Mở trình đơn chính

Chính phủ Liên hiệp Quốc dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Chính phủ Liên hiệp Quốc dân được thành lập ngày 3 tháng 11 năm 1946 tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, nhằm thay thế cho Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến. Chính phủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh lập ra, theo nguyên tắc đoàn kết và tập hợp nhân tài không phân biệt đảng phái, đã ra mắt Quốc hội ngày 3/11/1946.

Chính phủ Liên hiệp Quốc dân
Flag of North Vietnam (1945-1955).svg
Chính phủ thứ tư của Việt Nam
1946 - 1955
Ngày thành lập3 tháng 11 năm 1946
Ngày kết thúc22 tháng 9 năm 1955
Thành viên và tổ chức
Đứng đầu Nhà nướcHồ Chí Minh
Lãnh đạo Chính phủHồ Chí Minh
Số Bộ trưởng12
Đảng chính trịFlag of North Vietnam (1945-1955).svg Việt Minh
Flag of the Communist Party of Vietnam.svg Lao động
Flag of the Democratic Party of Vietnam.png Dân chủ
Xã hội
Phe đối lậpFlag of Vietnam Revolutionary League.svg Việt Cách
Flag of VNQDD.svg Việt Quốc
Cơ quan lập phápQuốc hội Việt Nam khóa I

Thành lậpSửa đổi

Ngày 3 tháng 11 năm 1946 Chính phủ Liên hiệp Quốc dân nhiều thành phần được thành lập thay cho Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến nhằm đáp ứng tình hình mới.

Thành viênSửa đổi

Thứ tự Chức vụ Tên Ảnh Đảng phái
1 Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Chí Minh   Việt Minh
2 Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng   không đảng phái
3 Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Võ Nguyên Giáp   Việt Minh
4 Bộ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Văn Huyên   Xã hội
5 Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến Việt Minh
6 Bộ trưởng Bộ Giao thông công chính Trần Đăng Khoa Dân chủ
7 Bộ trưởng Bộ Y tế Hoàng Tích Trí  
8 Bộ trưởng Bộ Lao động Nguyễn Văn Tạo
9 Bộ trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe Dân chủ
10 Bộ trưởng Bộ Canh nông Ngô Tấn Nhơn
11 Bộ trưởng Bộ Cứu tế Chu Bá Phượng Việt Quốc
12 Bộ trưởng Bộ Kinh tế một vị ở Nam Bộ (chưa bổ nhiệm cụ thể)
13 Bộ trưởng không bộ Nguyễn Văn Tố   không đảng phái
14 Bộ trưởng không bộ Bồ Xuân Luật Việt Cách

Mở rộngSửa đổi

Chính phủ Liên hiệp Quốc dân tiếp tục mở rộng, thay đổi nhân sự và được bổ sung cho đến năm 1955. Các Bộ mới được thành lập: Bộ Thương binh–Cựu binh, Bộ Công thương, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Thứ Bộ Công an, Bộ Công an, Bộ Tuyên truyền. Các Bộ Cứu tế giải thể năm 1947, Bộ Kinh tế đổi tên năm 1951. Điều chỉnh các Bộ như sau:

Hoạt độngSửa đổi

Trong thời gian kháng chiến, bộ máy hành chính các cấp có nhiều biến đổi. Tổ chức đơn vị hành chính Khu và Liên khu. Thành lập các Ủy ban kháng chiến các cấp. Cấp Trung ương, thành lập Bộ Tổng Chỉ huy Quân đội quốc gia (1947), sau đổi là Bộ Tổng Tư lệnh (1948) rồi Bộ Quốc phòng Tổng Tư lệnh. Các cơ quan tư pháp cơ bản tổ chức theo cấp xét xử.[cần dẫn nguồn]

Ban đầu, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính thể của nước Việt Nam thống nhất, nhưng thực tế sau năm 1954 thì chỉ quản lý từ Vĩnh Linh trở ra. Sau năm 1954 nhà nước bắt đầu đặt ra các mục tiêu cải tạo xã hội chủ nghĩa.[cần dẫn nguồn]

Ngày 18-6-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Sắc lệnh số 72/SL lập ra Hội đồng tu luật gồm có đại biểu Chính phủ, đại biểu đoàn thể nhân dân và đại diện Ban Thường trực Quốc hội do Bộ Tư pháp chủ trì. Từ năm 1950, Hội đồng tu luật đặt dưới sự chỉ đạo của Ban Thường trực Quốc hội.

Ban Thường trực Quốc hộiChính phủ đã duy trì mối quan hệ trực tiếp với nhân dân và chính quyền các cấp ở địa phương. Tháng 9-1949, Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ đã tiếp và làm việc với đoàn đại biểu Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ do Lê Đình Thám dẫn đầu ra báo cáo với Trung ương về tình hình kháng chiến ở địa phương.

Đầu tháng 10-1949, Ban Thường trực Quốc hội và Hội đồng Chính phủ làm việc với Đoàn đại biểu Nam Bộ, gồm các Ủy viên kháng chiến hành chính, các Ủy viên quân sự và đại biểu các đoàn thể quần chúng do Phạm Hùng dẫn đầu ra báo cáo với Chính phủ về tình hình kháng chiến của nhân dân Nam Bộ - "Thành đồng Tổ quốc".

Năm 1951, một phái đoàn của Chính phủ do Bộ trưởng Hoàng Minh Giám làm Trưởng đoàn và Trần Huy Liệu đại diện Ban Thường trực Quốc hội đã đi Liên khu Việt Bắc và một phái đoàn do Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên dẫn đầu cùng với Bộ trưởng Bồ Xuân LuậtTôn Quang Phiệt, đại diện Ban Thường trực Quốc hội, đi Liên khu III và Liên khu IV để giải thích các chính sách của Chính phủ, đặc biệt là chính sách thuế nông nghiệp theo Sắc lệnh số 13/SL ngày 1-5-1951.

Chú thíchSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi