, Madrid, Tây Ban Nha.
Bình đồ địa cầu Cantino năm 1502, tấm bản đồ sớm nhất cho thấy khám phá của Columbus ở Trung Mỹ, Corte-Real tới Newfoundland, Gama tới India và Cabral tới Brazil. Đường kẻ Tordesillas là đường bên trái.
Biblioteca Estense, Modena, Ý.

Thời đại Khám phá hay Thời đại Khai phá là cách gọi thông thường về những khám phá địa lý đạt được trong khoảng giữa thế kỷ XVthế kỷ XVI, đặc biệt là sự kiện: dong thuyền vượt Mũi Hảo Vọng của Bartolomeu Diaz vào năm 1488, Cristoforo Colombo phát hiện châu Mỹ vào năm 1492, rồi sau đó là công cuộc thuọc địa hóa nó, hành trình của Vasco da Gama đến Ấn Độ vào năm 1498 và hành trình vòng quanh Trái Đất của Fernão de Magalhães giữa những năm 1519-1522. Những cột mốc lịch sử này đã tiên phong cho một loạt các cuộc thám hiểm sau đó, để rồi mở mang thêm cái gọi là chân trời địa lý của châu Âu.

Các cuộc viễn chinh này của người châu Âu dẫn dẫn đến sự trỗi dậy của thương mại toàn cầu và các đế quốc thực dân châu Âu. Từ sự liên hệ giữa Cựu Thế giới (Châu Âu, Châu Á và Châu Phi) và Tân Thế giới (Châu Mỹ và Úc) mà tạo nên tuyến mậu dịch Columbia, trao đổi các loài thực vật, động vật, thực phẩm, quần thể người (bao gồm cả nô lệ), bệnh truyền nhiễm và văn hóa giữa bán cầu Đông và Tây. Các khám phá trong thời đại này và sau đó giúp ta có hoàn thiện bản đồ thế giới. Từ đó, một thế giới quan mới nảy sinh và các nền văn minh xa xôi tiếp xúc, tuy vậy, nó cũng dẫn đến sự lan truyền của những dịch bệnh làm suy giảm dân số và sự bóc lột, chinh phục quân sự và thống trị kinh tế của châu  đối với nhiều dân cư bản địa. Nó cũng cho phép sự mở rộng của Kitô giáo trên toàn thế giới: các hoạt động truyền giáo, cuối cùng khiến nó trở thành tôn giáo lớn nhất thế giới.

Tổng quanSửa đổi

 
Bản đồ với các chuyến đi chính của thời đại khám phá. Xem chi tiết trong bảng có thể mở rộng:

Người Bồ Đào Nha đã bắt đầu khám phá bờ Đại Tây Dương từ năm 1418, dưới sự bảo trợ của Hoàng tử Henry. Loại thuyền nhẹ, linh hoạt và chống chọi được gió được phát triển dưới thời của ông[1]. Năm 1488, Bartolomeu Dias đến được Ấn Độ Dương bằng tuyến đường này[2]. Năm 1492 các Vua của Ca-tô của Castile và Aragon tài trợ cho kế hoạch của Christopher Columbus để đi về phía tây để đến Ấn Độ bằng cách băng qua Đại Tây Dương. Ông thay vào đó đáp xuống một lục địa chưa được khám phá gọi là châu Mỹ. Để tránh mâu thuẫn giữa Bồ Đào Nha và Castile (vương quốc mà Colombo phụng sự), Hiệp ước Tordesillas được ký kết, chia đôi thế giới giữa hai cường quốc[3][4].

Năm 1498, một cuộc thám hiểm Bồ Đào Nha do Vasco da Gama chỉ huy đến Ấn Độ bằng cách đi vòng quanh Châu Phi, mở cửa thương mại trực tiếp với châu Á [5]. Trong khi các đoàn tàu thám hiểm khác đã được gửi từ Bồ Đào Nha sang Bắc Mỹ, trong những năm tiếp theo, Hạm đội Bồ Ấn cũng mở rộng tuyến đường về phía đông, tới tận Nam Mỹ và góp phần liên kết Tân Thế giới trực tiếp với Cựu thế giới (bắt đầu từ năm 1500, Pedro Alvares Cabral), và khám phá các hòn đảo Nam Đại Tây Dương và Nam Ấn Độ Dương. Chẳng bao lâu, người Bồ Đào Nha đi thuyền về phía đông, tới Quần đảo Gia Vị trù phú năm 1512, cập bến tại Trung Quốc một năm sau đó. Năm 1513, Vasco Núñez de Balboa của Tây Ban Nha vượt eo Panama và phát hiện "biển khác" từ Thế giới Mới. Cuộc khai phá về phía Đông và Tây tụ họp vào năm 1522, khi cuộc thám hiểm của Castile (Tây Ban Nha) do thuyền trưởng người Bồ Đào Nha Ferdinand Magellan và sau đó là Sebastián Elcano về phía tây hoàn thành chuyến đi đầu tiên vòng quanh thế giới[6], trong khi các conquistador Tây Ban Nha thâm nhập sâu hơn vào nội địa châu Mỹ, và một số hòn đảo ở Nam Thái Bình Dương.

Từ năm 1495, người Pháp, người Anh và người Hà Lan cũng vào cuộc khi nghe tin những khám phá thú vị và béo bở này, thách thức độc quyền của Iberia về thương mại hàng hải bằng cách tìm kiếm các hải tuyến mới. Bắt đầy bằng những cuộc khai phá sâu vào Bắc Mỹ (cuộc thám hiểm đầu tiên của John Cabot năm 1497 ở phía bắc, phụng sự Anh Quốc, tiếp đó là các cuộc thám hiểm của Pháp tới Nam Mỹ và sau đó đến Bắc Mỹ) và vào Thái Bình Dương quanh Nam Mỹ. Họ cũng theo chân người Bồ Đào Nha vòng qua Châu Phi vào Ấn Độ Dương; phát hiện Úc năm 1606, New Zealand vào năm 1642 và Hawaii vào năm 1778. Trong khi đó, từ năm 1580 đến năm 1640, người Nga đông tiến và chinh phục gần như toàn bộ Siberia và Alaska.

Bối cảnhSửa đổi

Kiến thức thời trung cổ của châu Âu về châu Á vượt quá tầm với của Đế chế Byzantine được lấy từ các báo cáo một phần, thường bị che khuất bởi các huyền thoại[7], kể từ thời Alexander Đại Đế và những người kế nhiệm ông. Một nguồn khác là mạng lưới buôn bán người Do Thái Radhanite của các thương gia được thiết lập như là sự kết hợp giữa châu Âu và thế giới Hồi giáo trong thời gian của các quốc gia Thập tự chinh.

Sự trỗi dậy của giao thương Âu ChâuSửa đổi

Giữa thế kỷ thứ XII và XIV, nền kinh tế châu Âu bị biến đổi bởi sự liên kết của các tuyến giao thương đường sông và đường biển, khiến châu Âu trở thành một trong những mạng lưới thương mại thịnh vượng nhất thế giới.[8]:345

Trước thế kỷ XII, trở ngại chính cho hoạt động buôn bán ở phía đông eo Gibraltar là thiếu động cơ thương mại. Tăng trưởng kinh tế Tây Ban Nha theo sau cuộc tái chiếm Al-Andalus và cuộc bao vây Lisbon (năm 1147). Sự suy giảm sức mạnh hải quân của Nhà Fatimid bắt đầu trước cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất đã cho phép các bang nước Ý hàng hải, như Venice, GenovaPisa, thống trị thương mại phía đông Địa Trung Hải. Các thương nhân Ý sau này trở nên giàu có và sở hữu tầm ảnh hưởng chính trị. Cuộc xâm lược Anh của người Norman vào cuối thế kỷ XI làm Biển Bắc trở nên dễ dàng để buôn bán hơn. Liên minh Hanse, một liên hiệp gồm các bang hội thương gia và thị trấn ở miền bắc nước Đức dọc theo Biển Bắc và Biển Baltic, là công cụ phát triển thương mại của khu vực. Vào thế kỷ thứ XII, vùng Flander, HainaultBraband sản xuất hàng dệt chất lượng tốt nhất ở Bắc Âu, khuyến khích các thương nhân từ Genova và Venice đi thuyền trực tiếp tới đó.[8]:316–38 Nicolozzo Spinola dong thuyền trực tiếp từ Genève đến Flanders vào năm 1277.[8]:328

Công nghệ: Thiết kế tàu và la bànSửa đổi

 
Một tàu ca-ra-vê với hai buồm tam giác và buồm mũi. Loại tàu này được phát minh bởi người Bồ, chúng linh hoạt và rất hữu dụng trong Thời đại Khám phá.

Những tiến bộ công nghệ quan trọng mở ra Thời đại Khám phá là việc áp dụng la bàn từ tính và những cải tiến trong ngành thiết kế tàu.

La bàn là vật dụng bổ sung cho phương pháp hoa tiêu cổ xưa dựa trên vị trí mặt trời và các ngôi sao. La bàn đã được sử dụng ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ XI và được các thương nhân Ả Rập ở Ấn Độ Dương học theo. La bàn sang châu Âu vào cuối thế kỷ XII hoặc đầu thế kỷ XIII.[9] Sử dụng la bàn để điều hướng ở Ấn Độ Dương được đề cập lần đầu tiên vào năm 1232.[8]:351–2 Lần đầu tiên đề cập đến việc sử dụng la bàn ở châu Âu là vào năm 1180.[8]:382 Người châu Âu sử dụng la bàn "khô", với một cây kim trên trục. Thẻ la bàn là một phát minh của châu Âu.[8]

Để đi biển, người Mã Lai đã độc lập phát minh ra những cánh buồm junk, làm từ thảm dệt gia cố bằng tre, ít nhất vài trăm năm trước năm 1 TCN. Vào thời nhà Hán (206 TCN đến 220 SCN), người Trung Quốc sử dụng những cánh buồm như vậy, học được nó từ các thủy thủ Mã Lai đến thăm bờ biển phía Nam Trung Quốc. Bên cạnh loại buồm này, họ cũng tạo ra những chiếc buồm hình thang (buồm tanja). Việc phát minh ra những loại buồm này khiến cho việc đi thuyền quanh bờ biển phía tây châu Phi trở nên khả thi, bởi vì chúng có thể chống lại gió. Loại buồm này cũng đã truyền cảm hứng cho người Ả Rập phía Tây và Polynesia phía Đông của Mã Lai để phát triển lần lượt các cánh buồm tam giácbuồm càng cua.[10]

Người Java đóng loại tàu vượt đại dương gọi là po từ khoảng thế kỷ I SCN. Nó dài 50 m và có phần nổi (khoảng cách từ mặt nước đến mép thuyền) tầm 4–7 mét. Po có khả năng chở 700 người cùng với hơn 10.000 "斛" (hộc) hàng hóa (250-1000 tấn tùy theo ước tính). Chúng được đóng với nhiều tấm ván để chống bão, và có 4 cánh buồm cộng thêm một cánh buồm căng chéo trước mũi. Người Java đã đến Ghana vào thế kỷ thứ VIII.[11]

Tàu sau này tăng kích thước, cần ít thủy thủ đoàn hơn và có thể đi được quãng đường dài hơn mà không cần dừng lại. Điều này dẫn đến sự sụt giảm cho chi phí các chuyến đi đường dài vào thế kỷ thứ XIV.[8]:342 Loại tàu cog vẫn phổ biến cho thương mại do chi phí đóng thuyền thấp. Thuyến galê cũng được sử dụng trong thương mại.[8]

Địa lí và bản đồSửa đổi

 
Đuôi lái sống đuôi tàu kiểu trục xoay-chốt xoay từ kỳ hạm Adler von Lübeck (1567–1581) của Liên minh Hanse.

Cẩm nang hàng hải Biển Erythraean, một tài liệu có niên đại từ những năm 40–60 SCN, mô tả một tuyến đường mới được phát hiện qua Biển Đỏ đến Ấn Độ, với các mô tả về các khu chợ trong các thị trấn dọc Biển Đỏ, Vịnh Ba Tư và Ấn Độ Dương, bao gồm cả phía đông bờ biển châu Phi, chép rằng "ngoài những nơi này, những đường cong đại dương chưa được khám phá về phía tây, và chạy dọc theo các khu vực ở phía nam Aethiopia và Libya và Châu Phi, nó hòa quyện với biển phía tây (có thể là nhắc đến Đại Tây Dương)". Kiến thức thời trung cổ ở châu Âu về châu Á ngoài tầm với của Đế quốc Byzantine đã được thu thập trong các báo cáo rời rạc, thường bị phóng đại bởi các truyền thuyết,[7] có từ thời Alexander Đại đế và những người kế vị ông khi bành trướng về phía Đông. Một nguồn khác là từ các mạng lưới thương mại của người Do Thái Radhanite được thành lập như những người lai vãng giữa châu Âu và thế giới Hồi giáo trong thời kì Thập tự chinh.

 
Bản đồ thế giới Ptolemy (thế kỷ II) và bản phục dựng thế kỷ XV của Nicolaus Germanus.

Năm 1154, nhà địa lý học Ả Rập Muhammad al-Idrisi đã tạo cuốn bản đồ thế giới, Tabula Rogeriana, tại triệu đình vua Roger II xứ Sicily,[12][13] nhưng Châu Phi vẫn chỉ được biết đến một phần bởi các Kitô hữu, Genova và người Venice, hoặc các thủy thủ Ả Rập, và phạm vi về phía nam của nó thì không rõ. Đã có nhiều báo cáo về sa mạc Sahara châu Phi bởi một số người sống ở phía Nam bờ Địa Trung Hải và sự thống trị của các nước Ả Rập tại Bắc Phi đã ngăn cản việc thăm dò sâu hơn vào nội địa. Kiến thức đường bờ biển Đại Tây Dương của Châu Phi bị phân mảnh và chủ yếu xuất phát từ các bản đồ thời Hy La cũ dựa trên tư liệu của người Carthage, bao gồm cả cuộc khám phá Mauritania của người La Mã. Biển Đỏ hầu như không được biết đến và chỉ liên kết thương mại với các nước cộng hòa Hàng hải, đặc biệt là Cộng hòa Venezia, thúc đẩy thu thập kiến ​​thức hàng hải chính xác.[14]

Các tuyến thương mại Ấn Độ Dương chủ yếu được dùng bởi người Ả Rập. Giữa những năm 1405 và 1421, Minh Thành Tổ của Trung Quốc đã tài trợ một loạt các nhiệm vụ lấy cống phẩm phương xa dưới sự chỉ huy của đô đốc Trịnh Hòa.[15] Các đội tàu đã đến thăm Ả Rập, Đông Phi, Ấn Độ, Đông Nam Á hải đảo và Thái Lan. Nhưng các hành trình, được báo cáo bởi Mã Hoan, một du khách và dịch giả Hồi giáo, bị hoãn lại đột ngột sau cái chết của hoàng đế[16] và không được tiếp tục. Nhà Minh sau đó thực hiện chính sách hải cấm (海禁), hạn chế buôn bán hàng hải.

Vào năm 1400, bản dịch tiếng Latinh của Geographia tới được Ý từ Constantinople. Sự tái khám phá kiến ​​thức địa lý cũ La Mã là một sự mặc khải,[17] cả về lập bản đồ và thế giới quan,[18] mặc dù nó cũng củng cố ý tưởng rằng Ấn Độ Dương là một biển nội địa.

