Đài Tiếng nói Việt Nam

Đài phát thanh quốc gia của Việt Nam

Đài Tiếng nói Việt Nam, hay còn gọi là Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam (tên tiếng Anh"Radio The Voice of Vietnam", viết tắt là VOV)[3][4][5], là đài phát thanh quốc gia trực thuộc Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đài có nhiệm vụ "tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nướcQuốc hội, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân"[6]. Đài được sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động báo chí, tần số, truyền dẫn và phát sóng.[7] Hiện tại, Đài Tiếng nói Việt Nam là tổ hợp truyền thông đa phương tiện quan trọng hàng đầu cả nước, với đủ cả bốn loại hình báo chí: phát thanh, truyền hình, báo in giấybáo điện tử trực tuyến.[8][9]

Đài Tiếng nói Việt Nam
Kiểu
Nhãn hiệuVOV
Quốc giaViệt Nam
Ngày phát sóng đầu tiên
Phát thanh: 7 tháng 9 năm 1945; 75 năm trước (1945-09-07)
Truyền hình: 7 tháng 9 năm 1970; 50 năm trước (1970-09-07)
Báo giấy: 1 tháng 1 năm 1999; 22 năm trước (1999-01-01)
Báo điện tử: 1 tháng 1 năm 2000; 21 năm trước (2000-01-01)
Có mặt tạiViệt Nam
Thành lập7 tháng 9 năm 1945; 75 năm trước (1945-09-07) [1]
bởi Chính phủ Việt Nam
Khẩu hiệuNgười bạn tâm tình của gia đình Việt
Trụ sở58 Quán Sứ, Hà Nội, Việt Nam
Chủ sở hữuChính phủ Việt Nam
Nhân vật chủ chốt
Nguyễn Thế Kỷ (Tổng giám đốc)
Nguyễn Xuân Huy, Trần Minh Hùng, Ngô Minh Hiển (Phó Tổng giám đốc)[2]
Trang mạng
vov.vn

Lịch sử hình thành và phát triển

Bối cảnh lịch sử[10]

Năm 1940, phát xít Nhật vào chiếm Đông Dương. Cuối năm 1944 đầu năm 1945, Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn kết thúc, báo hiệu phe phát xít sẽ bị diệt vong. Mâu thuẫn giữa NhậtPháp ở Đông Dương ngày càng căng thẳng, chờ thời cơ bùng nổ.

Trong bầu không khí ấy, ở Việt Nam báo chí chưa đủ mạnh để nói rõ cho nhân dân thế giới biết thực trạng ở Việt Nam. Lúc này cả Đông Dương có số ít cái gọi là "hãng Radio" tư nhân như Sindex Hải Phòng, Jai den xeniro, Siranoyoru ở Sài Gòn dùng để quảng cáo, thương mại. Tại Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định có Sài Gòn Radio được Pháp bảo hộ nhằm tuyên truyền chính sách cai trị của thực dân.

Ở Việt Nam cũng như toàn Đông Dương chưa có Đài Phát thanh Quốc gia với tư cách và tính chất của một tờ báo nói chính nghĩa của nhân dân, của dân tộc.

Quá trình thành lập[10]

 
Ngày 7 tháng 9 năm 1945, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát đi chương trình đầu tiên đánh dấu sự ra đời của Đài Phát thanh Quốc gia.

Cách mạng Tháng Tám thành công trong nước. Trên đường từ Tân Trào, Tuyên Quang về Hà Nội. Hồ Chí Minh – Chủ tịch Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch chính phủ lâm thời đã chỉ thị cho Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Trần Huy Liệu – Bộ trưởng Bộ thông tin truyền thông phục vụ cách mạng, đặc biệt gấp rút thành lập một Đài Phát thanh Quốc gia. Ông Xuân Thủy, Ủy viên Ủy ban Cách mạng lâm thời Bắc Bộ được giao nhiệm vụ tổ chức thực hiện.

