Đường sắt Bắc Nam

Đường sắt Bắc Nam hay đường sắt Thống Nhất là tuyến đường sắt bắt đầu từ thủ đô Hà Nội và kết thúc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đường sắt Bắc Nam chạy gần song song với Quốc lộ 1, có nhiều đoạn gặp nhau, nhất là tại các tỉnh lỵ.

Đường sắt Bắc Nam
VietnamRailway.jpg
Đường sắt Bắc Nam đoạn đi qua địa phận tỉnh Quảng Nam
Thông tin chung
Kiểu
Hệ thốngĐường sắt Bắc Nam
Tình trạngĐang hoạt động
Vị tríViệt Nam
Ga đầuGa Hà Nội
Ga cuốiGa Sài Gòn
Nhà ga175 ga
Số lượt chạy14 chuyến/ngày (36 chuyến/ngày đối với các dịp Lễ, Tết)
Hoạt động
Hoạt động1936
Sở hữuĐường sắt Việt Nam
Trạm bảo trìHà Nội, Vinh, Đồng Hới, Đà Nẵng, Diêu Trì, Nha Trang, Bình Thuận, Sài Gòn
Thông tin kỹ thuật
Chiều dài tuyến1.726,2 km (1.072,6 mi)
Khổ đường sắt1.000 mm (3 ft 3 38 in)
Tốc độ100 km/h (62 mph)

Tổng chiều dài toàn tuyến: 1.730 km, khổ rộng 1 m; đi qua các tỉnh và thành phố sau: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng với tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng, tuyến đường sắt Bắc Nam là một phần của hệ thống tuyến đường sắt xuyên lục địa Á - Âu.

Trước năm 2025, chính thức thông tuyến thêm 175 km từ Ga Sài Gòn thuộc Thành phố Hồ Chí Minh đến Ga Cần Thơ thuộc thành phố Cần Thơ.

Trước năm 2030, chính thức thông tuyến thêm 188 km từ ga Cần Thơ thuộc Cần Thơ đến Ga Cà Mau thuộc tỉnh Cà Mau. Đồng thời, kết nối với đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng sáp nhập vào đường sắt Bắc Nam. Như vậy, đường sắt Bắc Nam dự kiến tổng chiều dài toàn tuyến là 2.255 km.