Các hành trình thời Trung Cổ (1241–1438)Sửa đổi

 
Con đường Tơ lụa và các tuyến giao thương gia vị sau này bị chặn bởi Đế quốc Ottoman năm 1453 thúc đẩy quá trình khám phá biển cả để tìm tuyến đường thay thế
 
Hành trình của Marco Polo (1271–1295)

Mở đầu cho Thời đại Khám phá là một loạt các cuộc thám hiểm châu Âu băng qua Á-Âu bằng đường bộ vào cuối thời Trung cổ.[19] Mông Cổ thống nhất phần lớn lục địa Á-Âu và từ năm 1206 trở đi, thời kì Pax Mongolica cho phép các tuyến giao thương và đường liên lạc an toàn kéo dài từ tận Trung Đông đến Trung Quốc.[20][21] Nhiều người châu Âu đã tận dụng thời kì này để đi về phía đông. Hầu hết là người Ý, vì thương mại giữa châu Âu và Trung Đông được kiểm soát chủ yếu bởi các nước cộng hòa hàng hải.[cần dẫn nguồn]

Có rất ít ghi chép về các thương nhân từ Bắc Phi và khu vực Địa Trung Hải buôn bán ở Ấn Độ Dương vào cuối thời Trung cổ.[8]

Các sư thần Kitô giáo đã được gửi đến tận Karakorum trong cuộc xâm lược vùng Levant của Mông Cổ, từ đó mà họ hiểu rõ hơn về thế giới. Người đầu tiên trong số những lữ khách này là Giovanni da Pian del Carpine, được Đức Giáo hoàng Innôcentê IV phái đến Đại Hãn, người đến Mông Cổ và trở về từ năm 1241 đến 1247.[20] Cũng trong khoảng thời gian đó, hoàng tử Nga Yaroslav II xứ Vladimir, và sau đó là hai con trai của ông là Alexander Nevsky và Andrey II xứ Vladimir, đã tới thăm thủ đô của Mông Cổ. Mặc dù có ý nghĩa chính trị mạnh mẽ, hành trình của họ không để lại ghi chép chi tiết nào. Ngoài ra còn có nhiều cuộc du hành khác, như của André de Longjumeau người Pháp và Flemish William xứ Rubruck, đến Trung Quốc qua Trung Á.[22] Marco Polo, thương nhân người Venice, đã ghi chép nhiều tư liệu chi tiết về các chuyến đi khắp châu Á từ năm 1271 đến 1295, ông nói rằng mình chính là một vị khách tại triều đình nhà Nguyên của Hốt Tất Liệt trong cuốn Marco Polo du ký, và nó đã được đọc trên khắp châu Âu.[23]

Hạm đội Hồi giáo bảo vệ Eo biển Gibraltar bị Genoa đánh tan năm 1291.[24] Vào năm đó, nỗ lực thám hiểm Đại Tây Dương đầu tiên, thực hiện bởi hai anh em thương gia là Vadino và Ugolino Vivaldi từ Genoa với hai thuyền galê nhưng mất tích ngời khơi Ma-rốc, tạo ra nỗi sợ hãi về các cuộc thám hiểm đại dương.[25][26] Từ năm 1325 đến 1354, một học giả người Ma-rốc từ Tangier, Ibn Battuta, đã đi qua Bắc Phi, sa mạc Sahara, Tây Phi, Nam Âu, Đông Âu, Sừng châu Phi, Trung Đông và châu Á, đến Trung Quốc. Sau khi trở về, ông kể lại hành trình của mình cho một học giả mà anh ta gặp ở Granada, cuốn Rihla ("Du ký").[27] Từ năm 1357 đến năm 1371, một cuốn sách về những chuyến du hành được cho là của John Mandeville biên soạn nổi lên ở châu Âu. Mặc dù bản chất không đáng tin cậy và phóng đại, nó đã được sử dụng làm tài liệu tham khảo[28] về phương Đông, Ai Cập và vùng Levant nói chung, khẳng định niềm tin cũ rằng Jerusalem là trung tâm của thế giới.

Trong thời kỳ quan hệ Timurid với châu Âu, năm 1439 Niccolò de' Conti đã xuất bản một ghi chép về chuyến đi của ông với tư cách là một thương nhân Hồi giáo đến Ấn Độ và Đông Nam Á, và sau đó vào năm 1466-1472, thương nhân người Nga Afanasy Nikitin xứ Tver đã tới Ấn Độ. được mô tả trong cuốn sách Cuộc hành trình vượt Ba Biển.

Những chuyến đi trên đất liền ít có ảnh hưởng. Đế quốc Mông Cổ sụp đổ gần như ngay sau khi nó hình thành và chẳng mấy chốc tuyến đường về phía đông trở nên khó khăn và nguy hiểm hơn. Cái chết Đen vào thế kỷ XIV ngăn chặn các cuộc lữ hành và thương mại.[31] Sự trỗi dậy của Đế quốc Ottoman càng hạn chế khả năng buôn bán đường bộ của châu Âu.

Các sứ mệnh Trung Quốc (1405-1433)Sửa đổi

 
"Trịnh Hòa hàng hải đồ" (Hán tự: 鄭和航海圖), được cho là dựa trên những ghi chép của Trịnh Hòa, cho thấy lộ trình giữa Đông Nam Á và tới tận Malindi, trong cuốn Võ bị chí (1628)

Người Trung Quốc có mối liên hệ rộng rãi trong mạng lưới thương mại châu Á và đã dong thuyền đến Ả Rập, Đông Phi và Ai Cập kể từ thời nhà Đường (618-907). Từ năm 1405 đến 1421, Minh Thành Tổ tài trợ một loạt các nhiệm vụ lấy cống phẩm ở Ấn Độ Dương dưới sự chỉ huy của đô đốc Trịnh Hòa.[15]

Một đội tàu lớn mới đã được chuẩn bị cho các cuộc thám hiểm ngoại giao quốc tế này. Chiếc thuyền lớn nhất trong số đó, gọi là Bảo Thuyền (tàu kho báu), có chiều dài lên tới 121 mét và chứa hàng ngàn thủy thủ. Chuyến thám hiểm đầu tiên xuất phát vào năm 1405. Ít nhất bảy cuộc thám hiểm được ghi chép rõ ràng, mỗi chuyến thám hiểm sau hoành tráng hơn và đắt đỏ hơn lần trước. Các hạm đội đã đến thăm Ả Rập, Đông Phi, Ấn Độ, Quần đảo Mã Lai và Xiêm La.[29] Họ biếu quà bằng vàng, bạc, sứ và lụa; đổi lại là các sản vật quý hiếm địa phương như đà điểu, ngựa vằn, lạc đà, ngà voi và hươu cao cổ.[30][31] Sau cái chết của hoàng đế, Trịnh Hòa đã dẫn đầu một đoàn thám hiểm cuối cùng khởi hành từ Nam Kinh vào năm 1431 và trở về Bắc Kinh vào năm 1433. Rất có khả năng chuyến thám hiểm cuối cùng này đã đến tận Madagascar. Các chuyến đi được báo cáo bởi Mã Hoan, một du khách và dịch giả Hồi giáo đi cùng với Trịnh Hòa ba trong số bảy chuyến thám hiểm, ghi chép của ông được xuất bản ra cuốn Doanh Nhai Thăng Lãm (Hán tự: 瀛涯胜览, nghĩa là: khảo sát tổng thể bờ biển) (1433).[32]

Các chuyến đi có tác động đáng kể và lâu dài đối với việc tổ chức mạng lưới hàng hải, sử dụng và tạo ra các nút và điểm chốt theo sau, từ đó tái cấu trúc các mối quan hệ và trao đổi văn hóa quốc tế.[36] Điều này đặc biệt có tác động vì không có chính thể nào khác có được sự thống trị hải quân đối với khu vực Ấn Độ Dương trước các chuyến đi này.[37] Nhà Minh đã thúc đẩy các nút thay thế như một chiến lược để thiết lập quyền kiểm soát mạng lưới.[38] Chẳng hạn, do sự tham gia của Trung Quốc, các cảng như Malacca (ở Đông Nam Á), Cochin (trên Bờ biển Malabar) và Malindi (trên Bờ biển Swahili) đã phát triển như những lựa chọn thay thế chính cho các cảng quan trọng và đã thành lập khác.[A][39] Sự xuất hiện của hạm đội kho báu nhà Minh đã tạo ra và tăng cường cạnh tranh giữa các chính thể, mỗi bên tìm kiếm một liên minh với nhà Minh. [36]

Các chuyến đi cũng mang lại sự hội nhập khu vực của Tây Dương và sự gia tăng lưu thông quốc tế về con người, lý tưởng và hàng hóa. Nó cũng cung cấp nền tảng cho các cuộc thảo luận chủ nghĩa thế giới, diễn ra tại các địa điểm như trên tàu của hạm đội Minh, thủ đô Nam Kinh cũng như Bắc Kinh, và tiệc chiêu đãi do triều đình nhà Minh tổ chức cho các đại diện nước ngoài.[36] Các nhóm người đa dạng từ khắp các quốc gia hàng hải tụ tập, giao lưu và cùng nhau đi thăm thú khi hạm đội kho báu nhà Minh di chuyển qua lại.[36] Lần đầu tiên trong lịch sử, khu vực hàng hải từ Trung Quốc đến Châu Phi chịu sự thống trị của một cường quốc duy nhất và từ đó cho phép tạo ra một không gian chủ nghĩa thế giới.[40]

Những hành trình đường dài này bị ngừng lại, vì nhà Minh thực hiện hải cấm, một chính sách cô lập, hạn chế thương mại hàng hải. Các chuyến viễn chinh bị hoãn lại đột ngột sau cái chết của hoàng đế. Người Trung Quốc mất hứng thú với những gì họ gọi là vùng đất man rợ bên ngoài,[17] và các hoàng đế kế vị cảm thấy các chuyến thám hiểm này ảnh hưởng xấu đến quốc gia; Minh Nhân Tông chấm dứt các cuộc thám hiểm này và Minh Tuyên Tông bưng bít các thông tin liên quan đến các cuộc lữ hành của Trịnh Hòa.

Đại Tây Dương (1419-1507)Sửa đổi

 
Các tuyến giao thương hàng hải của người Genoa (đỏ) và người Venice (lục) ở Địa Trung Hải và Biển Đen

Từ thế kỷ thứ VIII đến thế kỷ XV, Cộng hòa Venice và các nước cộng hòa hàng hải lân cận đã nắm giữ độc quyền thương mại châu Âu với Trung Đông. Việc buôn bán tơ lụa và gia vị, bao gồm hương, thảo mộc, thuốc và thuốc phiện, đã làm cho các quốc gia thành bang Địa Trung Hải này trở nên giàu có. Gia vị là một trong những sản phẩm đắt tiền và được đòi hỏi cao nhất thời Trung cổ, vì chúng được sử dụng trong y học,[33] các nghi lễ tôn giáo, mỹ phẩm, nước hoa, cũng như phụ gia thực phẩm và chất bảo quản.[34] Chúng đều được nhập từ châu Á và châu Phi.

Các thương nhân Hồi giáo, chủ yếu là hậu duệ của các thủy thủ Ả Rập từ Yemen và Ô-man, thống trị các tuyến hàng hải trên khắp Ấn Độ Dương, khai thác các vùng nguồn ở Viễn Đông và vận chuyển các sản phẩm tại các khu thương điếm ở Ấn Độ, chủ yếu là Kozhikode, về phía tây đến Ormus ở Vịnh Ba Tư và Jeddah ở Biển Đỏ. Từ đây, các tuyến đường bộ dẫn đến bờ biển Địa Trung Hải. Các thương nhân Venice đã phân phối hàng hóa qua châu Âu cho đến khi Đế chế Ottoman trỗi dậy, dẫn đến sự sụp đổ của Constantinople năm 1453, ngăn cản người châu Âu sử dụng các tuyến đường bộ và trên biển.[35][36]

Buộc phải sụt giảm các hoạt động của họ ở Biển Đen, và chiến tranh với Venice, người Genoa đã chuyển sang buôn bán lúa mì, dầu ô liu (có giá trị như một nguồn năng lượng) và tìm kiếm vàng bạc. Người châu Âu đã thâm hụt liên tục vàng bạc,[45] vì tiền chỉ đi một chiều: ra ngoài, chi cho thương mại phương Đông mà giờ đã bị cắt đứt. Một số mỏ ở châu Âu đã cạn kiệt,[46] thiếu thỏi vàng dẫn đến sự phát triển của một hệ thống ngân hàng phức tạp để quản lý rủi ro trong thương mại (ngân hàng nhà nước đầu tiên, Banco di San Giorgio, được thành lập năm 1407 tại Genoa). Đi thuyền đến các cảng của Bruges (Flanders) và Anh. Các cộng đồng Genoa sau đó được thành lập ở Bồ Đào Nha,[47] kiếm lợi từ doanh nghiệp và chuyên môn tài chính của họ.

Thuyền buồm châu Âu chủ yếu buôn bán ven biển, sử dụng hải đồ portolan. Những hải đồ này xác định các tuyến đường biển dựa trên các hải cảng dọc bở biển: các thủy thủ khởi hành từ một điểm đã biết, đi theola bàn và cố gắng xác định vị trí của họ bằng các mốc gắn với đất liền của nó.[48] Đối với cuộc thám hiểm đại dương đầu tiên, người Tây Âu đã sử dụng la bàn, cũng như những tiến bộ mới trong phác bản đồ và thiên văn học. Các công cụ điều hướng của Ả Rập như thước trắc tinhthước đo phần tư được sử dụng để xác đinh vị trí dựa trên thiên văn hàng hải.

Các khám phá của người BồSửa đổi

 
Giao thương xuyên Sahara khoảng năm 1400, với vùng Niger được tô đậm

Năm 1297, cuộc reconquista kết thúc ở Bồ Đào Nha, vua Dinis xứ Bồ đã tỏ mối quan tâm đến xuất khẩu và năm 1317, ông đã thỏa thuận với thủy thủ thương gia Genoa tên Manuel Pessanha (Pessagno), bổ nhiệm ông là đô đốc đầu tiên của hải quân Bồ Đào Nha, với mục tiêu bảo vệ đất nước chống lại các cuộc tấn công cướp biển Hồi giáo.[37] Sự bùng phát của bệnh dịch hạch đã dẫn đến sự sụt giảm dân số nghiêm trọng nửa sau thế kỷ XIV: chỉ có đường biển mới an toàn, với phần lớn dân cư định cư ở vùng đánh cá và buôn bán ven biển.[38] Từ năm 1325 đến 1357, Afonso IV xứ Bồ Đào Nha đã khuyến khích thương mại hàng hải và ra lệnh cho những chuyến thám hiểm đầu tiên.[39] Quần đảo Canary, đã được biết đến bởi người Genoa, được tuyên bố là được phát hiện chính thức dưới sự bảo trợ của Bồ Đào Nha, nhưng vào năm 1344, Castile tranh chấp vùng này, mở rộng sự cạnh tranh của họ ra biển.[40][41]

Để đảm bảo độc quyền về thương mại, người châu Âu (bắt đầu với người Bồ Đào Nha) đã cố gắng áp đặt một hệ thống thương mại địa trung hải sử dụng sức mạnh quân sự và đe dọa chuyển hướng thương mại qua các cảng mà họ kiểm soát; nơi hàng hóa có thể bị đánh thuế.[54] Năm 1415, Ceuta bị chinh phục bởi Bồ Đào Nha nhằm kiểm soát việc điều hướng bờ biển châu Phi. Hoàng tử trẻ Henrique Nhà hàng hải nhận thức được lợi nhuận trong các tuyến thương mại xuyên Sahara. Trong nhiều thế kỷ, các tuyến đường buôn bán nô lệ và vàng liên kết Tây Phi với Địa Trung Hải phải đi qua sa mạc Tây Sahara, kiểm soát bởi người Moors ở Bắc Phi.

Henry muốn biết lãnh thổ Hồi giáo ở Châu Phi kéo dài bao xa, hy vọng luồn qua được chúng và giao dịch trực tiếp với Tây Phi bằng đường biển, tìm các đồng minh ở vùng đất Kitô giáo huyền thoại ở phía nam [55] như vương quốc Kitô giáo đã mất từ ​​lâu của Prester John[56] và để thăm dò xem liệu có thể đến Ấn Độ bằng đường biển hay không, nguồn gốc của tuyến buôn gia vị sinh lời. Ông đầu tư vào các chuyến đi xuống bờ biển Mauritanie, tập hợp một nhóm thương nhân, chủ tàu và người có quan tâm đến các tuyến đường biển mới. Chẳng bao lâu, họ đã tới được các đảo Madeira ở Đại Tây Dương (1419) và Azores (1427). Người lãnh đạo đoàn thám hiểm, người đã thiết lập các khu định cư trên đảo Madeira, chính là João Gonçalves Zarco. [57]

Thời bấy giờ, người châu Âu không biết những gì nằm xa hơn Mũi Non (Mũi Chaunar) trên bờ biển châu Phi và liệu có thể quay trở lại sau khi vượt qua nó.[58] Huyền thoại cảnh cáo về quái vật đại dương hoặc rìa của thế giới, nhưng sự điều hướng của Hoàng tử Henry đã thách thức những niềm tin như vậy: bắt đầu từ năm 1421, đi thuyền vượt qua nó, đến Mũi Bojador khó khăn mà vào năm 1434, một trong những thuyền trưởng của Hoàng tử Henry, Gil Eanes, vượt qua được.

Một bước tiến lớn là sự ra đời của tàu ca-ra-ve vào giữa thế kỷ XV, một loại tàu nhỏ có khả năng đi ngược gió tốt hơn bất kỳ tàu nào khác ở châu Âu vào thời điểm đó.[59] Phát triển từ các thiết kế tàu đánh cá, chúng là các con tàu đầu tiên có thể bớt sự phụ thuộc vào hải đồ và đi an toàn trên Đại Tây Dương. Để định hướng trên biển bằng thiên thể, người Bồ Đào Nha đã sử dụng Lịch thiên văn, trải qua một sự khuếch tán đáng chú ý trong thế kỷ XV. Đây là những biểu đồ thiên văn vẽ đồ thị vị trí của các ngôi sao trong một khoảng thời gian riêng biệt. Được xuất bản năm 1496 bởi nhà thiên văn học, nhà chiêm tinh và nhà toán học người Do Thái, Abraham Zacuto, cuốn Almanach Perpetuum bao gồm một số bảng miêu tả sự chuyển động của các ngôi sao. [60] Các bảng này cách mạng hóa hoạt động hoa tiêu, cho phép tính toán vĩ độ. Kinh độ chính xác, tuy nhiên, vẫn khó nắm bắt trong nhiều thế kỷ. [61] [62] Sử dụng tàu ca-ra-ve, việc thăm dò có hệ thống tiếp tục ở phía nam xa hơn, tiến lên trung bình một độ mỗi năm.[63] Bán đảo Sénégal và Mũi Verde đã được khám phá vào năm 1445 và năm 1446, Álvaro Fernandes đã tới tận Sierra Leone ngày nay.

