Mở trình đơn chính

Quốc hội Việt Nam khóa VI (1976-1981) Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam thống nhất được bầu vào ngày 25 tháng 4 năm 1976 với 492 đại biểu trúng cử. Cuộc bầu cử Quốc hội khóa VI cũng chính là cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam theo các điều khoản trong Hiệp định Paris 1973[2]

Quốc hội Việt Nam
Quốc hội chung cả nước
Quốc hội Việt Nam khóa VI
Huy hiệu hoặc biểu trưng
Quốc huy
Dạng
Mô hình
Đơn viện
Các việnQuốc hội
Thời gian nhiệm kỳ
5 năm
Lịch sử
Thành lập6 tháng 1, 1946 (1946-01-06)
TrướcQuốc hội khóa V
Kế tiếpQuốc hội khóa VII
Kỳ họp mới bắt đầu
24 tháng 6 - 3 tháng 7 năm 1976:
Kỳ họp thứ nhất
Lãnh đạo
Trường ChinhĐảng Cộng sản Việt Nam
Từ 25 tháng 6 năm 1976
Cơ cấu
Số ghế492
6th National Assembly of Vietnam.svg
Chính đảng     Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (398-80,9%)      Không đảng phái (94-19,1%)
Nhiệm kỳ
1976-1981
Bầu cử
Bầu cử vừa qua25/04/1976
Bầu cử Quốc hội khóa VI
Bầu cử tiếp theo26/04/1981
Bầu cử Quốc hội khóa VII
Trụ sở
The Ba Dinh meeting-hall.jpg
Hội trường Ba Đình, Hà Nội
Trang web
quochoi.vn

Thành phần quốc hộiSửa đổi

Quốc hội khóa VI gồm có 492 đại biểu, trong đó Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm 21 ủy viên chính thức, 2 ủy viên dự khuyết.

Cơ cấu thành phần của Quốc hộiSửa đổi

  • Công nhân: 80
  • Nông dân: 100
  • Tiểu thủ công nghiệp: 6
  • Quân đội: 54
  • Cán bộ chính trị:141
  • Tri thức và nhân sĩ: 98
  • Các tôn giáo: 13
  • Ðảng viên: 398
  • Ngoài Ðảng: 94
  • Phụ nữ:132
  • Dân tộc thiểu số: 67
  • Anh hùng lao động và chiến đấu:29
  • Thanh niên: (từ 20-30 tuổi): 58
  • Cán bộ ở Trung ương: 114
  • Cán bộ ở địa phương: 378

Danh sách lãnh đạoSửa đổi

Ngày 2-7-1976, Quốc hội khóa VI đã tiến hành bầu các lãnh đạo các cơ quan cao nhất của Nhà nước và thành lập Chính phủ mới.

- Nhà nước

- Ủy ban Thường vụ Quốc hội

- Các Ủy ban của Quốc hội

- Hội đồng Chính phủ

- Hội đồng Quốc phòng

- Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao: Phạm Văn Bạch

- Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao: Trần Hữu Dực

Ủy ban Dự thảo Hiến phápSửa đổi

Theo đề nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa VI đã bầu Ủy ban Dự thảo Hiến pháp cho nước Việt Nam thống nhất. Ủy ban dự thảo Hiến pháp gồm 36 thành viên sau đây:

- Chủ tịch: Trường Chinh

- Ủy viên:

  1. Phan Anh
  2. Phạm Văn Bạch
  3. Nghiêm Chưởng Châu
  4. Võ Chí Công
  5. Trần Hữu Dực
  6. Vũ Định
  7. Nguyễn Thị Định
  8. Phạm Văn Đồng
  9. Võ Nguyên Giáp
  10. Hòa thượng Thích Thiện Hào
  11. Hoàng Văn Hoan
  12. Trần Quốc Hoàn
  13. Phạm Hùng
  14. Phạm Công Khanh
  15. Trần Bửu Kiếm
  16. Nguyễn Lam
  17. Nguyễn Long
  18. Lê Văn Lương
  19. Trần Kiêm Lý
  20. Trương Tấn Phát
  21. Đỗ Xuân Sảng
  22. Chu Văn Tấn
  23. Đào Văn Tập
  24. Lê Thành
  25. Trịnh Đình Thảo
  26. Nguyễn Hữu Thọ
  27. Xuân Thủy
  28. Trần Đình Tri
  29. Linh mục Võ Thành Trinh
  30. Bùi Thị Thanh Vân
  31. Phạm Thị Thanh Vân (Ngô Bá Thành)
  32. Hoàng Quốc Việt
  33. Nguyễn Xiển
  34. Nghiêm Xuân Yêm
  35. Ka H`Yiêng

Quá trình thực hiện thống nhất nước nhà về mặt nhà nướcSửa đổi

Quá trình thực hiện thống nhất nước nhà về mặt nhà nước bao gồm ba bước:

1. Đại biểu nhân dân hai miền họp Hội nghị hiệp thương chính trị để thống nhất nhận định về yêu cầu và nội dung của toàn bộ sự nghiệp hoàn thành thống nhất nước nhà; về tầm quan trọng và tính cấp bách cũng như về bước đi và biện pháp của việc thực hiện thống nhất nước nhà về mặt nhà nước. Hội nghị này họp vào trung tuần tháng 11 năm 1975 ở thành phố Hồ Chí Minh và đã thành công tốt đẹp

2. Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của nước Việt Nam thống nhất. Cuộc tổng tuyển cử này đã được tiến hành trong cả nước ngày 25 tháng 4 năm 1976 theo những nguyên tắc thật sự dân chủ là: phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Thắng lợi vang dội mà nhân dân ta đã giành được trong cuộc tổng tuyển cử có tính chất quyết định đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà về mặt nhà nước.

3. Quốc hội chung của cả nước họp để xác nhận kết quả cuộc tổng tuyển cử; quyết định thể chế nhà nước trong khi chưa có Hiến pháp mới; thảo luận về tình hình và nhiệm vụ, về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, về chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước ta; quyết định tên nước, quốc huy, quốc kỳ, quốc ca, thủ đô, v.v.; quyết định và bầu những cơ quan lãnh đạo của Nhà nước Việt Nam thống nhất để điều hành công việc của cả nước, bầu Ủy ban dự thảo Hiến pháp của nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa[2].

Các kỳ họpSửa đổi

Kỳ họp thứ nhấtSửa đổi

Kỳ họp thứ nhất diễn ra từ ngày 24 tháng 6 đến ngày 3 tháng 7 năm 1976 đã bầu ra:

Tại kỳ họp này, vào ngày 2 tháng 7 năm 1976, Quốc hội đã đưa ra Nghị quyết của kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa VI,[3] trong đó:

Kỳ họp thứ haiSửa đổi

Kỳ họp thứ 2 diễn ra từ ngày 11 tháng 1 đến ngày 15 tháng 1 năm 1977.

Kỳ họp thứ baSửa đổi

Kỳ họp thứ 3 diễn ra từ ngày 20 tháng 12 đến ngày 28 tháng 12 năm 1977.

Kỳ họp thứ tưSửa đổi

Kỳ họp thứ 4 diễn ra từ ngày 22 tháng 12 đến ngày 29 tháng 12 năm 1978.

Kỳ họp thứ nămSửa đổi

Kỳ họp thứ 5 diễn ra từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 30 tháng 5 năm 1979.

Kỳ họp thứ sáuSửa đổi

Kỳ họp thứ 6 diễn ra từ ngày 24 tháng 12 đến ngày 29 tháng 12 năm 1979.

Kỳ họp thứ bảySửa đổi

Kỳ họp thứ 7 diễn ra từ ngày 12 tháng 12 đến ngày 26 tháng 12 năm 1980.

Ngày 18 tháng 12 năm 1980, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp 1980.

Tham khảoSửa đổi