km Ga
đi Gia Lâm
0000
Hà Nội
5 Giáp Bát
9 Văn Điển
đi Hà Đông
18 Thường Tín
26 Chợ Tía
29 Vạn Điểm
34 Phú Xuyên
ranh giới
Hà Nội
Hà Nam
45 Đồng Văn
56 Phủ Lý
đi Thịnh Châu
67 Bình Lục
ranh giới
Hà Nam
Nam Định
73 Cầu Họ
81 Đặng Xá
87 Nam Định
94 Trình Xuyên
101 Núi Gôi
108 Cát Đằng
Sông Đáy (Cầu Ninh Bình)
ranh giới
Nam Định
Ninh Bình
0115
Ninh Bình
121 Cầu Yên
125 Ghềnh
134 Đồng Giao
ranh giới
Ninh Bình
Thanh Hoá
142 Bỉm Sơn
153 Đò Lèn
161 Nghĩa Trang
Sông Mã (Cầu Hàm Rồng)
176 Thanh Hóa
188 Yên Thái
197 Minh Khôi
207 Thị Long
219 Văn Trai
229 Khoa Trường
238 Trường Lâm
ranh giới
Thanh Hoá
Nghệ An
245 Hoàng Mai
Sông Hoàng Mai
261 Cầu Giát
đi Nghĩa Đàn
272 Yên Lý
279 Chợ Sy
291 Mỹ Lý
Sông Cấm
309 Quán Hành
0319
Vinh
330 Yên Xuân
Sông Cả
ranh giới
Nghệ An
Hà Tĩnh
338 Yên Trung
Sông La
345 Đức Lạc
352 Yên Duệ
358 Hòa Duyệt
Sông Ngàn Sâu
370 Thanh Luyện
381 Chu Lễ
386 Hương Phố
397 Phúc Trạch
ranh giới
Hà Tĩnh
Quảng Bình
405 La Khê
409 Tân Ấp (đi Vũng Áng)
415 Đồng Chuối
426 Kim Lũ
Sông Gianh
437 Đồng Lê
450 Ngọc Lâm
459 Lạc Sơn
468 Lệ Sơn
482 Minh Lệ
Sông Son
489 Ngân Sơn
499 Thọ Lộc
507 Hoàn Lão
511 Phúc Tự
0522
Đồng Hới
529 Lệ Kỳ
Sông Long Đại
539 Long Đại
551 Mỹ Đức
558 Phú Hòa
565 Mỹ Trạch
572 Thượng Lâm
ranh giới
Quảng Bình
Quảng Trị
588 Sa Lung
599 Tiên An
Sông Bến Hải
609 Hà Thanh
622 Đông Hà
Sông Thạch Hãn
634 Quảng Trị
643 Diên Sanh
652 Mỹ Chánh
ranh giới
Quảng Trị
Thừa Thiên Huế
660 Phò Trạch
670 Hiền Sỹ
678 Văn Xá
Sông Hương
0688
Huế
699 Hương Thủy
715 Truồi
729 Cầu Hai
742 Thừa Lưu
755 Lăng Cô
761 Hải Vân Bắc
766 Hải Vân
ranh giới
Thừa Thiên Huế
Đà Nẵng
772 Hải Vân Nam
777 Kim Liên
Sông Cu Đê
788 Thanh Khê
0791
Đà Nẵng
Sông Cẩm Lệ
804 Lệ Trạch
ranh giới
Đà Nẵng
Quảng Nam
814 Nông Sơn
Sông Thu Bồn
825 Trà Kiệu
842 Phú Cang
857 An Mỹ
865 Tam Kỳ
879 Diêm Phổ
890 Núi Thành
ranh giới
Quảng Nam
Quảng Ngãi
901 Trì Bình
909 Bình Sơn
920 Đại Lộc
Sông Trà Khúc
0928
Quảng Ngãi
940 Hòa Vinh Tây
949 Mộ Đức
959 Thạch Trụ
968 Đức Phổ
977 Thủy Thạch
991 Sa Huỳnh
ranh giới
Quảng Ngãi
Bình Định
1004 Tam Quan
1017 Bồng Sơn
1033 Vạn Phú
1060 Khánh Phước
1070 Phù Cát
1084 Bình Định
0000
Quy Nhơn
1096 Diêu Trì
1111 Tân Vinh
1123 Vân Canh
ranh giới
Bình Định
Phú Yên
1139 Phước Lãnh
1154 La Hai
1171 Chí Thạnh
1183 Hòa Đa
1198 Tuy Hòa
Sông Đà Rằng
1202 Đông Tác
1211 Phú Hiệp
1221 Hảo Sơn
ranh giới
Phú Yên
Khánh Hoà
1232 Đại Lãnh
1242 Tu Bông
1254 Giã
1270 Hòa Huỳnh
1281 Ninh Hòa
1284 Phong Thạnh
1303 Lương Sơn
Sông Cái
1315
Nha Trang
1329 Cây Cầy (Suối Dầu)
1340 Hòa Tân
1351 Suối Cát
1364 Ngã Ba (Ba Ngòi)
1371 Cam Thịnh Đông
ranh giới
Khánh Hoà
Ninh Thuận
1381 Kà Rôm
1398 Phước Nhơn
1408 Tháp Chàm
Sông Dinh
1419 Hòa Trinh
1436 Cà Ná
ranh giới
Ninh Thuận
Bình Thuận
1446 Vĩnh Tân
1454 Vĩnh Hảo
1465 Sông Lòng Sông
1484 Sông Mao
1493 Châu Hanh
Sông Lũy
1506 Sông Lũy
1523 Long Thạnh
1533 Ma Lâm
0000
Phan Thiết
1551 Bình Thuận
Sông Cà Ty
1567 Suối Vận
1582 Sông Phan
1590 Sông Dinh
1603 Suối Kiết
1613 Gia Huynh
ranh giới
Bình Thuận
Đồng Nai
1619 Trản Táo
1631 Gia Ray
1640 Bảo Chánh
1649 Long Khánh
1661 Dầu Giây
1677 Trảng Bom
1688 Hố Nai
1697
Biên Hòa
Sông Đồng Nai
ranh giới
Đồng Nai
Bình Dương
1707 Dĩ An
1711 Sóng Thần
ranh giới
Bình Dương
TP. Hồ Chí Minh
1718 Bình Triệu
Sông Sài Gòn
(Cầu sắt Bình Lợi)
1722 Gò Vấp
1726 Sài Gòn


Lịch sửSửa đổi

 
Ga Sài Gòn năm 1881
 
Đoàn tàu TN5 trên tuyến Bắc Nam , khu gian Văn Điển-Thường Tín

Từ năm 1881, Pháp đã bắt đầu xây dựng tuyến đường sắt tại Việt Nam. Việc xây dựng con đường sắt Trans-Indochinois (Xuyên Đông Dương) hoàn thành ngày 1 tháng 10 năm 1936 thời Pháp thuộc.[1] Ngày hôm sau, 2 tháng 10 là ngày chính thức khánh thành tuyến đường sắt Bắc Nam (từ Hà Nội đến Sài Gòn với chiều dài dài 1.730 km (sau năm 1975 ga Sài Gòn dời về ga Hòa Hưng và ga này đổi tên ga thành ga Sài Gòn nên chiều dài chỉ còn 1.726 km).[2]

Những toa xe dùng lúc bấy giờ là voitures-couchettes, có toa voiture-restaurant chạy máy lạnh. Đầu máy thường là máy Mikado.[3]

Để làm đường sắt ở Đông Dương, thuộc địa Đông Dương đã phải vay của chính quốc Pháp 200 triệu Franc (theo thời giá khi đó) để làm đường sắt xuyên Việt (sách "Xứ Đông Dương" của toàn quyền Paul Doumer). Khoản nợ đó người Đông Dương phải trả thông qua các sắc thuế nộp cho Pháp. Như vậy, những gì người Pháp đã xây dựng ở Việt Nam thực chất không phải do họ bỏ tiền ra, mà là do chính người Việt phải chi trả[4].

1955-1975Sửa đổi

 
Lễ Khánh thành ngày tái lập đường xe lửa Xuyên Việt (Sài Gòn - Đông Hà) năm 1959

Sau Chiến tranh thế giới thứ hai rồi Chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ thì đoạn đường phía nam vĩ tuyến 17 vào thập niên 1950, khoảng 1/3 bị hư hại nặng, không sử dụng được.[5] Còn lại là hai khúc từ Đông Hà vào Đà Nẵng và từ Sài Gòn ra Ninh Hòa. Việc tái thiết kéo dài bốn năm dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa Việt Nam cho đến năm 1959 thì xe lửa mới chạy được suốt từ Sài Gòn ra Đông Hà, lần đầu tiên sau 12 năm gián đoạn.[6] Số liệu năm 1959 cho biết hệ thống đường sắt chuyên chở 2.658.000 lượt khách và 440.000 tấn hàng hóa. Số lượng sau đó giảm nhiều vì tình hình an ninh.[7]

Tính đến năm 1971-1972 thời Đệ Nhị Cộng hòa Việt Nam thì tổng cộng có 1.240 km đường sắt nhưng chỉ có 57% sử dụng được. Tổng lượng hành khách và hàng hóa chuyên chở bằng đường sắt giảm nhiều so với thập niên trước nhưng cũng tăng dần:[8]

Năm Tổng lượng hàng hóa vận tải (tấn) Số lượng hành khách (triệu)
1968 400.000 0,73
1969 530.000 1,75
1970 720.000 2,4

Sở Hỏa xa Việt Nam (tiếng Pháp: Regie des Chemins de fer du Viet-nam) thuộc Bộ giao thông và bưu điện chính quyền Việt Nam Cộng Hòa điều hành các tuyến tàu và tiếp tục dùng đầu máy Mikado của Nhật Bản (KB87), tăng thêm máy của General Electric chạy bằng diesel.[3]

Sau năm 1976Sửa đổi

 
Đường sắt Bắc Nam đoạn Phú Yên
 
Cầu Ninh Bình bắc qua sông Đáy trên tuyến đường sắt Bắc - Nam

Ngày 31 tháng 12 năm 1976, hoàn thành sửa lại do bị chiến tranh tàn phá.

Tồn tại: hiện tuyến đường sắt có tốc độ lưu thông thấp nhất thế giới do chạy qua nhiều đô thị đông dân cư, qua nhiều đèo có khúc cua gấp, giao cắt với đường bộ nhiều, đường đơn, đặc biệt là khổ đường hẹp (1 m).

Ngày 7 tháng 1 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ Việt nam Phan Văn Khải đã phê duyệt " Quy hoạch tổng thể phát triển ngành giao thông vận tải đường sắt Việt Nam đến năm 2020 ".

 
Cầu đường sắt Chiêm Sơn, Quảng Nam.

Kế hoạch nâng cấpSửa đổi

 
Đường sắt Việt Nam, 2005

Nội dung và quy mô các yếu tố chính của Quy hoạch:

Giao thông vận tải đường sắt cần chiếm tỷ trọng 25% - 30% về tấn và tấn - km, 20% - 25% về hành khách và hành khách - km trong tổng khối lượng vận tải của toàn ngành giao thông vận tải đến năm 2020 có tỷ trọng vận chuyển hành khách đô thị bằng đường sắt đạt ít nhất là 20% khối lượng hành khách tại các thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.

Duy trì khổ đường sắt hiện tại, gồm các khổ đường 1.000 mm, 1.435 mm và đường lồng (1.000 mm và 1,435 mm) để nâng cấp, cải tạo đạt cấp kỹ thuật. Khi xây dựng các đoạn, tuyến đường sắt mới phải phù hợp và kết nối thuận tiện với khổ đường sắt hiện có ở khu vực đó. Riêng đường sắt cao tốc Bắc - Nam xây dựng theo tiêu chuẩn khổ đường 1.435 mm.

 
Cầu đường sắt Kỳ Lam, Điện Bàn, Quảng Nam.

Phát triển phương tiện vận tải đường sắt theo hướng đa dạng với cơ cấu hợp lý, đổi mới sức kéo và sức chở theo hướng hiện đại, giảm chi phí, hạ giá thành, chú trọng phát triển các đoàn tàu tốc độ cao, tàu tự hành, tàu chở container... áp dụng công nghệ tiên tiến trong vận tải và đóng mới phương tiện nhằm tăng tốc độ chạy tàu để đến năm 2020, tốc độ tàu hàng đạt 80 km/h và tốc độ tàu khách đạt 120 km/h trở lên.

Những tiêu chuẩn kỹ thuật chủ yếu do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định sau khi thống nhất với các cơ quan liên quan và phù hợp với quy định hiện hành.

Đầu tư cơ sở hạ tầng đến năm 2020:

- Giai đoạn đến 2010:

+ Nâng cấp các tuyến đường hiện có vào cấp kỹ thuật quy định và xây dựng mới một số đoạn, tuyến, các đường nhánh nối với cảng, khu công nghiệp, khu kinh tế trọng điểm trong cả nước và kết nối với các tuyến hiện tại ưu tiên nâng cao năng lực và hiện đại hóa trục Bắc - Nam, trục Đông - Tây tiến hành điện khí hóa tuyến Hà Nội - Hải Phòng để làm cơ sở phát triển sức kéo điện cho giai đoạn sau.

+ Đồng thời với việc xây dựng đường sắt đô thị ở thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh phải tiến hành xây dựng mới và đồng bộ các nhà ga, các cơ sở sửa chữa, vận dụng đầu máy-toa xe.