Năm 1453, Constantinople rơi vào tay người Ottoman là một đòn giáng mạnh vào các Thiên chúa quốc và mối quan hệ kinh doanh được thiết lập liên kết với phương đông. Năm 1455, Giáo hoàng Nicholas V ban hành tông sắc Romanus Pontifex củng cố Dum Diversas trước đó (1452), trao tất cả các vùng đất và biển được phát hiện ngoài Mũi Bojador cho vua Afonso V xứ Bồ Đào Nha và những người kế vị ông, cũng như buôn bán và chinh phục người Hồi giáo hay ngoại đạo, một chính sách Biển đóng ở Đại Tây Dương.[64] Nhà vua, người đã tìm hiểu các chuyên gia Genova về một tuyến đường biển đến Ấn Độ, đã ủy thác bản đồ thế giới Fra Mauro, đưa tới Lisbon năm 1459. [65]

Các khám phá sau Hoàng tử HenrySửa đổi

 
Bản mô hình tàu ca-ra-vê giữa thế kỷ XV

Năm 1460 Pedro de Sintra đặt chân đến Sierra Leone. Hoàng tử Henry qua đời vào tháng 11 năm đó, do thu nhập ít ỏi, các cuộc thám hiểm được ủy thác cho thương nhân Fernão Gomes năm 1469, để đổi lấy độc quyền thương mại ở Vịnh Guinea ông này phải khám phá 100 dặm (161 km) mỗi năm trong vòng 5 năm.[66] Với sự tài trợ của ông, các nhà thám hiểm João de Santarém, Pedro Escobar, Lopo Gonçalves, Fernão do Pó và Pedro de Sintra đã vượt xa những mục tiêu đó. Họ đến Nam bán cầu và các đảo thuộc Vịnh Guinea, bao gồm São Tomé và Príncipe và Elmina trên Bờ biển Vàng vào năm 1471 (Ở Nam bán cầu, họ đã sử dụng chòm Nam Thập Tự làm mốc cho việc định hướng hàng hải.). Ở nơi nay gọi là "Bờ biển vàng" Ghana ngày nay, một tuyến mậu dich vàng nơi hay mưa thịnh vượng được tìm thấy giữa người bản địa và thương nhân Ả Rập và Berber.

Năm 1478 (trong Chiến tranh kế vị Castile), ngoài khơi Elmina diễn ra một cuộc hải chiến giữa Hạm đội Castile gồm 35 tàu ca-ra-ve và hạm đội Bồ Đào Nha để giành quyền bá chủ thương mại Guinea (vàng, nô lệ, ngà voi và hạt tiêu). Bồ Đào Nha thắng lợi, dẫn đến các Quốc vương Công giáo công nhận chính thức các vùng lãnh thổ tranh chấp ở Tây Phi thuộc về Bồ Đào Nha theo Hiệp ước Alcáçovas, 1479. (Xem mục trên Elmina.) Đây là cuộc chiến tranh thuộc địa đầu tiên giữa các cường quốc châu Âu.

Năm 1481, João II mới đăng quang đã cho dựng feitoria tại São Jorge da Mina. Năm 1482, sông Congo được Diogo Cão khám phá,[67] người vào năm 1486 tiếp tục khám phá Mũi Cross (Namibia hiện đại).

Bước đột phá quan trọng tiếp theo là vào năm 1488, khi Bartolomeu Dias đi vòng qua mũi phía nam châu Phi, nơi ông đặt tên là "Mũi bão" (Cabo das Tormentas), neo đậu tại Vịnh Mossel và sau đó đi thuyền về phía đông đến tận cửa sông Great Fish, chứng minh rằng Ấn Độ Dương có thể được tiếp cận từ Đại Tây Dương. Đồng thời, Pêro da Covilhã, được gửi đi do thám trên đất liền, tới Ethiopia và thu thập thông tin quan trọng về Biển Đỏ và bờ biển Quenia, rằng một tuyến đường biển đến Ấn Độ sẽ sớm mở ra.[68] Chẳng bao lâu, mũi đất được đổi tên bởi vua John II xứ Bồ Đào Nha thành "Mũi hảo vọng" (Cabo da Boa Esperança), vì sự lạc quan đem lại do khả năng của một tuyến đường biển đến Ấn Độ, chứng minh quan niệm của Ptolemy là sai lầm.

Tây Ban Nha vào cuộc: Columbus và Tây ẤnSửa đổi

 
4 chuyến hành trình của Christopher Columbus 1492–1503

Castile, kình địch lân bang của Bồ Đào Nha, bắt đầu thiết lập quyền cai trị trên quần đảo Canary, nằm ngoài khơi phía tây châu Phi, vào năm 1402, nhưng bị dao động bởi lục đục chính trị tại chính quốc và các cuộc kháng chiến chống quân Hồi giáo hầu hết ở thế kỷ XV. Chỉ vào cuối thế kỷ đó, sau khi thống nhất vương quốc Castile-Aragon và hoàn thành cuộc reconquista, Tây Ban Nha mới đổ công sức vào khám phá các tuyến thương mại đường biển. Vương miện Aragon từng là một cường quốc hàng hải quan trọng ở Địa Trung Hải, kiểm soát các vùng lãnh thổ ở miền đông Tây Ban Nha, Tây Nam nước Pháp, các đảo lớn như Sicily, Malta, và Vương quốc NaplesSardinia, với cương thổ trải dài đến tận Hy Lạp. Năm 1492, các đồng cai trị đã chinh phục vương quốc Moorish của Granada, nước chư hầu công nạp cho Castile hàng hóa châu Phi, và quyết định tài trợ cho các cuộc thám hiểm của Christopher Columbus với hy vọng đánh đổ sự độc quyền của Bồ Đào Nha trên các tuyến đường biển phía tây châu Phi, để đến "Ấn Độ" (phía đông và nam Á) bằng cách đi về phía tây. [70] Hai lần trước, vào năm 1485 và 1488, Columbus đã trình bày dự án cho vua John II xứ Bồ Đào Nha, người đã khước từ ông.

Vào tối ngày 3 tháng 8 năm 1492, Columbus rời bến từ Palos de la Frontera với ba chiếc tàu; một tàu carrack lớn, Santa María, biệt danh là Gallega, và hai tàu hộ tống nhỏ hơn, PintaSanta Clara, biệt danh là Niña. Columbus lần đầu tiên dặt chân lên Quần đảo Canary, nơi ông lấy nhu yếu phẩm cho chuyến đi dài năm tuần vượt đại dương, băng qua một phần của Đại Tây Dương được gọi là Biển Sargasso.

Họ nhìn thấy đất liền vào ngày 12 tháng 10 năm 1492 và Columbus gọi hòn đảo (nay là vùng Bahamas) San Salvador, nơi mà ông nghĩ là "Đông Ấn". Columbus cũng đã khám phá bờ biển phía đông bắc Cuba (cập bến vào ngày 28 tháng 10) và bờ biển phía bắc của Hispaniola, vào ngày 5 tháng 12. Ông được vị cacique (thủ lĩnh) bản địa Guacanagari chấp thuận, cho phép ông để lại một vài người trong đoàn ở đây.

Columbus để lại 39 người đàn ông và họ thành lập khu định cư La Navidad tại Haiti ngày nay.[71] Trước khi trở về Tây Ban Nha, ông bắt cóc khoảng mười đến hai mươi lăm người bản địa và đưa họ về Tây Ban Nha. Chỉ có bảy hoặc tám trong số những "Người Ấn Độ" bản địa đến được Tây Ban Nha còn sống, nhưng đã gây ấn tượng khá tốt với Seville.[72]

Khi trở về, một cơn bão buộc ông phải cập cảng Lisbon, vào ngày 4 tháng 3 năm 1493. Sau một tuần ở Bồ Đào Nha, ông lên đường sang Tây Ban Nha và vào ngày 15 tháng 3 năm 1493 đến Barcelona, ​​nơi ông yết kiến Nữ hoàng Isabella và Vua Ferdinand. Tin tức về việc ông khám phá ra những vùng đất mới nhanh chóng lan rộng khắp châu Âu.[73]

Columbus và các nhà thám hiểm Tây Ban Nha khác ban đầu thất vọng với những khám phá của họ, không giống như Châu Phi hay Châu Á, dân cư Ca-ri-bê có ít hàng hóa để giao thương với đội tàu Castile. Các hòn đảo do đó trở thành trọng tâm của các nỗ lực thuộc địa. Chỉ đến khi chính lục địa này được khám phá, Tây Ban Nha mới tìm thấy sự giàu có mà họ đang tìm kiếm.

Hiệp ước Tordesillas (1494)Sửa đổi

Ngay sau khi Columbus trở về từ nơi mà sau này được gọi là "Tây Ấn", một sự phân chia ảnh hưởng trở nên cần thiết để tránh xung đột giữa Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.[74] Vào ngày 4 tháng 5 năm 1493, hai tháng sau khi Columbus cập bến, các Quốc vương Công giáo đã nhận được một tông sắc (Inter caetera) từ Giáo hoàng Alexander VI ra lệnh rằng tất cả các vùng đất phía tây và phía nam của một đường từ cực đến cực cách 100 dặm tây nam Açores hoặc Quần đảo Mũi Verde sẽ thuộc về Castile và sau đó, tất cả các vùng lục địa chính và đảo còn lại thuộc về Ấn Độ. Sắc chỉ không đề cập đến Bồ Đào Nha, do vậy họ không thể lấy những vùng đất mới được phát hiện ở phía đông của đường.

Một thỏa thuận đã đạt được vào năm 1494, với Hiệp ước Tordesillas chia đôi thế giới giữa hai cường quốc. Trong hiệp ước này, người Bồ Đào Nha nhận được mọi thứ bên ngoài châu Âu ở phía đông của một đường cắt chạy 370 dặm phía tây quần đảo Cape Verde (thuộc về Bồ Đào Nha) và những hòn đảo được Christopher Columbus phát hiện trong chuyến đi đầu tiên (được tuyên bố là thuộc Castile), được đặt tên là Cipangu và Antilia (Cuba và Hispaniola). Điều này đã cho họ quyền kiểm soát tuyệt đối với Châu Phi, Châu Á và miền đông Nam Mỹ (Brazil). Người Tây Ban Nha (Castile) lấy được mọi tấc đất ở phía tây đường kẻ này. Vào thời điểm đàm phán, hiệp ước đã chia đôi thế giới của các đảo Đại Tây Dương, với đường phân chia khoảng một nửa giữa Cape Verde của Bồ Đào Nha và các khám phá của Tây Ban Nha ở vùng biển Caribbean.

Một thế giới mới: Châu MỹSửa đổi

 
Chi tiết bản đồ Waldseemüller 1507 có ghi "America" lần đầu tiên trong lịch sử.

Bắc MỹSửa đổi

John Cabot được ban giấy chứng nhận đặc quyền từ Vua Henry VII của Anh. Đi thuyền từ Bristol, có lẽ được hỗ trợ bởi Hiệp hội các thương nhân địa phương, Cabot vượt Đại Tây Dương trên phía bắc với hy vọng chuyến đi đến "Tây Ấn" sẽ ngắn hơn[42] và cập bến tại một nơi nào đó ở Bắc Mỹ, có thể là Newfoundland. Năm 1499, João Fernandes Lavrador được Vua Bồ cấp phép và ông ra khơi cùng với Pêro de Barcelos. Họ là người khám phá ra Labrador, được nhượng và đặt theo tên João. Sau khi trở về, ông có thể đã cập bến Bristol để lấy danh nghĩa khám phá của nước Anh.[43] Giữa năm 1499 và 1502, anh em Gaspar và Miguel Corte Real đã men theo và đặt tên cho bờ biển Greenland và Newfoundland.[44] Cả hai cuộc thám hiểm đều được ghi nhận trong bản đồ thế giới Cantino năm 1502.

"Ấn Độ thực sự" và BrazilSửa đổi

Năm 1497, Quốc vương Manuel I xứ Bồ Đào Nha gửi một hạm đội thám hiểm về phía đông, hoàn tất sứ mệnh của những tiền nhân tìm đường đến Ấn Độ. Vào tháng 7 năm 1499, tin tức lan truyền rằng người Bồ Đào Nha đã tới được "Ấn Độ thật", vì vua Bồ đã gửi một bức thư báo tin vui đến các Quốc vương Công giáo Tây Ban Nha một ngày sau khi đoàn tàu trở về.

Hành trình thứ ba của Columbus vào năm 1498 mở màn cho cuộc xâm chiếm thuộc địa thành công đầu tiên ở Tây Ấn, trên đảo Hispaniola. Mặc dù bị hoài nghi, Columbus vẫn bảo thủ rằng ông đã đến được Ấn Độ. Trong chuyến đi, ông phát hiện ra cửa sông Orinoco ở bờ biển phía bắc Nam Mỹ (nay là Venezuela) và nghĩ rằng lượng nước ngọt khổng lồ đổ ra biển chỉ có thể bắt nguồn từ một khối đất liền, mà ông đinh ninh là châu Á lục địa.

Khi trao đổi giữa Seville và Tây Ấn phát triển, kiến ​​thức về các đảo Caribbean, Trung Mỹ và bờ biển phía bắc của Nam Mỹ tăng lên. Đội tàu Tây Ban Nha của Alonso de OjedaAmerigo Vespucci năm 1499–1500 đã đặt chân lên bờ biển của Guyana ngày nay. Vespucci đi thuyền về phía nam, khám phá cửa sông Amazon vào tháng 7 năm 1499,[45][46] và đạt 6° Nam, ở phía đông bắc Brazil ngày nay, trước khi quay lại.

Vào đầu năm 1500 đoàn của Vicente Yáñez Pinzon bị một cơn bão làm chệch hướng và đi lạc đến tận bờ biển phía đông bắc của Brazil vào ngày 26 tháng 1 năm 1500, do thám về phía nam tới bang Pernambuco ngày nay. Hạm đội của ông là những người đầu tiên đi vào cửa sông Amazon mà họ đặt tên là Río Santa María de la Mar Dulce (Sông Saint Mary của Biển nước ngọt).[47] Tuy vậy, vùng đất quá xa về phía đông để người tây Ban Nha có thể lấy được do Hiệp ước Tordesillas, nhưng phát hiện này đã khiến người Tây Ban Nha càng hứng thú hơn về miền đất này, với chuyến đi thứ hai của Pinzon vào năm 1508 (một chuyến khảo sát dọc bờ biển phía bắc đến bờ biển Trung Mỹ đại lục, để tìm kiếm một lối đi về phía Đông) và một chuyến đi vào năm 1515-1516 bởi một hoa tiêu của đoàn thám hiểm 1508, Juan Díaz de Solís. Cuộc thám hiểm năm 1515-1516 được thúc đẩy bởi các báo cáo về người Bồ Đào Nha trong khu vực (xem bên dưới). Cuộc thám thính đã kết thúc khi de Solís và một số thủy thủ đoàn của ông mất tích khi khám phá Sông La Plata trên một chiếc thuyền, nhưng những gì họ tìm thấy đã khơi dậy sự quan tâm của Tây Ban Nha, và công cuộc thuộc địa hóa bắt đầu vào năm 1531.

Vào tháng 4 năm 1500, Hạm đội Bồ Ấn thứ hai, dẫn đầu bởi Pedro Álvares Cabral, gồm nhiều vị thuyền trưởng kỳ cựu, bao gồm Bartolomeu Dias và Nicolau Coelho, cập bến Brazil khi họ đi về phía tây Đại Tây Dương trong khi thực hiện một "volta do mar" để tránh bị kẹt trong Vịnh Guinea do không có gió. Vào ngày 21 tháng 4 năm 1500, họ trông thấy một ngọn núi và đặt tên là Monte Pascoal, và vào ngày 22 tháng 4, Cabral lên trên bờ. Vào ngày 25 tháng 4, toàn bộ hạm đội đã đi vào bến cảng mà họ đặt tên là Porto Seguro (Cảng an toàn). Cabral nhận thấy rằng vùng đất mới nằm ở phía đông của đường kẻ Tordesillas và gửi một phái viên về Bồ Đào Nha cùng với thông tin về vùng đất mới này, bao gồm một bức thư của Pero Vaz de Caminha miêu tả rất chân thực về Brazil trước năm 1500. Tin rằng nơi này là một hòn đảo, ông đặt tên cho nó là Ilha de Vera Cruz.[83] Một số sử gia cho rằng người Bồ Đào Nha có thể đã thấy vùng đất Nam Mỹ này trước khi thực hiện "volta do mar", giải thích sự kiên quyết của vua John II trong việc di chuyển đường kẻ về phía tây vào năm 1494, vì vậy việc ông cập bến Brazil có thể không hoàn toàn là tình cờ. Tuy vậy, cũng không loại trừ khả năng động lực của John chỉ đơn thuần là tăng cơ hội lấy những vùng đất mới ở Đại Tây Dương.[84] Từ bờ biển phía đông, hạm đội sau đó quay về hướng đông để tiếp tục hành trình đến mũi phía nam của châu Phi và Ấn Độ. Cabral là thuyền trưởng đầu tiên tới cả bốn lục địa, dẫn đầu đoàn thám hiểm đầu tiên kết nối và thống nhất châu Âu, châu Phi, thế giới mới và châu Á.[85][86]

Theo lời mời của Vua Manuel I, Amerigo Vespucci[87] — một người Florentine từng làm việc cho một chi nhánh của Ngân hàng MediciSeville từ năm 1491 — phù hợp với các chuyến thám hiểm đại dương và từng đi đến The Guianas hai lần với Juan de la Cosa phụng sự Tây Ban Nha[88] — với tư cách là hoa tiêu trong các hành trình đến bờ biển phía đông Nam Mỹ. Các cuộc thám hiểm này đã được biết đến rộng rãi ở châu Âu sau khi hai ghi chép được cho là của ông, được xuất bản từ năm 1502 đến 1504, cho rằng những vùng đất mới được phát hiện không phải là Ấn Độ mà là "Thế giới mới",[89] Mundus novus, tựa đề tiếng Latinh của một tài liệu đương đại dựa trên những bức thư của Vespucci gửi cho Lorenzo di Pierfrancesco de 'Medici.[90] Người ta sớm nhận ra Columbus chưa từng đặt chân đến Châu Á mà đã phát hiện một lục địa mới hoàn toàn, Châu Mỹ. Châu Mỹ được đặt tên vào năm 1507 bởi các nhà vẽ bản đồ Martin Waldseemüller và Matthias Ringmann, có lẽ sau Amerigo Vespucci.

Khoảng năm 1501–1502, một trong những cuộc thám hiểm của Bồ Đào Nha, dẫn đầu bởi Gonçalo Coelho (và/hoặc André Gonçalves hoặc Gaspar de Lemos), dong buồm về phía nam ven bờ Nam Mỹ đến vịnh Rio de Janeiro ngày nay. Ghi chép của Amerigo Vespucci kể rằng đoàn thám hiểm đã đạt đến vĩ độ "Nam cực cao 52°Nam", ở vĩ độ "lạnh" của vùng phía nam Patagonia (có thể gần Eo biển), trước khi quay trở lại. Vespucci viết rằng họ đi về phía tây nam và nam, dọc "một bờ biển dài, không ngoằn ngoèo" (trùng khớp với bờ biển phía Nam Nam Mỹ). Điều này có vẻ không chính xác, vì ông đã chỉnh sửa một phần mô tả của mình trong bức thư tiếp theo, nêu rõ một sự thay đổi, từ khoảng 32°Nam (Nam Brazil), về phía nam-đông nam, ra biển rộng; tuy nhiên, vẫn cho rằng họ đã đạt tới 50°/52°Nam (Đây có thể là do quyết định của chính ông hoặc bởi người kiểm duyệt D. Manuel, người có thể đã gây áp lực buộc ông phải thay đổi ghi chép, bởi vì sợ rằng tiết lộ quá nhiều với Lorenzo de 'Medici và công chúng,).[91][92]

Năm 1503, Binot Paulmier de Gonneville, thách thức chính sách mare clausum của Bồ Đào Nha, đã dẫn đầu một trong những cuộc thám hiểm NormandBreton sớm nhất của Pháp tới Brazil. Ông định đi thuyền đến Đông Ấn, nhưng gần Mũi Hảo Vọng, con tàu của ông bị lệch hướng về phía tây bởi một cơn bão, và đáp xuống ở bang Santa Catarina (miền nam Brazil) ngày nay, vào ngày 5 tháng 1 năm 1504.

Vào khoảng 1511–1512, thuyền trưởng người Bồ João de Lisboa và Estevão de Fróis đã vào cửa Sông La Plata ở Uruguay và Argentina ngày nay, và đã đi xa về phía nam tới Vịnh San Matias ngày nay ở 42°Nam (được ghi trong Newen Zeytung auss Pressilandt có nghĩa là "Tin tức mới từ vùng đất Brazil"). [93][94] Đoàn thám hiểm đã gặp một mũi đất kéo dài từ bắc xuống nam mà họ gọi là Mũi của "Santa Maria" (Punta del Este, giữ tên Mũi gần đó); và sau 40 °Nam, họ tìm thấy một "Mũi" hoặc "một điểm hoặc một địa điểm kéo dài ra biển" và một "Vịnh" (vào tháng Sáu và tháng Bảy). Sau khi họ rong ruổi gần 300 km (186 dặm) để đi vòng qua mũi, họ lại nhìn thấy lục địa ở phía bên kia, và đi về phía tây bắc, nhưng một cơn bão đã ngăn họ tiến tiếp. Bị Tramontane hoặc gió bắc cuốn đi, họ rút lui. Họ mang về những tin tức đầu tiên về Vua Trắng và "người dân vùng núi" trong nội địa (Đế quốc Inca), và một món quà, một chiếc rìu bạc, tặng bởi người bản địa Charrúa khi quay trở về ("gần bờ biển hoặc bên bờ của Brazil ") và "về phía Tây "(dọc theo bờ biển và cửa sông La Plata), và được dâng cho vua Manuel I.[95] Christopher de Haro, người Flemish gốc Sephardic (một trong những nhà tài trợ cuộc thám hiểm cùng với D. Nuno Manuel), người sẽ phụng sự Tây Ban Nha sau năm 1516, tin rằng các nhà hàng hải đã phát hiện ra một eo biển phía nam đến phía tây và châu Á.

Năm 1519, một đoàn thám hiểm được gửi đi từ Tây Ban Nha để tìm đường đến châu Á dẫn dắt bởi nhà hàng hải người Bồ Đào Nha giàu kinh nghiệm Ferdinand Magellan. Hạm đội đã khám phá các con sông, vịnh và lập bản đồ bờ biển Nam Mỹ cho đến khi tìm được đường sang Thái Bình Dương thông qua eo biển Magellan.

Khoảng năm 1524–1525, Aleixo Garcia, một conquistador Bồ Đào Nha (có lẽ là cựu chiến binh của cuộc viễn chinh Solís năm 1516), dẫn đầu một đoàn thám hiểm tư nhân khám phá các xác tàu đắm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, tuyển mộ khoảng 2000 người Anh-điêng Guaraní. Họ đã khám phá các vùng lãnh thổ của miền nam Brazil, Paraguay và Bolivia ngày nay, bằng cách sử dụng mạng lưới đường mòn bản địa, Peabiru. Họ cũng là những người châu Âu đầu tiên băng qua Chaco và tiếp xúc với vùng lãnh thổ bên ngoài Đế chế Inca trên những ngọn đồi của dãy Andes, gần Sucre.[96]

Ấn Độ Dương (1497–1513)Sửa đổi

Tuyến đường của Gama đến Ấn ĐộSửa đổi

 
Tuyến đường của Vasco da Gama khoẳng năm 1497–1499 đến Ấn Độ (đen). Các hành trình trước của Pêro da Covilhã (cam) và Afonso de Paiva (lam), và tuyến đường chung của họ (lục)

Được bảo trợ khỏi sự cạnh tranh trực tiếp của Tây Ban Nha bởi hiệp ước Tordesillas, việc thăm dò và bành trướng về phía đông của Bồ Đào Nha tiếp tục. Hai lần, vào năm 1485 và 1488, Bồ Đào Nha chính thức chối bỏ ý tưởng đến Ấn Độ của Christopher Columbus bằng cách đi về phía tây. Vua John II không ủng hộ ý tưởng đó, vì họ cho rằng ước tính 2.400 dặm (3.860 km) của Columbus không chính xác,[97] và một phần cũng là vì Bartolomeu Dias rời đi trong năm 1487 vượt mũi phía nam của châu Phi, do đó họ tin rằng đi thuyền về phía đông sẽ ngắn hơn nhiều. Sự trở lại của Dias từ Mũi Hảo Vọng vào năm 1488, và chuyến đi của Pêro da Covilhã đến Ethiopia cho thấy sự trù phú của Ấn Độ Dương có thể tiếp cận được từ Đại Tây Dương. Một cuộc thám hiểm dài hạn đã được chuẩn bị.

Dưới đời vua Manuel I xứ Bồ, vào tháng 7 năm 1497, một hạm đội thám hiểm nhỏ gồm bốn tàu và khoảng 170 người rời Lisbon dưới sự chỉ huy của Vasco da Gama. Đến tháng 12, hạm đội vượt qua sông Great Fish-nơi Dias đã quay trở lại-và đi vào vùng biển chưa có bản đồ. Vào ngày 20 tháng 5 năm 1498, họ đến Calicut. Những nỗ lực của Vasco da Gama để có được điều kiện giao dịch thuận lợi đã bị cản trở bởi hàng hóa không nổi bật của họ.[98] Hai năm và hai ngày sau khi khởi hành, Gama và đoàn sống sót 55 người trở về Bồ Đào Nha trong vinh quang khi họ là những người đầu tiên đi tàu từ châu Âu đến Ấn Độ.

Năm 1500, một đội tàu thứ hai, lớn hơn gồm mười ba tàu và khoảng 1500 người đã được gửi đến Ấn Độ. Dưới sự chỉ huy của Pedro Álvares Cabral, họ đã hạ cánh đầu tiên trên bờ biển Brazil; Sau đó, ở Ấn Độ Dương, một trong những tàu của Cabral đã đến Madagascar (1501), được Tristão da Cunha khám phá một phần vào năm 1507; Mauritius được phát hiện vào năm 1507, Socotra chiếm đóng vào năm 1506. Cùng năm đó, Lourenço de Almeida đổ bộ vào Sri Lanka, hòn đảo phía đông có tên "Taprobane" trong các tài khoản từ xa của Alexander Đại đế và nhà địa lý Hy Lạp thế kỷ thứ 4 Megasthenes. Trên lục địa Asiatic, các nhà máy đầu tiên (trụ sở giao dịch) được thành lập tại Kochi và Calicut (1501) và sau đó là Goa (1510).

Năm 1500, đoàn thứ hai, lớn hơn và gồm 1500 người được cử đến Ấn Độ. Dưới trướng Pedro Álvares Cabral, họ trông thấy đất liền Brazil; Sau đó, ở Ấn Độ Dương, một trong những chiếc tàu của Cabral cập bến Madagascar (1501), từng được khám phá một phần bởi Tristão da Cunha năm 1507; Mô-ri-xơ được phát hiện năm 1507, Socotra bị chiếm đóng năm 1506. Cùng năm đó, Lourenço de Almeida đổ bộ lên Sri Lanka, hòn đảo phía đông có tên "Taprobane" trong các ghi chép từ xa của nhà địa lý học Hy Lạp thế kỷ thứ IV của Alexander Đại đế tên Megasthenes. Trên lục địa Á, các thương điếm đầu tiên được thành lập tại Kochi và Calicut (1501) và sau đó là Goa (1510).

Các đảo Gia Vị và Trung QuốcSửa đổi

 
Bản sao của tàu carrack Flor de la Mar trở thành Bảo tàng Hàng hải của MalaccaMalaysia.

Năm 1511, Afonso de Albuquerque chinh phục Malacca dưới lá cờ Bồ Đào Nha, sau đó là trung tâm thương mại châu Á. Phía đông Malacca, Albuquerque đã gửi một số phái đoàn ngoại giao: Duarte Fernandes làm đặc phái viên châu Âu đầu tiên đến Vương quốc Xiêm (Thái Lan hiện đại).

Được tin về vị trí bí mật của thứ gọi là "đảo gia vị", quần đảo Maluku, chủ yếu là quần đảo Banda, bấy giờ là nguồn nhục đậu khấuđinh hương duy nhất, là mục đích chính cho các chuyến đi tới Ấn Độ, ông đã gửi một chuyến viễn chinh dưới quyền António de Abreu đến Banda (thông qua JavaQuần đảo Sunda nhỏ hơn), nơi họ là những người châu Âu đầu tiên cập bến vào đầu năm 1512, sau khi đi theo con đường mà họ cũng đã đi qua trước đó như các đảo Buru, Ambon và Seram.[99][100] Từ Banda Abreu trở về Malacca, phó thuyền trưởng Francisco Serrão, sau khi bị tách khỏi bởi một vụ đắm tàu ​​và đi về phía bắc, một lần nữa lại cập Ambon và chìm ở Ternate, nơi ông nhận được giấy phép xây dựng một thương điếm pháo đài Bồ Đào Nha: Pháo đài São João Baptista de Ternate, nơi thành lập sự hiện diện của Bồ Đào Nha tại Quần đảo Malay.

Vào tháng 5 năm 1513, ông Jorge Álvares, một trong những sứ thần Bồ Đào Nha, đến Trung Quốc. Mặc dù ông là người đầu tiên bước chân trên đảo Nội Linh ĐinhChâu thổ sông Châu Giang, nhưng đó là Rafael Perestrello, một người anh em họ của Christopher Columbus, mới là nhà thám hiểm châu Âu đầu tiên tới bờ biển phía nam Trung Quốc đại lục và buôn bán tại Quảng Châu vào năm 1516, chỉ huy một tàu Bồ Đào Nha với thủy thủ đoàn từ một thuyền Malacca đã khởi hành từ Malacca.[101][102] Fernão Pires de Andrade đến thăm Quảng Châu năm 1517 và mở cửa giao thương với Trung Quốc. Người Bồ Đào Nha bị Nhà Minh đánh đuổi năm 1521 tại Trận Truân Môn và năm 1522 tại Trận Thiến Thảo Loan, người Trung Quốc tịch thu được loại súng đại bác xoay của Bồ Đào Nha rồi cải biến chùng thành súng "Bật Lang Cơ" 佛郎機. Sau một vài thập kỷ, sự thù địch giữa người Bồ và Trung Quốc chấm dứt và vào năm 1557, Trung Quốc cho phép Bồ Đào Nha chiếm Ma Cao.

Để thực thi độc quyền thương mại, Muscat và Hormuz ở Vịnh Ba Tư, đã bị Afonso de Albuquerque chiếm đóng năm 1507 và năm 1515. Ông cũng thiết lập quan hệ ngoại giao với Ba Tư. Vào năm 1513 trong chiến dịch đánh chiếm Aden, đoàn thám hiểm do Albuquerque dẫn đầu đã khám phá Biển Đỏ bên trong Bab al-Mandab và trú ẩn tại đảo Kamaran. Năm 1521, lực lượng của António Correia chiếm Bahrain, mở ra thời kỳ gần 80 năm cai trị của Bồ Đào Nha trên quần đảo vùng Vịnh.​​[103] Ở Biển Đỏ, Massawa là điểm xa nhất mà người Bồ Đào Nha thường lui tới cho đến năm 1541, khi một hạm đội dưới Estevão da Gama xâm nhập đến tận Suez.

Thái Bình Dương (1513–1529)Sửa đổi

 
Hành trình của Vasco Núñez de Balboa đến "Biển Nam", năm 1513

Phát hiện Thái Bình DươngSửa đổi

Năm 1513, khoảng 40 dặm (64 km) về phía nam của Acandí, ngày nay thuộc Colombia, Vasco Núñez de Balboa nghe tin đồn về một vùng "biển khác" nhiều vàng.[48] Với một ít tài nguyên và sử dụng thông tin được cung cấp bởi các cacique (thủ lĩnh bộ tộc), ông băng qua eo Panama với 190 người Tây Ban Nha, một vài hướng dẫn viên bản địa và một đàn chó.

Sử dụng một tàu brigantine nhỏ và mười chiếc ca-nô bản địa, họ đi thuyền dọc theo bờ biển. Vào ngày 6 tháng 9, đoàn thám hiểm được tăng viện với 1.000 người, chiến đấu nhiều trận, đi qua một khu rừng rậm rạp và trèo lên dãy núi dọc theo sông Chucunaque mà có thể nhìn thấy "biển khác" này. Balboa đã đi trước và, trước buổi trưa ngày 25 tháng 9, ông phát hiện ở phía chân trời một vùng biển chưa được khám phá, trở thành người châu Âu đầu tiên nhìn thấy hoặc đến Thái Bình Dương từ Tân thế giới. Đoàn thám hiểm đã xuống bờ để thực hiện một chuyến thám sát ngắn, trở thành những người châu Âu đầu tiên định vị Thái Bình Dương từ Tân thế giới. Sau khi đi được hơn 110 km (68 dặm), Balboa đặt tên cho vịnh nơi họ dừng chân là San Miguel. Ông đặt tên cho biển mới là Mar del Sur (Biển Nam), vì họ đã đi về phía nam để đến đó. Mục đích chính của Balboa trong cuộc thám hiểm là tìm kiếm các vương quốc nhiều vàng. Để đạt được điều này, ông đã băng qua vùng đất của các caciques, đặt tên cho hòn đảo lớn nhất là Isla Rica (Đảo Giàu, ngày nay gọi là Isla del Rey). Ông đặt tên cho toàn bộ khu vực là Archipiélago de las Perlas, vẫn giữ cho đến ngày nay.