Sáng 22 tháng 8 năm 1945, ông Xuân Thủy tổ chức cuộc họp tại số 4, Phố Đinh Lễ, Hà Nội (bên cạnh Bắc Bộ phủ) để truyền đạt ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập Đài Phát thanh Quốc gia. Dự họp có các ông Trần Kim Xuyến, Trần Lâm, Chu Văn Tích. Tại cuộc họp này ông Trần Kim Xuyến được giao nhiệm vụ tổ chức bộ máy Sở tuyên truyền Bắc Bộ, ông Trần Lâm lo thành lập Đài Phát thanh Quốc gia, trực thuộc bộ Thông tin tuyên truyền. Mỗi người một trọng trách nhưng trước mắt tập trung cho việc cấp bách nhất là ra đời sớm Đài Phát thanh để đáp ứng nhu cầu tuyên truyền cách mạng. Đài phát thanh có tác dụng vô cùng quan trọng về tuyên truyền đối nội và đối ngoại. Đó là phương tiện thông tin nhanh nhất, rộng khắp nhất để truyền bá những chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, phản ánh kịp thời diễn biến tình hình trong nước và thế giới, là cầu nối giữa trung ương và địa phương, giữa Chính phủ và nhân dân. Làn sóng của Đài phát thanh có thể vượt qua biên giới quốc gia, đập lại những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc đối với quần chúng, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Đài Phát thanh là một bộ phận quan trọng của Bộ Thông tin tuyên truyền, có trụ sở tại số 4 Đinh Lễ, Hà Nội, bên cạnh Sở Tuyên truyền Bắc Bộ. Lúc này ở Hà Nội cũng chưa có một Đài phát thanh làm nhiệm vụ thông tin đại chúng. Trong thời gian hoạt động tuyên truyền xung phong, ông Trần Lâm được giao nhiệm vụ nghe đài nước ngoài, lấy tin tức phục vụ tuyên truyền. Tìm hiểu thêm sách báo, các ông hình dung ra một đài phát thanh to hay nhỏ đều có ba bộ phận chính là Biên tập chương trình, studio và phát sóng. Bộ phận biên tập chương trình do ông Trần Lâm phụ trách trong 10 ngày đã tập hợp được 20 người gồm có công chức, trí thức, cán bộ Mặt trận Việt Minh có trình độ văn hóa từ thành chung trở lên.

Nhiệm vụ của ông Trần Kim Xuyến là chuẩn bị phát sóng. Lúc này ở Hà Nội chưa có đài hoặc trạm phát sóng phát thanh. Sở Vô tuyến điện viễn thông Hà Nội quản lý đài phát sóng vô tuyến điện Bạch Mai ở số 128C Đại La. Đây là trung tâm phát sóng, liên lạc bằng tín hiệu morse với Sài Gòn, Paris và điện thoại đường dài Hà Nội – Sài Gòn. Sau khi giành được chính quyền, Bộ Quốc phòng đã quản lý Sở Vô tuyến điện – viễn thông, bao gồm cả đài Bạch Mai và trung tâm thụ tín ở số 4 Phạm Ngũ Lão. Từ trung tâm thụ tín đến Bạch Mai có đường dây cáp ngầm để truyền dẫn tín hiệu. Trên cơ sở hạ tầng kỹ thuật này, ông Trần Kim Xuyến cùng kỹ sư Nguyễn Văn tình, lãnh đạo Sở Vô tuyến điện cũ và ông Nguyễn Cung, một kỹ thuật viên dày dặn kinh nghiệm, trực tiếp phụ trách Đài Bạch Mai đã cải tiến máy phát tín hiệu moocxo thành máy phát tín hiệu âm thanh. Đến ngày 31 tháng 8 năm 1945, hai máy phát thanh được cải tiến phát thử trên các sóng ngắn: 31m và 41m.

Những cột mốc quan trọng[10]

 
Trụ sở chính của Đài Tiếng nói Việt Nam
  • Tối 27 tháng 1 năm 1973: Công bố tin và Văn kiện đình chiến ký kết tại Paris tới thính giả cả nước và một phần châu lục;
  • 19 tháng 8 năm 1973: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Cục Kỹ thuật phát thanh được tặng Huân chương chiến công hạng Nhất.
  • 30 tháng 4 năm 1975: Quân Giải phóng tiếp quản Đài Vô tuyến Sài GònĐài Truyền hình Sài Gòn. Đến buổi trưa, Đài phát tin Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. Chiều cùng ngày, Ban Truyền hình tách ra một bộ phận để tiến hành công việc chuẩn bị cơ sở truyền hình ở Giảng Võ;
  • 16 tháng 6 năm 1976: Đài Truyền hình Trung ương chính thức phát sóng hàng ngày. Ban Lãnh đạo đổi tên là Ban Giám đốc. Đài Tiếng nói Việt Nam đổi tên là Đài Phát thanh - Truyền hình;
  • 11:30 ngày 2 tháng 7 năm 1976: Đài Tiếng nói Việt Nam đổi xưng danh thành: “Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”;
  • 7 tháng 9 năm 1977: Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình trong đó có Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam;
  • 1984: Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam được tách ra khỏi cơ cấu của Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình, trực thuộc Ban Bí thư Trung ương Đảng;
  • 30 tháng 4 năm 1987: Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình giải thể, Đài Tiếng nói Việt Nam cùng với Đài Truyền hình Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam trở thành 3 cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ. Sau đó, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 71-HĐBT, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam;
  • 29 tháng 6 năm 1988: Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 200 – CT về tổ chức bộ máy của Đài Tiếng nói Việt Nam;
  • 1990: Phát sóng kênh âm nhạc VOV3 trên tần số 102,7 MHz, bắt đầu phát song song hai kênh VOV1 và VOV3;
  • 1991: Bắt đầu phát sóng kênh VOV2;
  • Tháng 8 năm 1993: Chính phủ giao cho Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam quản lý các máy phát sóng của toàn hệ thống do Tổng cục Bưu điện chuyển sang, cũng như quản lý nghiệp vụ hệ thống các đài phát thanh, truyền hình địa phương trong cả nước;
  • 16 tháng 8 năm 1993: Chính phủ ban hành Nghị định số 53-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam;
  • 7 tháng 9 năm 1995: Bắt đầu phát sóng kênh VOV5 và VOV6;
  • 2 tháng 11 năm 1998: Báo "Tiếng nói Việt Nam", tờ báo giấy của Đài Tiếng nói Việt Nam ra số đầu tiên;
  • 3 tháng 2 năm 1999: Đài Tiếng nói Việt Nam chính thức phát thanh trực tuyến trên mạng Internet;
  • 1999–2003: Khai trương các Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thái Lan (1999), Pháp (2000), Nga, Trung Quốc (2001), Ai Cập (2002), Nhật Bản (2003);
  • 18 tháng 7 năm 2003: Chính phủ ban hành Nghị định số 83/2003/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam;
  • 19 tháng 11 năm 2003: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1287/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Đài Tiếng nói Việt Nam đến năm 2010;
  • 1 tháng 10 năm 2004: Bắt đầu phát sóng kênh VOV4 phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số;
  • 10 tháng 4 năm 2007: Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kết luận một số vấn đề quan trọng đối với Đài Tiếng nói Việt Nam tại buổi làm việc với Đài (Thông báo số 67/TB-VPCP);
  • 4 tháng 2 năm 2008: Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2008/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam;
  • Tháng 8 năm 2008: Kênh VOV6 ngừng phát sóng;
  • 7 tháng 9 năm 2008: Hệ Phát thanh có hình (VOV TV) chính thức phát sóng, đánh dấu sự trưởng thành của Đài Tiếng nói Việt Nam với đầy đủ các loại hình báo chí hiện tại;
  • 11:00 ngày 18 tháng 5 năm 2009: Phát sóng thử nghiệm kênh phát thanh VOV Giao thông Hà Nội trên tần số FM 91 MHz. Kênh phát sóng chính thức vào ngày 21 tháng 6 cùng năm;
  • 15 tháng 12 năm 2009: Kênh VOV Giao thông TP.HCM phát thử nghiệm trên sóng FM tần số 91 MHz. Đến ngày 2 tháng 1 năm 2010, kênh lên sóng chính thức;
  • 24 tháng 5 năm 2012: Hệ Phát thanh có hình (VOV TV) lấy tên gọi mới là Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam;
  • 2 tháng 6 năm 2015: Chính thức tiếp nhận Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC từ Bộ Thông tin và Truyền thông;
  • Tháng 6 năm 2015: Kênh phát thanh FM Cảm xúc lên sóng trên tần số FM 89 MHz;
  • 1 tháng 10 năm 2015: Lên sóng thử nghiệm kênh phát thanh tiếng Anh (VOV Tiếng Anh 24/7) trên sóng FM, tần số 104 MHz tại Hà Nội. Kênh phát sóng chính thức từ ngày 6 tháng 11 cùng năm;
  • 15 tháng 7 năm 2016: Kênh phát thanh FM Cảm xúc tạm ngừng phát sóng;
  • 27 tháng 2 năm 2017: Phát sóng kênh phát thanh chuyên biệt về Sức khỏe - Môi trường - An toàn thực phẩm (VOV FM 89) trên tần số FM 89 MHz, thay thế cho kênh FM Cảm xúc;
  • 25 tháng 6 năm 2017: Lên sóng kênh Mekong FM trên tần số 90 MHz. Đây là phiên bản dành cho khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long của kênh VOV Giao thông;
  • 4 tháng 1 năm 2018: Chính phủ ban hành Nghị định 03/2018/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức tổ chức mới của Đài Tiếng nói Việt Nam, thay thế nghị định 05/2014/NĐ-CP[11][12];
  • 5 tháng 12 năm 2018: Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam được chuyển đổi thành kênh truyền hình chuyên biệt về Văn hóa - Du lịch (VOV Vietnam Journey), đồng thời chịu sự đồng quản lý bởi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;
  • 4 tháng 9 năm 2020: Chính thức thay đổi hệ thống nhận diện nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam, đồng thời ra mắt trang web vovlive.vn;
  • 18:00 ngày 5 tháng 11 năm 2020: Kênh truyền hình VOV Vietnam Journey ngừng phát sóng và được khôi phục lại về tên gọi gốc (VOV TV) sau gần 2 năm tồn tại.

Nhạc hiệu và lời xướng

Đầu các chương trình thời sự và đầu buổi phát sóng mỗi ngày trên các kênh phát thanh của Đài đều có phát một đoạn nhạc không lời gọi là "nhạc hiệu" của Đài cùng một câu giới thiệu tên gọi và vị trí của Đài được gọi là "lời xướng" do các phát thanh viên gồm một nam và một nữ lần lượt đọc. Nhạc hiệu của Đài là bài Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi, được dùng từ khi thành lập Đài cho đến nay.[13]

Lời xướng của Đài dùng từ buổi phát thanh đầu tiên (7 tháng 9, 1945) đến ngày 1 tháng 7 năm 1976 (do ông Nguyễn Văn Nhất và bà Dương Thị Ngân thể hiện):[14]

Lời xướng dùng từ ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay (do Hà PhươngHoàng Yến thể hiện):[14]

Các loại hình truyền thông đa phương tiện

Phát thanh

Truyền hình

Buổi phát sóng truyền hình đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam diễn ra vào tối 7 tháng 9 năm 1970. Năm 1971, Đài Tiếng nói Việt Nam thành lập Ban biên tập Vô tuyến truyền hình (tiền thân của Đài Truyền hình Việt Nam). Ngày 19 tháng 5 năm 1980, Ban biên tập Vô tuyến truyền hình tách khỏi Đài Tiếng nói Việt Nam, chuyển thành Đài Truyền hình Trung ương, đến năm 1987 thì đổi tên thành Đài Truyền hình Việt Nam. Ngày 7 tháng 9 hàng năm được chọn là ngày thành lập Đài Truyền hình Việt Nam.[28]

Đài Tiếng nói Việt Nam hiện có:

Báo chí

Báo chí là một trong những cơ quan ngôn luận quan trọng của VOV. Từ ngày 2 tháng 11 năm 1998 (thời điểm báo Tiếng nói Việt Nam phát số in đầu tiên) cho đến nay, có hai loại báo chí chính thức là báo điện tử trực tuyếnbáo in giấy:

  • Báo điện tử VOV: Một trong những cơ quan nhà đài trực tuyến của VOV hoạt động từ ngày 3 tháng 9 năm 1999;
  • Báo điện tử VTC: Hoạt động từ ngày 7 tháng 7 năm 2008. Kể từ khi VTC sáp nhập vào VOV năm 2015, báo điện tử này cũng như cả hệ thống cơ quan của VTC trở thành một bộ phận của VOV;
  • Báo Tiếng nói Việt Nam (báo viết): một trong những báo in của VOV, ra số đầu tiên vào ngày 2 tháng 11 năm 1998

Cơ cấu tổ chức

Ban lãnh đạo

Ban lãnh đạo hiện tại

  • Tổng giám đốc: Nguyễn Thế Kỷ;
  • Phó Tổng Giám đốc: Trần Minh Hùng, Ngô Minh Hiển, Phạm Mạnh Hùng, Vũ Hải Quang;

(Phó Tổng Giám đốc Vũ Minh Tuấn đã được điều động sang làm Tổng Giám đốc Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam).