+ Làm mới hệ thống: thông tin cáp quang, tổng đài điện tử số, tín hiệu bán tự động tiến tới tự động, ghi điện khí tập trung, dừng tàu tự động, hệ thống cảnh báo đường ngang tự động... Tham gia thị trường viễn thông chung để tận dụng hết năng lực của ngành đường sắt.

+ Quy hoạch sắp xếp lại để phát triển các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, phụ tùng, phụ kiện cơ khí phục vụ sửa chữa, bảo trì và làm mới cơ sở hạ tầng đường sắt.

+ Nâng cấp, làm mới để từng bước hoàn chỉnh hệ thống nhà ga hành khách, ga hàng hóa ở các khu vực trọng điểm đặc biệt lưu ý các ga hành khách tại trung tâm Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh vừa là ga trung tâm của đường sắt vừa là đầu mối trung chuyển, kết nối các loại phương tiện vận tải, đồng thời là trung tâm dịch vụ đa năng.

- Giai đoạn đến 2020:

Hoàn thành việc nâng cấp các tuyến đường sắt để đạt cấp kỹ thuật quốc gia và khu vực, xây dựng thêm một đường để thành đường đôi và điện khí hóa các tuyến Hà Nôi - Vinh, Sài Gòn - Nha Trang, tiếp tục xây dựng các tuyến đường sắt mới để tạo thành mạng lưới đường sắt đồng bộ, hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn hiện đại. Trên trục Bắc - Nam, ngoài tuyến đường sắt Thống Nhất hiện có cần xây dựng thêm một tuyến đường đôi riêng biệt chạy tàu khách cao tốc Bắc - Nam khổ đường 1.435 mm để giảm thời gian chạy tàu từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh xuống dưới 10 giờ và có khả năng kết nối với đường sắt liên vận quốc tế. Tiếp tục xây dựng đường sắt vành đai, nội đô ở các thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác để tạo thành mạng lưới giao thông đô thị hoàn chỉnh và đồng bộ.

Các ga trên tuyến đường sắt Bắc-NamSửa đổi

Xem Các ga trên tuyến đường sắt Thống Nhất.

An toànSửa đổi

Theo báo cáo của ngành đường sắt Việt Nam, 10 tháng đầu năm 2009 đã xảy ra 431 vụ tai nạn đường sắt, làm chết 166 người, bị thương 319 người. Hiện, có gần 6.000 đường ngang giao cắt giữa đường bộ và đường sắt, trong đó có hơn 4.500 điểm giao cắt dân sinh, nhiều điểm không có rào chắn, biển báo. Riêng 2 thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội có trên 4.100 điểm vi phạm với diện tích bị lấn chiếm gần 1,5 triệu m².[9]

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Nguyễn An Tiêm. "Sổ luân lưu". Khởi Hành Năm XV, số 169. Tháng 11, 2010. tr 7
  2. ^ “Hạ tầng cơ sở Đường sắt”. Đường sắt Việt Nam. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2008.
  3. ^ a b “International”. Trains-worldexpresses. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 3 năm 2016.
  4. ^ http://tuanbaovannghetphcm.vn/tuong-vang-cho-toan-quyen-dong-duong-so-644/
  5. ^ “The Pentagon Papers”. Beacon Press. 1971. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. The Pentagon Papers. "Origins of the Insurgency in South Vietnam, 1954-1960".
  6. ^ “DA Pam No. 550-40 Area Handbook for Vietnam” (bằng tiếng Anh). Taxas Tech University. 1962. tr. 27. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2010.
  7. ^ “DA Pam No. 550-40 Area Handbook for Vietnam” (bằng tiếng Anh). Taxas Tech University. 1962. tr. 432. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2010.
  8. ^ Nguyen Ngoc Bich, et al. tr 49
  9. ^ Xuân Tùng (ngày 25 tháng 11 năm 2009). “Những điểm giao cắt đường sắt nguy hiểm giữa thủ đô”. VNExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2009.

Liên kết ngoàiSửa đổi