Các tiến triển về phía đôngSửa đổi

Vào năm 1515-1516, hạm đội Tây Ban Nha do Juan Díaz de Solís dẫn đầu men theo bờ biển phía đông Nam Mỹ đến tận Río de la Plata, nơi Solís đặt tên ngay trước khi chết, trong khi đang cố gắng tìm lối đi đến "Biển Nam".

Hành trình vòng quanh Trái Đất đầu tiênSửa đổi

 
Lộ trình của Magellan-Elcano đi vòng quanh thế giới (1519–1522)

Đến năm 1516, một số nhà hàng hải Bồ Đào Nha, uất ức vua Manuel I xứ Bồ, đã tập trung tại Seville để phụng sự vua Charles I mới đăng quang của vương quốc Tây Ban Nha. Trong số đó có các nhà thám hiểm Diogo và Duarte Barbosa, Estêvão Gomes, João SerrãoFerdinand Magellan, các nhà phác bản đồ Jorge ReinelDiogo Ribeiro, các nhà vũ trụ học Francisco và Ruy Faleiro và thương gia người Flemish Christopher de Haro. Ferdinand Magellan-người đã đi thuyền đến Ấn Độ dưới lá cờ Bồ Đào Nha tới năm 1513, dừng chân tại Quần đảo Maluku, vẫn giữ liên lạc với Francisco Serrão sống ở đó[49][50]-phát triển lý thuyết rằng các đảo này nằm trong khu vực Tordesillas của Tây Ban Nha, được hỗ trợ bởi nghiên cứu của anh em Faleiro.

Hay tin những nỗ lực của người Tây Ban Nha trong việc tìm đường đến Ấn Độ bằng cách đi về phía tây, Magellan đã trình bày kế hoạch của mình với Charles I của Tây Ban Nha. Nhà vua và Christopher de Haro quyết định tài trợ cho cuộc thám hiểm của Magellan. Một hạm đội được tập hợp lại và các nhà hàng hải Tây Ban Nha như Juan Sebastián Elcano đã tham gia vào cuộc viễn chinh. Vào ngày 10 tháng 8 năm 1519, họ khởi hành từ Seville với một đội tàu gồm năm chiếc - Trinidad là kỳ hạm dưới sự chỉ huy của Magellan, San Antonio, Concepcion, SantiagoVictoria, cái đầu là một chiếc ca-ra-vê và còn lại là tàu carrack hay "naus" - với một đội gồm khoảng 237 người đa quốc tịch, với mục tiêu là Quần đảo Maluku bằng cách đi về phía tây, đòi chủ quyền của chúng dưới phạm vi kinh tế và chính trị của Tây Ban Nha.[51]

 
Victoria, con tàu duy nhất chinh phục chuyến đi vòng quanh thế giới. (Từ Maris Pacifici bởi Ortelius, 1589.)

Hạm đội đi xa hơn về phía nam, tránh các lãnh thổ Bồ Đào Nha ở Brazil và trở thành những người đầu tiên đặt chân đến Tierra del Fuego ở mũi châu Mỹ. Vào ngày 21 tháng 10, bắt đầu từ Mũi Virgenes, họ vượt qua một eo biển dài 373 dặm (600 km) đầy gian nan mà Magellan đặt tên là Estrecho de Todos los Santos, chính là Eo biển Magellan hiện đại. Vào ngày 28 tháng 11, ba chiêc tàu đã vào Thái Bình Dương, sau đó được đặt tên là Mar Pacífico vì biển lặng.[52] Đoàn thám hiểm vượt Thái Bình Dương. Magellan bỏ mạng trong trận MactanPhilippines. Juan Sebastián Elcano sau đó được bổ nhiệm thành lãnh đạo trong suốt hành trình còn lại, đến Quần đảo Gia Vị vào năm 1521. Vào ngày 6 tháng 9 năm 1522, Victoria trở về Tây Ban Nha, hoàn thành chuyến đi vòng địa cầu đầu tiên trong lịch sử. Trong số những thủy thủ đoàn, chỉ có 18 người quay trở lại Tây Ban Nha trên một con tàu duy nhất do Elcano dẫn đầu. 17 người khác quy về Tây Ban Nha sau đó: 12 người bị Bồ Đào Nha bắt ở Mũi Verde vài tuần trước đó, và từ năm 1525 đến 1527, và 5 người sống sót trên tàu Trinidad. Antonio Pigafetta, một học giả và lữ khách người Venice, người đã tình nguyện tham gia và trở thành trợ lý đắc lực của Magellan, giữ một nhật ký kể lại chi tiết về chuyến đi này.

Chuyến công du này đã đem lại cho Tây Ban Nha những kiến ​​thức quý giá về thế giới và các đại dương mà sau này sẽ giúp ích cho việc thăm dò và định cư của họ ở Philippines. Mặc dù đây không phải là một giải pháp thay thế khả thi cho tuyến đường Bồ Đào Nha ngắn hơn quanh Châu Phi[53] (Eo biển Magellan quá xa về phía nam và Thái Bình Dương quá rộng lớn), các đoàn thám hiểm Tây Ban Nha đã sử dụng thông tin này để khám phá Thái Bình Dương và phát hiện các tuyến đường mở ra giao thương giữa Acapulco, Tân tây Ban Nha (Mexico ngày nay) và Manila ở Philippines.

Thăm dò về phía tây và phía đông tụ họpSửa đổi

 
Quang cảnh nhìn từ Ternate sang các đảo Tidore tại Maluku, nơi những cuộc viễn chinh về phía đông của Bồ Đào Nha và về phía tây của Tây Ban Nha đụng chạm giữa năm 1522 và 1529[54][55]
 
Các nỗ lực bất thành của Saavedra để tìm tuyến đường từ Maluku về Tân Tây Ban Nha (Mexico) năm 1529

Ngay sau cuộc thám hiểm của Magellan, người Bồ Đào Nha đã vội vã bắt giữ sô thủy thủ còn sống sót và cho xây một pháo đài ở Ternate.[54] Năm 1525, Charles I xứ Tây Ban Nha đã phái một đoàn thám hiểm khác về phía tây để đánh chiếm quần đảo Maluku, tuyên bố rằng đó là khu vực của Tây Ban Nha theo Hiệp ước Tordesillas. Hạm đội gồm bảy tàu và 450 người chỉ huy bởi García Jofre de Loaísa và quy tụ các nhà hàng hải nổi tiếng nhất của Tây Ban Nha: Juan Sebastián Elcano và Loaísa, người đã mất mạng sau đó, và Andrés de Urdaneta.

Gần eo biển Magellan, một trong những con tàu bị một cơn bão đẩy về phía nam, đạt tới 56°Nam, nơi họ khẳng định là đã nhìn thấy nơi "tận cùng trái đất": đây là lần đầu tiên Mũi Horn bị vượt qua. Đoàn thám hiểm gặp khó khăn trong hành trình, cập cảng Tidore.[54] Xung đột với người Bồ Đào Nha nổ ra ở Ternate gần đó là không thể tránh khỏi, bắt đầu gần một thập kỷ của những cuộc tranh giành lãnh thổ.[56][57]

Vì không có giới hạn phía đông đối với đường kẻ Tordesillas, cả hai vương quốc đã tổ chức các cuộc họp để giải quyết vấn đề. Từ 1524 đến 1529, các chuyên gia Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha đã gặp nhau tại Badajoz-Elvas để tìm vị trí chính xác của đường đối lập của Tordesillas, nhằm chia địa cầu thành hai bán cầu bằng nhau. Mỗi vương quốc bổ nhiệm ba nhà thiên văn học và người phác bản đồ, ba thuyền trưởng và ba nhà toán học. Lopo Homem, người phác bản đồ và nhà thiên văn học người Bồ Đào Nha đã tham gia hội đồng, cùng với người phác bản đồ Diogo Ribeiro trong phái đoàn Tây Ban Nha. Hội đồng đã họp nhiều lần, mà không đi đến được thỏa thuận nào: kiến ​​thức tại thời điểm đó không đủ để tính toán kinh độ chính xác, và các bên thì khăng khăng đòi chủ quyền các hòn đảo. Vấn đề chỉ được giải quyết vào năm 1529, sau một cuộc đàm phán dài, với việc ký kết Hiệp ước Zaragoza, quy kết quần đảo Maluku cho Bồ Đào Nha và Philippines cho Tây Ban Nha.[58]

Từ năm 1525 đến 1528, Bồ Đào Nha đã gửi một số chuyến thám hiểm quanh Quần đảo Maluku. Gomes de Sequeira và Diogo da Rocha được gửi đến phía bắc bởi thống đốc Ternate Jorge de Menezes, là những người châu Âu đầu tiên đến Quần đảo Caroline, nơi họ đặt tên là "Quần đảo de Sequeira".[59] Năm 1526, Jorge de Meneses cập cảng trên đảo Biak và Waigeo, Papua New Guinea. Dựa trên những khám phá này mà giả thuyết về khám phá Úc của Bồ Đào Nha ra đời, nói rằng Bồ Đào Nha tìm ra chau Úc đầu tiên, được sử dụng bởi nhà sử học người Úc Kenneth McIntyre, bởi Cristóvão de MendonçaGomes de Sequeira.

Tây Ban Nha tiến hành cuộc chinh phạt Châu Mỹ (1519–1532)Sửa đổi

Tin đồn về các hòn đảo chưa được khám phá ở tây bắc của Hispaniola đã đến tai Tây Ban Nha vào năm 1511 và được vua Ferdinand II xứ Aragon quan tâm. Trong khi người Bồ Đào Nha đã đạt được những thành tựu to lớn ở Ấn Độ Dương, thì người Tây Ban Nha đã đầu tư vào việc khám phá nội địa để tìm kiếm vàng và các tài nguyên quý giá. Các thành viên của những cuộc thám hiểm này, "conquistador", có xuất giá khác nhau bao gồm nghệ nhân, thương nhân, giáo sĩ, tiểu quý tộc và nô lệ tự do. Họ thường được cung cấp thiết bị của riêng họ để đổi lấy một phần lợi nhuận, không có mối liên hệ trực tiếp với quân đội hoàng gia và thường không có kinh nghiệm hoặc huấn luyện quân sự chuyên nghiệp.[60]

Ở châu Mỹ, người Tây Ban Nha đã tìm thấy nhiều đế chế rộng lớn và đông dân như ở châu Âu. Mặc cho quân số conquistador ít hơn, họ vẫn lật đổ được những liệt cường này. Trong thời kì này, đại dịch bệnh từ châu Âu như bệnh đậu mùa tàn phá dân cư bản địa. Sau khi chủ quyền của Tây Ban Nha được thiết lập, Tây Ban Nha tập trung vào việc khai thác và xuất khẩu vàng và bạc.

Năm 1512, để trao thưởng cho Juan Ponce de León vì đã khám phá Puerto Rico vào năm 1508, vua Ferdinand đã thúc giục ông khám phá những vùng đất mới này. Ông sẽ trở thành thống đốc của những vùng đất được khám phá, nhưng phải tự mình tài trợ cho tất cả các cuộc thám hiểm.[61] Với ba tàu và khoảng 200 người, Léon khởi hành từ Puerto Rico vào tháng 3 năm 1513. Vào tháng 4, họ nhìn thấy đất liền và đặt tên là La Florida, vì lúc đo là mùa Phục sinh (Florida), tin rằng nơi đây là một hòn đảo, được coi là châu Âu đầu tiên đặt chân lên lục địa. Địa điểm đặt chân đang bị tranh cãi giữa St. Augustine,[62] Ponce de León InletMelbourne Beach. Họ tiến về phía nam và vào ngày 8 tháng 4 đã gặp một dòng chảy mạnh đến nỗi nó đẩy họ lùi lại: đây là cuộc chạm trán đầu tiên với dòng Hải lưu Gulf Stream, sau này sẽ cực kì quan trọng trong chuyến hành trình từ Ấn về Âu.[63] Họ tới tận Vịnh Biscayne, Dry Tortugas và sau đó đi thuyền về phía tây nam trong một nỗ lực để vòng qua Cuba để trở về, đến Grand Bahama vào tháng Bảy.

Cortés ở Mexico và Đế quốc AztecSửa đổi

 
Lộ trình của Cortés trong nội địa Trung Bộ Mỹ 1519–1521

Năm 1517, thống đốc Velázquez de Cuéllar của Cuba cử một hạm đội dưới sự chỉ huy của Hernández de Córdoba đi khám phá bán đảo Yucatán. Họ đến bờ biển nơi người Maya chào đón họ, nhưng bị phục kích lúc ban đêm và chỉ còn một số ít quay trở về. Velázquez sau đó cử một đoàn thám hiểm khác do cháu trai ông Juan de Grijalva dẫn đầu, đi thuyền về phía nam dọc bờ biển tới Tabasco, lãnh thổ của đế quốc Aztec. Năm 1518, Velázquez đã trao cho thị trưởng thủ đô của Cuba, Hernán Cortés, một đoàn thám hiểm để bình định nội địa Mexico, nhưng do hiếm khích cũ giữa họ, đã khước từ lời đề nghị.

Vào tháng 2 năm 1519, Cortés vẫn khởi hành chống chế. Với khoảng 11 tàu, 500 người, 13 con ngựa và một số lượng nhỏ pháo cập bến Yucatán, lãnh thổ của người Maya,[64] tuyên bố giành đất cho vương miện Tây Ban Nha. Từ Trinidad, ông tiến tới Tabasco và giành chiến thắng trước người bản xứ. Ông được trao cho nữ nô lệ tên La Malinche, người tình tương lai của ông. Bà biết nói hai ngôn ngữ là tiếng Nahuatl (Aztec) và tiếng Maya, rồi trở thành một thông dịch viên và cố vấn có giá trị. Thông qua bà, Cortés biết về Đế quốc Aztec thịnh vượng.

Vào tháng 7, người của ông tiếp quản Veracruz và ông đặt mình dưới sự chỉ huy trực tiếp của vị vua mới Charles I của Tây Ban Nha.[121] Tại đó, Cortés đã yêu cầu một cuộc gặp với Hoàng đế Aztec Montezuma II, người liên tục khước từ. Họ tiến đến Tenochtitlan và trên đường lập liên minh với nhiều bộ lạc và thành bang. Vào tháng 10, sáp nhập với khoảng 3.000 quân Tlaxcaltec, hành quân đến Cholula, thành bang lớn thứ hai tại miền trung Mexico. Để gieo rắc nỗi sợ và răn đe những kẻ chống đối, ông cho hành quyết hàng ngàn quý tộc và cho đốt một phần thành phố.

 
Sơ đồ thành Tenochtitlán và vịnh Mexico phác thảo bởi người của Cortés, năm 1524, Thư viện Newberry, Chicago

Đến Tenochtitlan, vào ngày 8 tháng 11, họ được Moctezuma II đón tiếp tử tế, cố tình cho Cortés vào trung tâm của Đế quốc Aztec, hy vọng để hiểu rõ họ hơn và đánh bại họ sau này.[64] Hoàng đế dâng tặng họ những món quà xa hoa bằng vàng, thứ đã lôi kéo họ cướp bóc số lượng lớn. Trong những bức thư gửi cho vua Charles, Cortés tuyên bố rằng ông được người Aztec coi là một sứ giả của vị thần rắn có lông Quetzalcoatl hoặc chính là vị Quetzalcoatl-một điều gây tranh cãi trong cộng đồng sử gia hiện đại.[65] Hay tin quân Aztec đánh úp người của Cortés trên bờ biển, Cortés bắt giữ Hoàng đế làm con tin và đòi tiền chuộc để dâng về cho vua Charles.

Trong khi đó, Velasquez đã gửi một đoàn thám hiểm khác, dẫn đầu bởi Pánfilo de Narváez đi bắt Cortès, đến Mexico vào tháng 4 năm 1520 với 1.100 người.[64] Cortés để lại 200 người ở Tenochtitlan và mang phần còn lại đối đầu với Narvaez. Cortés chiến thắng và thuyết phục những người còn lại tham gia cùng ông. Ở Tenochtitlán, một trong số các trung úy của Cortés thảm sát quý tộc Aztec tại Đền Lớn, khiến dân địa phương nổi dậy. Cortés nhanh chóng quay trở lại, cố gắng thuyết phục Moctezuma nhưng hoàng đế Aztec đã bị giết, có thể đã bị thần dân của chính mình ném đá đến chết.[66] Quân Tây Ban Nha tháo chạy về Tlaxcaltec trong sự kiện Noche Triste (Đêm Sầu) với thương vong lớn. Phần lớn kho báu bị cướp phá bị đánh rơi trong cuộc chạy trốn.[64] Sau trận Otumba, họ đến Tlaxcala, mất 870 người.[64] Sau khi có được sự trợ giúp của các đồng minh và quân tiếp viện từ Cuba, Cortés vây hãm Tenochtitlán và bắt Cuauhtémoc vào tháng 8 năm 1521. Ông giải thể Đế quốc Aztec, tuyên bố chủ quyền của Tây Ban Nha, đổi tên thành Thành phố Mexico.

Pizarro ở Peru và Đế quốc IncaSửa đổi

 
Lộ trình của Francisco Pizarro trong cuộc chinh phạt Peru (1531–1533)

Nỗ lực đầu tiên để khám phá miền tây Nam Mỹ là vào năm 1522 bởi Pascual de Andagoya. Người Nam Mỹ bản địa kể với ông về một đất nước thịnh vượng trên một con sông tên là Pirú. Đến sông San Juan (Colombia), Andagoya đổ bệnh và trở về Panama, nơi ông lan truyền tin tức về "Pirú", thành phố El Dorado huyền thoại. Những tin tức này, cùng với các cuộc chinh phạt mới đây của Hernán Cortés, đã thu hút sự chú ý của Pizarro.

Francisco Pizarro đã đi cùng Balboa trong chuyến vượt qua eo đất Panama. Năm 1524, ông thiết lập quan hệ đối tác với linh mục Hernando de Luque và người lính Diego de Almagro để khám phá miền nam, đồng ý chia lợi nhuận. Họ đặt tên cho cuộc viễn chinh là "Empresa del Levante": Pizarro sẽ chỉ huy, Almagro sẽ cung cấp quân lực và thực phẩm, và Luque sẽ chịu trách nhiệm về tài chính và các đồ tiếp tế bổ sung.

Vào ngày 13 tháng 9 năm 1524, chuyến thám hiểm đầu tiên trong ba cuộc hành trình chinh phục Peru gồm khoảng 80 người và 40 con ngựa. Cuộc thám hiểm là một thất bại, mới tới Colombia trước khi chịu thua trước thời tiết xấu, đói và giao tranh với người dân bản địa thù địch, nơi Almagro bị mất một mắt. Các địa danh được đặt dọc theo tuyến đường của họ, Puerto deseado (cảng mong muốn), Puerto del hambre (cảng đói) và Puerto quemado (cảng bị đốt cháy), chứng thực cho những khó khăn trong hành trình của họ. Hai năm sau, họ bắt đầu một cuộc thám hiểm thứ hai với sự cho phép miễn cưỡng từ Thống đốc Panama. Vào tháng 8 năm 1526, họ rời đi với hai chiếc tàu, 160 người và nhiều con ngựa. Khi đến sông San Juan, họ tách ra, Pizarro ở lại để khám phá bờ biển đầm lầy và Almagro gửi trở lại để tiếp viện. Thuyền trưởng chính của Pizarro đi thuyền về phía nam và sau khi băng qua đường xích đạo, đã chiếm được một chiếc bè từ Tumbes. Trước sự ngạc nhiên của họ, nó mang theo hàng dệt may, gốm và vàng, bạc và ngọc lục bảo, tâm điểm của cuộc thám hiểm. Chẳng mấy chốc, Almagro đã mang theo quân tiếp viện và họ lại tiếp tục. Sau một chuyến đi khó khăn phải đối mặt với những cơn gió và dòng chảy mạnh, họ đến Atacames nơi tìm thấy một dân số bản địa lớn dưới sự cai trị của Inca.

Pizarro vẫn an toàn gần bờ biển, trong khi Almagro và Luque quay trở lại mang thêm tiếp viện với bằng chứng về vàng được đồn đại. Thống đốc mới khước từ một cuộc thám hiểm thứ ba và ra lệnh cho hai tàu đưa tất cả mọi người trở lại Panama. Almagro và Luque nắm bắt cơ hội để gia nhập Pizarro. Khi họ đến Isla de Gallo, Pizarro đã vẽ một đường trên cát, nói: "Peru đó với sự giàu có của nó; Đây, Panama với sự nghèo khó của nó. Hãy chọn, mỗi người, điều tốt nhất để trở thành một người Castilia dũng cảm." Mười ba người đàn ông quyết định ở lại và được gọi là The Famous Thirteen. Họ hướng đến La Isla Gorgona, nơi họ ở lại bảy tháng chờ đồ tiếp tế.

Họ quyết định đi thuyền về phía nam và đến tháng 4 năm 1528, đã đến Vùng Tumbes phía tây bắc Peru và được người Tumpis địa phương đón chào nồng nhiệt. Hai người của Pizarro đã báo cáo sự giàu có đáng kinh ngạc, bao gồm cả đồ trang trí bằng vàng và bạc xung quanh nhà của tù trưởng. Lần đầu tiên họ nhìn thấy một con llama mà Pizarro gọi là "những con lạc đà nhỏ". Người bản địa đặt tên cho người Tây Ban Nha là "Những đứa trẻ của Mặt trời" vì nước da trắng và những chiếc áo giáp rực rỡ mà họ mặc. Sau đó, họ quyết định trở về Panama để chuẩn bị một chuyến thám hiểm cuối cùng. Trước khi rời đi, họ đi thuyền về phía nam qua các vùng lãnh thổ mà họ đặt tên là Cabo Blanco, cảng Payta, Sechura, Punta de Aguja, Santa Cruz và Trujillo, đạt đến 9 độ nam.

Vào mùa xuân năm 1528, Pizarro đi thuyền đến Tây Ban Nha, nơi ông diện kiến vua Charles I. Nhà vua đã nghe về những chuyến thám hiểm của ông ở vùng đất giàu vàng và bạc và hứa sẽ trợ cấp cho ông. Capitulación de Toledo[67] ủy quyền cho Pizarro tiến hành cuộc chinh phạt Peru. Pizarro sau đó đã có thể thuyết phục được nhiều bạn bè và người thân tham gia: anh em của ông là Hernándo Pizarro, Juan Pizarro, Gonzalo Pizarro và cả Francisco de Orellana, người sau này sẽ khám phá sông Amazon, cũng như người anh em họ Pedro Pizarro.

Chuyến thám hiểm thứ ba và cuối cùng của Pizarro rời từ Panama đến Peru vào ngày 27 tháng 12 năm 1530. Với ba tàu và 180 người, họ xuống thuyền gần Ecuador và đi thuyền đến Tumbes, thấy rằng nơi này đã bị phá hủy. Họ tiến vào sâu trong nội địa và thành lập khu định cư Tây Ban Nha đầu tiên ở Peru, San Miguel de Piura. Một trong những người đã trở lại với một phái viên Inca và lời mời cho một cuộc họp. Kể từ lần trước, đế quốc Inca đang chìm trong cuộc nội chiếnAtahualpa đang ở miền bắc Peru sau khi đánh bại anh trai là Huáscar. Sau khi hành quân được hai tháng, họ tiếp cận Atahualpa. Tuy nhiên, ông từ chối người Tây Ban Nha, nói rằng ông sẽ "không quy thuận bất kỳ ai". Người Tây Ban Nha có 200 quân đối đầu với 80.000 quân Inca. Tuy bị áp đảo, Pizarro chiến thắng trận Cajamarca, bắt sống Atahualpa và đòi tiền chuộc. Mặc dù đã thực hiện lời hứa vàng lấp đầy một phòng và bạc lấp đầy hai phòng, ông bị kết án vì giết anh trai và âm mưu chống lại Pizarro, bị đem ra xử tử.

Năm 1533, Pizarro đánh chiếm Cuzco bằng quân bản địa và viết cho vua Charles I: "Thành phố này có thể coi là vĩ đại nhất và đẹp nhất ở đất nước này hoặc bất cứ nơi nào ở Ấn Độ... nó quả thật rất đẹp và có những tòa nhà lộng lẫy đến mức nó sẽ nổi bật ngay cả ở Tây Ban Nha." Sau khi người Tây Ban Nha hoàn thành cuộc chinh phạt Peru, Jauja tại Thung lũng Mantaro màu mỡ được thành lập làm thủ đô tạm thời của Peru, nhưng do ở trên núi, không thuận tiện việc đi lại, Pizarro thay vào đó cho thành lập Lima vào ngày 18 tháng 1 năm 1535, mà Pizarro coi là thành tựu đáng nhớ nhất trong cuộc đời ông.

Tuyến giao thương mới (1542–1565)Sửa đổi

Năm 1543, ba thương nhân Bồ Đào Nha vô tình trở thành những người phương Tây đầu tiên cập cảng và giao dịch với Nhật Bản. Theo Fernão Mendes Pinto, người tự nhận là tham gia cuộc hành trình đó, họ đã đến Tanegashima, nơi dân địa phương bị ấn tượng bởi công nghệ súng của họ sau này sẽ được người Nhật chế tạo trên quy mô lớn. [125]

Cuộc chinh phạt Philippines của Tây Ban Nha được vua Philip II khơi mào và Andrés de Urdaneta là chỉ huy được bổ nhiệm. Urdaneta đồng ý tham gia nhưng từ chối quyền chỉ huy và Miguel López de Legazpi được thay thế. Đoàn thám hiểm ra khơi vào tháng 11 năm 1564.[126] Sau khi dành một chút thời gian trên các hòn đảo, Legazpi đã gửi Urdaneta trở lại để tìm tuyến đường trở về thuận lợi hơn. Urdaneta rời San Miguel trên đảo Cebu vào ngày 1 tháng 6 năm 1565, nhưng buộc phải đi xa tới 38 độ vĩ Bắc để đón gió.

Ông lý luận rằng gió mậu dịch Thái Bình Dương thổi theo kiểu vòng hải lưu giống gió Đại Tây Dương. Nếu ở Đại Tây Dương, tàu thuyền phải thực hiện Volta do mar để đón gió đưa chúng trở về từ Madeira, thì, ông giả định, bằng cách đi lên bắc trước khi sang phía đông, ông có thể đón gió mậu dịch đưa ông tới bờ Bắc Mỹ. Linh cảm của ông quả là không sai, và cơn gió đưa ông đến Mũi Mendocino, California, sau đó đi về phía nam. Con tàu cập cảng Acapulco, ngày 8 tháng 10 năm 1565,đi 12.000 dặm (19.312 km) chỉ trong 130 ngày. Mười bốn thủy thủ thiệt mạng; chỉ có Urdaneta và Felipe de Salcedo, cháu trai của López de Legazpi, có đủ sức để thả neo.

Từ đó, một tuyến đường xuyên Thái Bình Dương đã được thiết lập, giữa Mexico và Philippines. Trong một thời gian dài, các tuyến đường này đã được sử dụng bởi các thuyền galleon Manila, tạo ra một mạng lưới thương mại nối liền Trung Quốc, Châu Mỹ và Châu Âu thông qua các tuyến xuyên Thái Bình Dương và xuyên Đại Tây Dương.

Sự góp sức của Bắc Âu (1595 – thế kỷ XVII)Sửa đổi

 
Năm 1570 (20 tháng 5) Gilles Coppens de Diest tại Antwerp xuất bản 53 tấm bản đồ bởi Abraham Ortelius dưới nhan đề Theatrum Orbis Terrarum, được coi là "tấm atlas hiện đại đầu tiên". Ba ấn bản La-tinh (bên cạnh một bản Hà Lan, một bản Pháp và một bản Đức) tồn tại trước cuối năm 1572; tấm atlas còn được đòi hỏi vào năm 1612. Đây là bản đồ thế giới của tấm atlas.

Các nước ngoại Iberia không thừa nhận Hiệp ước Tordesillas. Pháp, Hà Lan và Anh cũng có truyền thống hàng hải lâu đời. Bất chấp sự bưng bít của người Iberia, các công nghệ và bản đồ mới đã sớm lan tới phía bắc.

Năm 1568, người Hà Lan nổi dậy chống Philip II xứ Tây Ban Nha dẫn đến Chiến tranh Tám mươi năm. Chiến tranh giữa Anh và Tây Ban Nha cũng nổ ra. Năm 1580 Philip II trở thành Vua Bồ Đào Nha, với tư cách là người thừa kế Vương miện.

Quân đội của Philip đánh chiếm các thành phố then chốt BrugesGhent. Antwerp, khi đó là hải cảng quan trọng bậc nhất trên thế giới, bị chiếm vào năm 1585. Dân Kháng Cách được trao hai năm để giải quyết thủ tục trước khi rời khỏi thành phố.[68] Nhiều người tái định cư ở Amsterdam. Những người này chủ yếu là thợ thủ công lành nghề, thương nhân giàu có của các thành phố cảng và người tị nạn chạy trốn khỏi cuộc đàn áp tôn giáo, đặc biệt là người Do Thái Sephardi từ Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, và sau đó, người Huguenots từ Pháp. Những Cha Hành Hương cũng dành thời gian ở đó trước khi đến Thế giới mới. Cuộc di dân hàng loạt này là một động lực quan trọng: từng là một cảng nhỏ vào năm 1585, Amsterdam nhanh chóng nở rộ thành một trong những trung tâm thương mại quan trọng nhất trên thế giới. Sau thất bại của Hạm đội Tây Ban Nha năm 1588, thương mại hàng hải được mở rộng mặc dù thất bại của Hạm đội Anh vào năm sau đã khẳng định uy lực khủng khiếp của hải quân Tây Ban Nha.

Sự trỗi dậy của Hà Lan rất nhanh chóng và đáng chú ý: các thủy thủ Hà Lan đã từng tham gia vào các chuyến đi của Bồ Đào Nha đến phía đông. Năm 1592, Cornelis de Houtman được các thương nhân Hà Lan gửi đến Lisbon, để thu thập thông tin về Quần đảo Gia Vị. Năm 1595, thương nhân và nhà thám hiểm Jan Huyghen van Linschoten, đi Ấn Độ Dương phụng sự Bồ Đào Nha, đã xuất bản một báo cáo ở Amsterdam, "Reys-gheschrift vande navigatien der Portugaloysers in Orienten" ("Báo cáo về hành trình thông qua sự điều hướng của người Bồ Đào Nha ở phía Đông ").[69] Bao gồm các hướng dẫn về cách di chuyển giữa Bồ Đào Nha và Đông Ấn và đến Nhật Bản. Cùng năm đó, Houtman dẫn đầu chuyến thám hiểm đầu tiên của Hà Lan theo chỉ dẫn trong cuốn sách kể trên và đã phát hiện ra một tuyến đường biển mới, đi thẳng từ Madagascar đến Eo biển Sunda ở Indonesia và ký hiệp ước với Quốc vương Banten.

Mối quan tâm của Hà Lan và Anh dẫn đến một phong trào mở rộng thương mại và kiến lập nền tảng của các công ty hiến chương Anh (1600) và Hà Lan (1602). Hà Lan, Pháp và Anh bắt đầu gửi tàu vào vùng biển của Bồ Đào Nha, tập trung chủ yếu ở các khu vực ven biển.[70]

Khai phá Bắc MỹSửa đổi

 
Bản đồ cuộc hành trình 1609–1611 của Henry Hudson đến Bắc Mỹ dưới danh nghĩa của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC)

Cuộc thám hiểm của Anh năm 1497 do người Venice tên John Cabot (Giovanni Caboto) dẫn đầu là chuyến đầu tiên trong một loạt các sứ mệnh của Pháp và Anh khám phá Bắc Mỹ. Tây Ban Nha không mấy tập trung vào phía bắc châu Mỹ, vì tài nguyên ở Trung và Nam Mỹ dồi dào hơn.[7] Những cuộc thám hiểm này hy vọng sẽ tìm thấy một tuyến Tây Bắc đại dương cho thương mại với châu Á.[7] Con đường đó chưa bao giờ được phát hiện, nhưng nhiều phương án khác đã được phát hiện, và vào đầu thế kỷ XVII, dân định cư từ một số nước Bắc Âu bắt đầu mưu sinh ở bờ biển phía đông Bắc Mỹ. Khoảng năm 1520–1521, João Álvares Fagundes, cùng với các cặp vợ chồng từ Bồ Đào Nha và Azores, khám phá NewfoundlandNova Scotia (có thể đến Vịnh Fundy trên lưu vực Minas [131]) và thành lập một thuộc địa chài lưới tại Mũi Đảo Breton, tồn tại đến đến khoảng năm 1570 hoặc gần cuối thế kỷ này.[71]

Năm 1524, Giovanni da Verrazzano người Ý thám hiểm dưới danh nghĩa vua Francis I của Pháp, sự chia cắt thế giới giữa Bồ và Tây Ban Nha thúc đẩy ông thực hiện chuyến đi này. Verrazzano khám phá Bờ biển Đại Tây Dương của Bắc Mỹ, từ Nam Carolina đến Newfoundland, và là người châu Âu đầu tiên được ghi nhận đến thăm nơi sau này trở thành Thuộc địa Virginia và Hoa Kỳ. Cùng năm, Estevão Gomes, người phác bản đồ Bồ Đào Nha đi theo hạm đội của Ferdinand Magellan, khám phá Nova Scotia, đi thuyền về phía Nam vượt Maine, nơi ông đến cảng New York, sông Hudson và cuối cùng đến Florida vào tháng 8 năm 1525. Từ kết quả của chuyến thám hiểm, bản đồ thế giới năm 1529 của Diogo Ribeiro phác thảo bờ biển phía đông của Bắc Mỹ gần như hoàn hảo. Từ 1534 đến 1536, nhà thám hiểm người Pháp Jacques Cartier, được cho là đã đi cùng Verrazzano tới Nova Scotia và Brazil, là người châu Âu đầu tiên vào nội địa Bắc Mỹ, mô tả Vịnh Saint Lawrence, mà ông đặt tên là "Quốc gia Canada", theo tên người Iroquois, tuyên bố chủ quyền Canada cho Francis I của Pháp. [72][73]

 
Con tàu của Henry Hudson tên Halve Maen tại Sông Hudson

Người châu Âu bắt đầu khám phá bờ biển Thái Bình Dương vào giữa thế kỷ XVI. Francisco de Ulloa khám phá bờ biển Thái Bình Dương của Mexico ngày nay là Vịnh California, chứng minh rằng Baja California thực chất là một bán đảo.[74] Bất chấp khám phá này, châu Âu vẫn tin rằng California là một hòn đảo. Ghi chép của ông là lần đầu tiên cái tên "California" được sử dụng. João Coleues Cabrilho, hoa tiêu người Bồ Đào Nha phụng sự Vương quốc Tây Ban Nha, là người châu Âu đầu tiên đặt chân đến California, cập bến vào ngày 28 tháng 9 năm 1542 trên bờ vịnh San Diego và tuyên bố California thuộc Tây Ban Nha.[75] Ông cũng tới San Miguel của Quần đảo Channel và đi đến tận Point Reyes. Sau khi ông qua đời, thủy thủ đoàn tiếp tục thám hiểm đến tận phía bắc Oregon.