Tổng Giám đốc qua các thời kỳ

  1. Trần Lâm;
  2. Phan Quan;
  3. Trần Mai Hạnh;
  4. Vũ Văn Hiền;
  5. Nguyễn Đăng Tiến;
  6. Nguyễn Thế Kỷ.

Các phòng, ban trực thuộc

Khối Biên tập[39]

  • Ban Thời sự (VOV1);
  • Ban Văn hóa - Xã hội (VOV2);
  • Ban Âm nhạc (VOV3);
  • Ban Dân tộc (VOV4);
  • Ban Đối ngoại (VOV5);
  • Ban Văn học - Nghệ thuật (VOV6);
  • Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV TV);
  • Kênh VOV Giao thông Quốc gia (VOV GT);
  • Báo Tiếng nói Việt Nam;
  • Báo điện tử VOV;
  • Đài truyền hình kỹ thuật số VTC;
  • Ban Biên tập Thanh thiếu niên (Thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh);
  • Ban Biên tập Phát thanh Vì an ninh Tổ quốc (Thuộc Bộ Công an);
  • Ban Biên tập Phát thanh Quân đội nhân dân (Thuộc Bộ Quốc phòng);
  • Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam (trước kia là Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam).

Khối Kỹ thuật[40]

  • Trung tâm kỹ thuật phát thanh;
  • Trung tâm Sản xuất và Lưu trữ chương trình;
  • Trung tâm ứng dụng tin học và phát triển công nghệ phát thanh (RITC).

Khối Quản lý[41]

  • Văn phòng;
  • Ban Tổ chức Cán bộ;
  • Ban thư ký biên tập và thính giả;
  • Ban Kế hoạch - Tài chính;
  • Ban hợp tác quốc tế;
  • Ban kiểm tra;
  • Văn phòng Đảng ủy;
  • Ban quản lý dự án;
  • Văn phòng công đoàn.

Khối Doanh nghiệp[42]

  • Tổng Công ty phát triển phát thanh truyền hình thông tin EMICO;
  • Trung tâm quảng cáo và dịch vụ truyền thông (VOVAS).

Khối Đào tạo[43]

  • Trường cao đẳng phát thanh truyền hình 1 (tại Phủ Lý, Hà Nam);
  • Trường cao đẳng phát thanh truyền hình 2 (tại thành phố Hồ Chí Minh);
  • Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ truyền thông (VOV/VTC) (tại Hà Nội).

Khối Cơ quan thường trú[44]

Cơ quan thường trú trong nước:

Cơ quan thường trú nước ngoài:

Giải thưởng

Trải qua hơn 70 năm kể từ lúc hình thành, Đài Tiếng nói Việt Nam đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng những huân chương và danh hiệu cao quý:[1]