Chỉ huy hải quân người Anh, Francis Drake đi thuyền dọc bờ biển vào năm 1579 quanh phía bắc nơi Cabrillo hạ chân, vị trí thực của cuộc đổ bộ của Drake vẫn là bí ẩn và chưa được xác định[137][138] Nottand tuyên bố vùng đất này là của Anh,[139] Nova Albion. Do đó, thuật ngữ "Nova Albion" đã được sử dụng trên nhiều bản đồ châu Âu để chỉ định lãnh thổ phía bắc các khu định cư Tây Ban Nha.[76]

Giữa năm 1609 và 1611, sau nhiều chuyến đi thay mặt cho các thương nhân người Anh khám phá Tuyến đường Đông Bắc giả thuyết đến Ấn Độ, Henry Hudson của Vương quốc Anh, dưới sự bảo trợ của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), đã khám phá khu vực xung quanh Thành phố New York ngày nay, trong khi tìm kiếm một tuyến đường sang phía tây đến châu Á. Ông đã khám phá sông Hudson và đặt nền móng cho quá trình thuộc địa hóa khu vực của Hà Lan. Chuyến thám hiểm cuối cùng của Hudson đi xa hơn về phía bắc để tìm kiếm hành lang Tây Bắc, dẫn đến việc ông tìm ra Eo biển HudsonVịnh Hudson. Sau khi trú đông ở Vịnh James, Hudson đã cố gắng tiếp tục hành trình vào mùa xuân năm 1611, nhưng thủy thủ đoàn của ông nổi loạn và bỏ ông lại.

Tìm kiếm hải tuyến phía BắcSửa đổi

 
Bản đồ của vùng Cực năm 1599 bởi Willem Barentsz trong chuyến hành trình thứ ba của ông

Pháp, Hà Lan và Anh bị bỏ lại trong cuộc đua tìm tuyến đường biển đến châu Á, chỉ có thể qua châu Phi hoặc Nam Mỹ. Khi nhận ra rằng không có con đường nào xuyên qua trái tim của châu Mỹ, họ chuyển sự chú ý tới vùng biển phía bắc, mà người Anh gọi là hành lang Tây Bắc. Mong muốn thiết lập một tuyến đường như vậy đã thúc đẩy phần lớn cuộc thám hiểm châu Âu ở cả hai bờ biển Bắc Mỹ và Nga. Ở Nga, ý tưởng về một con đường biển khả dĩ nối Đại Tây Dương và Thái Bình Dương lần đầu tiên được đưa ra bởi nhà ngoại giao Gerasimov vào năm 1525, mặc dù những người định cư Nga trên bờ Biển Trắng, người Pomors, đã khám phá nhiều phần cảu nơi này ngay từ Thế kỷ XI.

Năm 1553, nhà thám hiểm người Anh Hugh Willoughby cùng với thuyền trưởng Richard Chancellor đã được phái đi cùng với ba tàu của Công ty thương gia thám hiểm đến vùng đất mới Luân Đôn để tìm kiếm hành lang. Trong chuyến hành trình qua Biển Barents, Willoughby cho rằng ông đã nhìn thấy những hòn đảo ở phía bắc và những hòn đảo có tên Willoughby's Land được hiển thị trên bản đồ do Plancius và Mercator xuất bản vào những năm 1640.[141] Hải đoàn bị cản trở bởi "những cơn lốc khủng khiếp" trên biển Na Uy và Willoughby đi vào một vịnh gần biên giới hiện tại giữa Phần Lan và Nga. Các tàu của ông với đoàn thủy thủ bị đóng băng, bao gồm Thuyền trưởng Willoughby và nhật ký của ông, đã được ngư dân Nga tìm thấy một năm sau. Richard Chancellor đã neo đậu ở Biển Trắng và đi tới Moscow diện kiến Sa hoàng Ivan, mở cửa thương mại giữa Nga và Công ty sau này trở thành Công ty Muscovy.

Barentsz khám phá vùng cực BắcSửa đổi

Ngày 5 tháng 6 năm 1594, nhà vẽ bản đồ người Hà Lan Willem Barentsz khởi hành từ Texel với một hạm đội gồm ba tàu tiên vào Biển Kara, với hy vọng tìm thấy Hành lang Đông Bắc phía trên Siberia.[142] Tại đảo Williams, thủy thủ đoàn lần đầu tiên bắt gặp một con gấu Bắc cực. Họ chật vật để đưa con thú lên thuyền, nhưng con gấu quá hung hăng và phải bị giết. Barentsz đến bờ biển phía tây Novaya Zemlya và theo nó về phía bắc, trước khi bị buộc phải quay trở lại khi phải đối mặt với những tảng băng lớn.

Năm sau, Hoàng tử Maurice xứ Nasau dẫn đầu đoàn thám hiểm mới gồm 6 chiếc thuyền, chứa đầy hàng hóa thương mại mà người Hà Lan hy vọng sẽ dùng để giao dịch với Trung Quốc.[143] Cả nhóm tình cờ gặp "những người hoang dã" Samoyed nhưng cuối cùng phải quay lại khi phát hiện ra biển Kara bị đóng băng. Năm 1596, Quốc hội Hà Lan trao thưởng hậu hĩnh cho bất kỳ ai định hướng thành công Đoạn đường Đông Bắc. Hội đồng thị trấn Amsterdam đã mua và trang bị hai tàu nhỏ, được lái bởi Jan RijpJacob van Heemskerk, để tìm kiếm tuyến đường cổ tích này, dưới sự chỉ huy của Barents. Họ lên đường vào tháng 5, và vào tháng 6 phát hiện ra Đảo BearSpitsbergen, nhìn thấy bờ biển phía tây bắc của nó. Họ nhìn thấy một vịnh lớn, sau này được gọi là Raudfjorden và vào Magdalenefjorden, mà họ đặt tên là Vịnh Tusk, đi lối vào phía bắc của Forlandsundet, mà họ gọi là Keerwyck, nhưng bị buộc phải quay lại vì một bãi cạn. Vào ngày 28 tháng 6, họ đi vòng quanh mũi phía bắc của Prins Karls Forland, nơi họ đặt tên là Vogelhoek, có quần thể chim phong phú, và đi thuyền về phía nam, đi qua IsfjordenBellsund, có tên trên bản đồ của Barentsz là Grooten InwyckInwyck.

 
Nhóm của Willem Barentsz đụng độ với một con gấu Bắc cực

Các con tàu một lần nữa đến đảo Bear vào ngày 1 tháng 7, dẫn đến sự bất đồng. Họ tách nhau, Barentsz tiếp tục về phía đông bắc, còn Rijp đi về phía bắc. Barentsz đến Novaya Zemlya và, để tránh bị vướng vào băng, hướng đến eo biển Vaigatch nhưng bị mắc kẹt trong các tảng băng trôi và trôi nổi. Bị mắc kẹt, thủy thủ đoàn 16 người đã buộc phải trú đông trên băng. Họ đã sử dụng gỗ xẻ từ tàu để xây dựng một nhà trú tạm mà họ gọi là Het Behouden Huys (Nhà Kept). Đối phó với cái lạnh cực độ, họ đã sử dụng các loại vải buôn làm chăn và quần áo, bắt cáo Bắc Cực bằng bẫy thủ công để ăn. Khi tháng sáu đến, và băng chưa chịu thả con tàu, những người sống sót bị uốn ván đành đưa hai chiếc thuyền nhỏ ra biển. Barentsz chết trên biển vào ngày 20 tháng 6 năm 1597, khi đang nghiên cứu biểu đồ. Phải mất bảy tuần nữa những chiếc thuyền mới đến Kola nơi họ được một tàu buôn Nga cứu giúp. Chỉ còn 12 thuyền viên sống sót, cập cảng Amsterdam vào tháng 11. Hai trong số các thuyền viên của Barentsz sau đó đã xuất bản các nhật ký của họ, Jan Huyghen van Linschoten, người đã đi cùng Barentsz trong hai chuyến đi đầu tiên, và Gerrit de Veer, người đóng vai trò là thợ mộc của con tàu cuối cùng.

Năm 1608, Henry Hudson thực hiện một nỗ lực thứ hai. Ông đến được Novaya Zemlya nhưng buộc phải quay lại. Giữa năm 1609 và 1611, Hudson, sau nhiều chuyến đi thay mặt cho các thương nhân người Anh khám phá tuyến đường biển phía Bắc đến Ấn Độ, đã khám phá khu vực xung quanh thành phố New York hiện đại trong khi tìm kiếm một tuyến đường phía tây đến châu Á dưới sự bảo trợ của Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC).

Úc Hà Lan và New ZealandSửa đổi

 
Lộ trình của Abel Tasman năm 1642 và 1644 tại New Holland (Úc) dưới danh nghĩa VOC (Công ty Đông Ấn Hà Lan)

Terra Australis Ignota (tiếng Latin, "vùng đất vô danh của miền nam") là một lục địa giả định xuất hiện trên bản đồ châu Âu từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII, bắt nguồn từ một quan niệm mà Aristotle khởi xướng. Nó được mô tả trên bản đồ Dieppe giữa thế kỷ XVI, nơi đường bờ biển của nó xuất hiện ngay phía nam của các hòn đảo Đông Ấn; nó thường được lập biểu đồ công phu, với vô số chi tiết hư cấu. Những khám phá mới đây đã thu hẹp phạm vi tìm kiếm lục địa này; tuy nhiên, nhiều người vẽ bản đồ theo quan điểm của Aristotle, như Gerardus Mercator (1569) và Alexander Dalrymple thậm chí đến tận năm 1767 [144] đã tranh luận về sự tồn tại của nó, với những lập luận kiểu như nên có một vùng đất rộng lớn ở Nam bán cầu như một đối trọng các vùng đất được biết đến ở Bắc bán cầu. Khi những vùng đất mới được phát hiện, chúng thường được coi là một phần của lục địa giả định này.

Juan Fernandez, xuất phát từ Chile năm 1576, tuyên bố ông đã phát hiện ra lục địa phía Nam.[145] Luis Váez de Torres, một hoa tiêu người Galicia phụng sự Vương quốc Tây Ban Nha, đã chứng minh sự tồn tại của một lối đi ở phía nam New Guinea, nay là Eo biển Torres. Pedro Fernandes de Queirós, một hoa tiêu người Bồ Đào Nha phụng sự Vương miện Tây Ban Nha, đã nhìn thấy một hòn đảo lớn ở phía nam New Guinea vào năm 1606, mà ông đặt tên là La Australia del Espiritu Santo. Trên thực tế, đó không phải là Úc mà là một hòn đảo ở Vanuatu ngày nay.

Nhà hàng hải và thống đốc thuộc địa Hà Lan, Willem Janszoon khởi hành từ Hà Lan đến Đông Ấn lần thứ ba vào ngày 18 tháng 12 năm 1603, với tư cách là thuyền trưởng của tàu Duyfken (hay Duijfken, nghĩa là "Chim bồ câu nhỏ"), một trong 12 tàu của hạm đội Steven van der Hagen.[146] Khi ở Ấn Độ, Janszoon được cử đi tìm kiếm các thương điếm thương mại khác, đặc biệt là ở "vùng đất lớn của Nova Guinea và các vùng Đông và Nam khác". Vào ngày 18 tháng 11 năm 1605, Duyfken xuất phát từ Bantam đến bờ biển phía tây New Guinea. Janszoon sau đó băng qua mũi phía đông của Biển Arafura, mà không thấy Eo biển Torres, vào Vịnh Carpentaria. Vào ngày 26 tháng 2 năm 1606, ông đổ bộ xuống sông Pennefather trên bờ phía tây của Cape York ở Queensland, gần thị trấn Weipa hiện đại. Đây là cuộc đổ bộ châu Âu đầu tiên được ghi nhận trên lục địa Úc. Janszoon tiến vào khoảng 320 km (199 dặm) của bờ biển, mà ông nghĩ là một phần mở rộng phía nam của New Guinea. Năm 1615, chuyến đi vòng Mũi Horn của Jacob le Maire và Willem Schouten đã chứng minh rằng Tierra del Fuego là một hòn đảo tương đối nhỏ.

Nga thám hiểm Siberia (1581–1660)Sửa đổi

 
Tuyến đường sông Siberia đóng vai trò rất quan trọng trong tiến trình khám phá Siberia.

Vào giữa thế kỷ XVI, Sa quốc Nga đánh chiếm các hãn quốc người TatarKazanAstrakhan, sáp nhập toàn bộ Vùng Volga và mở đường đến Dãy núi Ural. Cuộc thuộc địa hóa những vùng viễn đông mới của Nga được dẫn dắt bởi các thương nhân nhà Stroganov giàu có. Sa hoàng Ivan IV đã trao những khu đất rộng lớn gần dãy Urals cũng như các đặc quyền về thuế cho Anikey Stroganov, người đã tổ chức các cuộc di dân quy mô lớn đến những vùng đất này. Stroganov khuyến khích phát triển nông nghiệp, săn bắn, làm muối, đánh cá và khai thác quặng ở Urals và giao thương với các bộ lạc Siberia.

Cuộc chinh phạt Hãn quốc SibirSửa đổi

Khoảng năm 1577, Semyon Stroganov và các con trai của Anikey Stroganov thuê một thủ lĩnh Cossack tên Yermak để bảo vệ vùng đất của họ khỏi các cuộc tấn công của Hãn Kuchum. Đến năm 1580 Stroganov và Yermak đề xuất một cuộc viễn chin quân sự nhằm tiêu diệt Kuchum. Năm 1581, Yermak bắt đầu hành trình vào sâu trong Siberia. Sau một vài chiến thắng trước quân đội của vị hãn, người của Yermak đánh tan lực lượng chính của Kuchum trên sông Irtysh trong Trận Chuvash Cape kéo dài 3 ngày vào năm 1582. Tàn quân của Kuchum rút về vùng thảo nguyên, và Yermak kiểm soát hoàn toàn Hãn quốc, bao gồm cả thủ đô Qashliq gần Tobolsk hiện đại. Kuchum vẫn còn sức và đột kích Yermak vào năm 1585 trong đêm khuya. Yermak bị thương và cố gắng bơi qua sông Wagay (nhánh sông Irtysh), nhưng bị chết đuối dưới sức nặng của áo giáp. Các Cossack bèn triệt thoái khỏi Siberia, nhưng nhờ các khám phá tuyến sông chính ở Tây Siberia, người Nga đã đánh chiếm thành công lại những vùng đất này.

Tuyến sông SiberiaSửa đổi

Vào đầu thế kỷ XVII, cuộc đông tiến của người Nga bị chậm lại do vấn đề nội bộ trong nước Thời kì Đại loạn. Tuy nhiên, rất nhanh sau đó, việc thăm dò và thực dân hóa các vùng lãnh thổ rộng lớn ở Siberia lại tiếp tục tiến triển, chủ yếu dẫn đầu bởi những Cossack săn lùng các loại lông thú và ngà có giá trị. Cossack đến từ Nam Urals, một làn sóng người Nga khác đến Bắc Băng Dương. Đây là những người Pomors từ miền Bắc nước Nga, những người trao đổi lông thú với Mangazeya ở phía bắc miền Tây Siberia trong một thời gian khá dài. Năm 1607, khu định cư Turukhansk được thành lập ở phía bắc sông Yenisei, gần cửa sông Tunguska, và vào năm 1619 Yeniseysky Ostrog được thành lập ở giữa Yenisei cửa sông Tunguska.

Giữa năm 1620 và 1624 một nhóm các thợ săn lông thú dẫn đầu bởi Demid Pyanda rời Turukhansk và khám phá khoảng 1.430 dặm (2.301 km) Hạ Tunguska, trú đông gần các con sông Vilyuysông Lena. Theo các ghi chép truyền miệng sau này (truyện dân gian thu thập được một thế kỷ sau), Pyanda đã phát hiện ra sông Lena. Ông được cho là đã khám phá khoảng 1.500 dặm (2.414 km) chiều dài của nó, tới tận trung tâm Yakutia. Ông quay trở lại Lena do địa hình xấu, và sang đến sông Angara. Do đó, Pyanda có thể là người Nga đầu tiên gặp người YakutBuryat. Ông đóng thuyền mới và khám phá khoảng 870 dặm (1.400 km) sông Angara, cuối cùng đến Yeniseysk và phát hiện ra rằng dòng Angara (tên theo người Buryat) và Thượng Tunguska (Verkhnyaya Tunguska, ban đầu được biết đến bởi người Nga) cùng là một dòng sông.

Năm 1627 Pyotr Beketov được bổ nhiệm làm Voivode Yenisei ở Siberia. Ông đã thực hiện thành công hành trình thu thuế từ các Buryat vùng Zabaykalye, trở thành người Nga đầu tiên bước chân vào Buryatia. Ông thành lập khu định cư đầu tiên của Nga ở đó, Rybinsky Ostrog. Beketov được gửi đến sông Lena vào năm 1631. Năm 1632, ông thành lập Yakutsk và gửi các Cossack đi khám phá Aldan và đi xuống Lena, để thành lập các pháo đài mới và thu thuế. [147]

Yakutsk sớm trở thành bàn đạp cho các cuộc thám hiểm xa hơn của Nga về phía đông, phía nam và phía bắc. Maksim Perfilyev, trước đó là một trong những người sáng lập Yeniseysk, đã thành lập Bratsky Ostrog tại Angara vào năm 1631, và vào năm 1638, ông trở thành người Nga đầu tiên bước vào Transbaikalia, đi từ Yakutsk. [148] [149]

 
Bản đồ của IrkutskHồ Baikal miêu tả trong cuốn Biên niên sử Remezov thế kỷ thứ XVII

Năm 1643, Kurbat Ivanov dẫn đầu một nhóm Cossack từ Yakutsk đến phía nam dãy núi Baikal và phát hiện ra hồ Baikal, thăm đảo Olkhon. Sau đó, Ivanov lập bản đồ và ghi lại các mô tả đầu tiên về Baikal. [150]

Người Nga đến Thái Bình DươngSửa đổi

Năm 1639, một nhóm các nhà thám hiểm do Ivan Moskvitin dẫn đầu đã trở thành những người Nga đầu tiên đến Thái Bình Dương và khám phá Biển Okhotsk, đã xây dựng một trại mùa đông trên bờ sông Ulya. Cossack biết được từ người dân địa phương về con sông Amur rộng lớn phía nam. Năm 1640, họ đi thuyền về phía nam, khám phá bờ biển phía đông nam của Biển Okshotsk, có lẽ đến cửa sông Amur và khám phá Quần đảo Chaiar trên đường trở về. Dựa trên ghi chép của Moskvitin, Kurbat Ivanov đã vẽ bản đồ Viễn Đông đầu tiên của Nga vào năm 1642.

Năm 1643, Vasily Poyarkov vượt qua dãy Stanovoy và đến thượng nguồn sông Zeya thuộc đất của người Đạt Oát Nhĩ, chư hầu cống nạp của nhà Thanh. Sau khi trú đông, năm 1644, Poyarkov tiến xuống sông Zeya và trở thành người Nga đầu tiên đến sông Amur. Ông đi thuyền trên sông Amur và cuối cùng phát hiện ra cửa sông lớn từ đất liền. Vì Cossack của ông kích động người dân bản địa, Poyarkov chọn đường khác để trở về. Họ đóng thuyền và vào năm 1645 đi thuyền dọc theo bờ biển Okshotsk đến sông Ulya và trải qua mùa đông tiếp theo trong những túp lều được Ivan Moskvitin xây dựng sáu năm trước đó. Năm 1646, họ trở lại Yakutsk.

 
Một cái koch thế kỷ XVII tại bảo tàng ở Krasnoyarsk. Kochi là loại thuyền phá băng sớm nhất được dùng bởi người Nga tại Bắc cực và trên các con sông Siberia.

Năm 1644 Mikhail Stadukhin đã phát hiện ra sông Kolyma và thành lập Srednekolymsk. Một thương nhân tên Fedot Alekseyev Popov tổ chức một cuộc thám hiểm xa hơn về phía đông, và Semyon Dezhnyov trở thành thuyền trưởng của tàu kochi (loại tàu Nga phù hợp cho điều kiện băng tuyết). Năm 1648, họ đi thuyền từ Srednekolymsk tới Bắc Cực và sau một thời gian, họ đi vòng qua Mũi Dezhnyov, do đó trở thành những nhà thám hiểm đầu tiên đi qua Eo biển Bering và khám phá Chukotka và Biển Bering. Tất cả kochi của họ và hầu hết thủy thủ đoàn (bao gồm cả chính Popov) mất mạng do các cơn bão và đụng độ với người bản địa. Một nhóm nhỏ do Dezhnyov dẫn đầu đã đến cửa sông Anadyr và đi dọc theo nó vào năm 1649, đóng tàu mới từ xác tàu đắm. Họ thành lập Anadyrsk và bị mắc kẹt ở đó, cho đến khi Stadukhin tìm thấy họ, đến từ Kolyma bằng đường bộ.[151] Sau đó, Stadukhin khởi hành về phía nam vào năm 1651 và phát hiện ra Vịnh Penzhin trên bờ biển phía bắc của Biển Okshotsk. Ông cũng có thể đã khám phá bờ biển phía tây Kamchatka.

Vào khoảng năm 1649–50 Yerofey Khabarov trở thành người Nga thứ hai khám phá sông Amur. Qua các dòng sông Olyokma, Tungur và Shilka, ông đến Amur (Dauria), trở về Yakutsk và sau đó trở lại Amur với một đội lớn hơn vào năm 1650. Lần này ông gặp kháng chiến vũ trang. Ông xây dựng các khu phố mùa đông tại Albazin, sau đó đi thuyền xuống Amur và tìm thấy Achansk, Khabarovsk ngày nay, đánh bại hoặc trốn tránh các đội quân lớn người Mãn Châu Ngoại BaikalHàn Quốc trên đường thám hiểm. Ông đã lập bản đồ sông Amur trong cuốn Phác họa dòng Amur.[152] Sau đó, người Nga kiểm soát vùng Amur cho đến năm 1689, khi Hiệp ước Nerchinsk ra đời, vùng đất này được nhượng lại cho nhà Thanh (tuy nhiên, Hiệp ước Aigun đã trao trả vùng này về tay Nga năm 1858).

Vào khoảng năm 1659–65 Kurbat Ivanov là người thừa kế Anadyrsky sau Semyon Dezhnyov. Năm 1660, ông đi thuyền từ Vịnh Anadyr đến Mũi Dezhnyov. Trên các biểu đồ tiên phong trước đây của mình, Ivanov được cho là đã tạo ra bản đồ ban đầu của Chukotka và Eo biển Bering, lần đầu tiên bao gồm Đảo Wrangel chưa được khám phá, cả Quần đảo DiomedeAlaska, dựa trên thông tin thu thập được từ người bản địa Chukotka.

Vì vậy, vào giữa thế kỷ XVII, người Nga đã thiết lập biên giới đất nước của họ giống ngày nay, và khám phá gần như toàn bộ Siberia, ngoại trừ phía đông Kamchatka và một số khu vực phía bắc Vòng Bắc Cực. Cuộc chinh phục Kamchatka sau đó sẽ được Vladimir Atlasov đạt được vào đầu những năm 1700, trong khi việc khám phá bờ biển Bắc Cực và Alaska sẽ được hoàn thành bởi Cuộc thám hiểm phía Bắc vĩ đại 1733–1743..

Tác động toàn cầuSửa đổi

Sự bành trướng của châu Âu đã tạo nên cây cầu nối giữa Cựu Thế giới và Tân Thế giới, thường được gọi là Tuyến mậu dịch Columbia,[153] đặt theo tên Columbus. Thiết lập mạng lưới giao dịch bạc toàn cầu từ thế kỷ XVI đến XVIII và hội nhập thương mại châu Âu tới Trung Quốc. Người châu Âu mang gia súc, ngựa và cừu đến châu Mỹ, và từ châu Mỹ, người châu Âu mang về thuốc lá, khoai tây và ngô. Các mặt hàng khác trở nên quan trọng trong thương mại toàn cầu là mía và bông châu Mỹ, và vàng bạc.

Mạng lưới liên hệ xuyên đại dương của châu Âu đã dẫn đến Thời đại của chủ nghĩa đế quốc, khi mà các cường quốc thực dân châu Âu kiểm soát hầu hết địa cầu. Thương mại, hàng hóa, đế quốc và nô lệ ảnh hưởng lớn đến nhiều khu vực khác trên thế giới. Tây Ban Nha tiêu diệt các đế quốc bản địa ở châu Mỹ, bắt người dân cải đạo và xóa bỏ tín ngưỡng của họ khỏi lịch sử. Mô hình xâm lược kiểu này được áp dụng lại bởi các đế quốc châu Âu khác, nổi bật là Hà Lan, Nga, Pháp và Anh. Kitô giáo thay thế các tôn giáo "ngoại đạo" cũ, cũng như ngôn ngữ, văn hóa chính trị và văn hóa tình dục, và ở một số khu vực như Bắc Mỹ, Úc, New Zealand và Argentina, người dân bản địa đã bị lạm dụng và bị đánh đuổi khỏi các vùng đất tổ tiên của họ, trở thành những dân tộc thiểu số lẻ tẻ.

Tương tự, ở vùng duyên hải châu Phi, các quốc gia bản địa cung cấp nô lệ cho châu Âu, thay đổi xã hội của các đát nước châu Phi ven biển và bản chất của chế độ nô lệ châu Phi, tác động đến xã hội và nền kinh tế sâu trong đất liền. (Xem buôn bán nô lệ Đại Tây Dương).

Ngô và sắn được người Bồ Đào Nha du nhập vào châu Phi vào thế kỷ 16.[155] Chúng bây giờ là thực phẩm cơ bản quan trọng, thay thế cây trồng bản địa châu Phi.[156][157] Alfred W. Crosby suy đoán rằng việc sản xuất ngô, sắn và các loại cây trồng của tân thế giới tăng lên dẫn đến sự tập trung dân số ở những nơi mà chủ nô bắt nô lệ. [158]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Merson, John (1990). The Genius That Was China: East and West in the Making of the Modern World. Woodstock, New York: The Overlook Press. tr. 72. ISBN 0-87951-397-7A companion to the PBS Series The Genius That Was China 
  2. ^ “Bartolomeu Dias”. infoplease. Sandbox Networks, Inc. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015. 
  3. ^ “Columbus to the Caribbean”. fsmitha.com. 
  4. ^ “Christopher Columbus – Exploration”. history.com. 
  5. ^ Diffie, Bailey W. and George D. Winius, "Foundations of the Portuguese Empire, 1415–1580", p. 176
  6. ^ Zweig, Stefan, "Conqueror of the Seas – The Story of Magellan", Read Books, 2007, ISBN 1-4067-6006-4
  7. ^ a ă â b Arnold 2002, p. xi. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “ReferenceB” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  8. ^ a ă â b c d đ e ê Paine, Lincoln (2013). The Sea and Civilization: A Maritime History of the World. New York: Random House, LLC. 
  9. ^ Merson, John (1990). The Genius That Was China: East and West in the Making of the Modern World. Woodstock, NY: The Overlook Press. ISBN 978-0-87951-397-9<A companion to the PBS Series "The Genius That Was China">  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  10. ^ Shaffer, Lynda Norene (1996). Maritime Southeast Asia to 1500. M.E. Sharpe. Quoting Johnstone 1980: 191-192
  11. ^ Wan Chen, Strange Things of the South, from Robert Temple
  12. ^ Houben, 2002, pp. 102–04.
  13. ^ Harley & Woodward, 1992, pp. 156–61.
  14. ^ Abu-Lughod 1991, p. 121.
  15. ^ a ă Arnold 2002, p. 7.
  16. ^ Mancall 2006, p. 17.
  17. ^ Arnold 2002, p. 5.
  18. ^ Love 2006, p. 130.
  19. ^ silk-road 2008, web.
  20. ^ a ă DeLamar 1992, p. 328.
  21. ^ Abu-Lughod 1991, p. 158.
  22. ^ Mancall 2006, p. 14.
  23. ^ Mancall 2006, p. 3.
  24. ^ Stark, Rodney (2005). The Victory of Reason: How Christianity Led to Freedom, Capitalism and Western Success. New York: Random House Trade Paperbacks. tr. 137. ISBN 978-0-8129-7233-7.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  25. ^ Parry 2006, p. 69.
  26. ^ Diffie 1977, pp. 24–25.
  27. ^ Dunn 2004, p. 310.
  28. ^ Mancall 1999, p. 36.
  29. ^ Tamura 1997, p. 70.
  30. ^ Cromer 1995, p. 117.
  31. ^ Tsai 2002, p. 206.
  32. ^ Mancall 2006, p. 115.
  33. ^ Spice importance for medieval humorism principles of medicine was such that shortly after entering the trade, apothecaries and physicians like Tomé PiresGarcia da Orta (see Burns 2001, p. 14) were sent to India having studied spices in works like Suma Oriental (see Pires 1512, p. lxii) and Colóquios dos simples e drogas da India ("Conversations on the simples, drugs and materia medica of India)
  34. ^ ScienceDaily 1998, news.
  35. ^ “Byzantine-Ottoman Wars: Fall of Constantinople and spurring "age of discovery". Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012. 
  36. ^ “Overview of Age of Exploration”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2012.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-status= (trợ giúp)
  37. ^ Diffie 1977, p. 210.
  38. ^ Newitt 2005, p. 9.
  39. ^ Diffie 1960, p. 49.
  40. ^ Diffie 1977, pp. 29–31.
  41. ^ Butel 1999, p. 36.
  42. ^ Croxton 2007, web (on subscription)
  43. ^ Diffie 1977, pp. 463–64.
  44. ^ Diffie 1977, pp. 464–65.
  45. ^ Pohl, Frederick J. (1966). Amerigo Vespucci: Pilot Major. New York: Octagon Books. tr. 54–55.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  46. ^ [1] Arciniegas, German (1978) Amerigo and the New World: The Life & Times of Amerigo Vespucci: Octagon Press
  47. ^ Morison, Samuel (1974). The European Discovery of America: The Southern Voyages, 1492–1616. New York: Oxford University Press.  Đã bỏ qua tham số không rõ |url-access= (trợ giúp)
  48. ^ Otfinoski 2004, p. 33
  49. ^ Zweig 1938, p. 51.
  50. ^ Donkin 2003, p. 29.
  51. ^ DeLamar 1992, p. 349.
  52. ^ Catholic Encyclopædia 2007, web.
  53. ^ Fernandez-Armesto 2006, p. 200.
  54. ^ a ă â Newitt 2005, p. 104.
  55. ^ Lach 1998, p. 1397
  56. ^ Lach 1998, p. 1397.
  57. ^ Diffie 1977, p. 375.
  58. ^ Diffie 1977, pp. 368, 473.
  59. ^ Galvano 1563, p. 168
  60. ^ U.C. 2009, web
  61. ^ Lawson 2007, pp. 84–88.
  62. ^ Lawson 2007, pp. 29–32.
  63. ^ Weddle 1985, p. 42.
  64. ^ a ă â b c Grunberg 2007, magazine
  65. ^ Restall 2004, pp. 659–87.
  66. ^ Castillo 1963, p. 294.
  67. ^ Cervantes web, original text.
  68. ^ Boxer 1977, p. 18.
  69. ^ Linschoten 1598, original book
  70. ^ Boxer 1969, p 109.
  71. ^ Tratado das ilhas novas e descombrimento dellas e outras couzas, 1570 Francisco de Souza, p. 6 [2]
  72. ^ Cartier E.B. 2009, web.
  73. ^ Histori.ca 2009, web.
  74. ^ Gutierrez 1998. pp. 81–82.
  75. ^ San Diego HS, web.
  76. ^ Turner, Michael (2006). In Drake's Wake Volume 2 The World Voyage. United Kingdom: Paul Mould Publishing. tr. 173. ISBN 978-1-904959-28-1.