Xem thêm

Chú thích

  1. ^ a ă “Những mốc lịch sử chính của Đài tiếng nói Việt Nam” (bằng tiếng tiếng Việt). Đài tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  2. ^ Quyết định thành lập Hội đồng PBGDPL Trung ương, Cổng thông tin Bộ Tư pháp Việt Nam
  3. ^ Chương trình nghệ thuật tri ân Thanh niên xung phong. Ngày 25 tháng 7 năm 2013 [Ngày 16 tháng 9 năm 2013].
  4. ^ Hoài Việt. Tiếng nói Việt Nam. Ngày 3 tháng 1 năm 2012 [Ngày 16 tháng 9 năm 2013].
  5. ^ Liên hoan uốc tế các đài phát thanh tiếng Nga. Ngày 2 tháng 11 năm 2009 [Ngày 16 tháng 9 năm 2013].
  6. ^ “Chức năng nhiệm vụ”. Cổng thông tin điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. 8 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2020.
  7. ^ Chức năng nhiệm vụ, Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015.
  8. ^ Thanh Hà. Đài TNVN hội đủ bốn loại hình báo chí. [Ngày 14 tháng 9 năm 2013].
  9. ^ Vũ Văn Hiền, 65 năm - chặng đường vẻ vang, Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015.
  10. ^ a ă â “Mốc lịch sử - vov.vn”.
  11. ^ “Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức mới của VOV”. vpcp.chinhphu.vn. 9 tháng 1 năm 2018.
  12. ^ “NGHỊ ĐỊNH QUY ĐỊNH CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM”. thuvienphapluat.vn. 4 tháng 1 năm 2018.
  13. ^ T.H, Bài hát “Diệt phát xít” vang mãi cùng thời gian, Đắk Nông, truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015.
  14. ^ a ă Mốc lịch sử, Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015
  15. ^ Ban Văn hóa - Xã hội VOV2
  16. ^ Ban Âm nhạc VOV3
  17. ^ Thu Hòa.1-10: hệ phát thanh dân tộc (VOV4) chính thức hoạt động. Ngày 29 tháng 9 năm 2004 [Ngày 14 tháng 9 năm 2013].
  18. ^ Ban Dân tộc VOV4
  19. ^ Ban Đối ngoại VOV5
  20. ^ Kênh VOV Giao thông Quốc gia
  21. ^ BL, Thành lập Kênh phát thanh Giao thông (VOV Giao thông) tần số 91Mhz của Đài Tiếng nói Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Bộ Giao thông vận tải, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  22. ^ Nguyễn Thịnh, Cánh sóng không ngừng vươn xa, Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  23. ^ Hoàng Sơn, Thủ tướng phát lệnh phát sóng kênh VOV giao thông, Báo điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  24. ^ VOV Giao thông TP HCM chính thức phát sóng thử nghiệm, Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  25. ^ VOV chính thức phát sóng Kênh Phát thanh tiếng Anh 24/7, Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016.
  26. ^ Bích Lan, VOV chính thức ra mắt Kênh tiếng Anh 24/7, Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016.
  27. ^ Bình Minh, VOV công bố phát sóng Kênh tiếng Anh liên tục đầu tiên tại Việt Nam, Infonet, truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016.
  28. ^ Nguyễn Kim Trạch, VTV - Giấc mơ lãng mạn đã thành hiện thực, Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam, truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2015.
  29. ^ Kênh truyền hình VOV Vietnam Journey
  30. ^ Thanh Hà, Ngọc Thành. Đài TNVN phát sóng Hệ phát thanh có hình.. [Ngày 14 tháng 9 năm 2013].
  31. ^ Đông Giang. VOVTV – không ngừng đổi mới. [Ngày 14 tháng 9 năm 2013].
  32. ^ Giới thiệu Kênh Truyền hình VOV, Kênh Truyền hình VOV, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  33. ^ Nam Khánh, Chuyển Hệ phát thanh có hình thành Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  34. ^ Kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam được cấp phép hoạt động chính thức, VOV5, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  35. ^ B.T.Ngọc, Thủ tướng: Bàn giao nguyên trạng VTC về VOV, Người lao động, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  36. ^ Thủ tướng ký quyết định chuyển đài VTC về VOV, VietNamNet, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  37. ^ Bàn giao Truyền hình kỹ thuật số VTC về Đài tiếng nói Việt Nam , VietnamPlus, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  38. ^ Anh Tuấn, Bàn giao VTC về Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo điện tử Đài Truyền hình Việt Nam, truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015.
  39. ^ “Khối Biên tập” (bằng tiếng tiếng Việt). Đài tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  40. ^ “Khối Kĩ thuật” (bằng tiếng tiếng Việt). Đài tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  41. ^ “Khối Quản lý” (bằng tiếng tiếng Việt). Đài tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  42. ^ “Khối Doanh nghiệp” (bằng tiếng tiếng Việt). Đài tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  43. ^ “Khối Đào tạo” (bằng tiếng tiếng Việt). Đài tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)
  44. ^ “Cơ quan thường trú” (bằng tiếng tiếng Việt). Đài tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2008.Quản lý CS1: ngôn ngữ không rõ (liên kết)

Liên kết ngoài