Bùi Phùng (1920 - 1999)[1], là một tướng lĩnh cao cấp Quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm Thượng tướng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần QĐND, nguyên Chủ nhiệm Hậu cần Quân giải phóng Miền Nam Việt Nam[2] - Huân chương Hồ Chí Minh.

Bùi Phùng
ThuongTuongBuiPhung.png
Chức vụ
Nhiệm kỳ1977 – 1988
Bộ trưởng• Võ Nguyên Giáp
(1946 - 1980)
• Văn Tiến Dũng
(1980 - 1987)
• Lê Đức Anh
(1987 - 1991)
Vị tríFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Nhiệm kỳ1980 – 1992
Chủ nhiệm• Nguyễn Lam
• Võ Văn Kiệt
• Đậu Ngọc Xuân
• Phan Văn Khải
Nhiệm kỳ1977 – 1982
Tiền nhiệm• Vũ Xuân Chiêm
Kế nhiệm• Đinh Thiện
Phó Chủ nhiệm• Nguyễn Chánh
• Đinh Thiện
• Hoàng Điền
• Phan Khắc Hy
• Hoàng Trà
Nhiệm kỳ1969 – 1975
Tư lệnh Miền• Trần Văn Trà
• Hoàng Văn Thái
Tiền nhiệmNguyễn Văn Thi
Kế nhiệm(Kết thúc)
Thông tin chung
Quốc tịchFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Sinh(1920-09-10)10 tháng 9, 1920
(Thôn Lời, xã Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội, Liên bang Đông Dương)
Mất• 22 tháng 11, 1999(1999-11-22) (79 tuổi)
Binh nghiệp
Phục vụFlag of Vietnam.svg Việt Nam
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
FNL Flag.svg Quân Giải phóng miền Nam
Cấp bậcVietnam People's Army Colonel General.jpg Thượng tướng
Tham chiến
Khen thưởngVietnam Hochiminh Order ribbon.png Huân chương Hồ Chí Minh
Vietnam Military Exploit Order ribbon.png • 2 Huân chương Quân công hạng Nhất
Resolution for Victory Order ribbon.png Huân chương Chiến thắng hạng Nhất
Resistance Order ribbon.png • 2 Huân chương Kháng chiến hạng Nhất

Tiểu sửSửa đổi

Ông tên thật là Bùi Văn Thận, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1920, quê quán: thôn Lời, xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay là thành phố Hà Nội.

• Năm 1937, ông được giác ngộ cách mạng qua nhóm thanh niên sinh viên Dân chủ trường Bưởi Hà Nội do ông Lê Toàn Thư phụ trách. Ông tham gia Hội truyền bá quốc ngữ[3], lập các Hội nghiên cứu sách báo, thể thao, văn nghệ... rồi ông tổ chức mở lớp học (năm 1939), vừa dạy chữ vừa tuyên truyền giác ngộ thanh thiếu niên, vận động nhân dân xây dựng phát triển các cơ sở đoàn thể cứu quốc của Mặt trận Việt Minh đấu tranh chống Nhật, Pháp ở địa phương[4].

• Tháng 8 năm 1944 đến tháng 3 năm 1945, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Bắc Ninh, rồi chuyển về nhà tù Hoả lò Hà Nội, từ thời gian này ông dùng bí danh Bùi Phùng.

• Ra tù, ông được Tỉnh bộ Bắc Ninh giao công viêc tham gia tổ chức chuẩn bị Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở 5 huyện nam sông Đuống (thuộc phủ Thuận An), tỉnh Bắc Ninh.

• Ngày 22 tháng 8 năm 1945, chính quyền Cách mạng huyện Gia Lâm được thành lập, ông được Tỉnh bộ Bắc Ninh giao làm Chủ tịch Uỷ ban Cách mạng lâm thời huyện Gia Lâm [5].

• Năm 1946, Chủ tịch Uỷ ban Kháng chiến - hành chính huyện Quế Dương, tỉnh Bắc Ninh.

• Cuối năm 1947, Tỉnh uỷ viên kiêm Bí thư huyện Võ Giàng, sau đó làm Trưởng Ban Đảng vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh[6].

• Đầu năm 1949, Phó ban Đảng vụ Liên khu ủy Việt Bắc, sau đó được cử đi học Trường Đảng Trung ương Nguyễn Ái Quốc khoá 2 tại Việt Bắc.

Tháng 3 năm 1950, ông được điều động chuyển công tác vào Quân đội:

Từ tháng 3 năm 1950 đến tháng 7 năm 1954:

• Ông là một trong 36 cán bộ đầu tiên của Cục Vận tải thuộc Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần). Ông được giao làm Chủ nhiệm Chính trị, là Bí thư (đầu tiên) Liên chi bộ Cục Vận tải.

• Chỉ huy trưởng trung trạm vận tải Việt Bắc, rồi trung trạm trưởng vận tải Liên Khu 3,4 thuộc Cục Vận tải.

• Trưởng phòng Kế hoạch Cục Vận tải.

• Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông được giao phụ trách điều hành kế hoạch vận tải đảm bảo vật chất hậu cần và kỹ thuật cho Chiến dịch[7].

Từ tháng 8 năm 1954 đến tháng 6 năm 1964:

• Hiệu phó, Phó Bí thư Đảng uỷ Trường Cán bộ Cung cấp (đơn vị tiền thân của Học viện Hậu cần).

• Học viên Khoa Chỉ huy Hậu cần - HVHC Trung Quốc.

• Hiệu phó, Quyền Hiệu trưởng Trường Sĩ quan Hậu cần[8].

• 1961 - 1964, Tham mưu phó Tổng cục Hậu cần. Tham gia (Chủ nhiệm hậu cần) các chiến dịch Cánh đồng Chum - Xiêng Khoảng (1961) và chiến dịch Nậm Thà (1962) tại Lào.

Tháng 6 năm 1964 đến năm 1975, ông vào chiến trường miền Nam:

• Phó Chủ nhiệm kiêm Tham mưu trưởng, rồi Chủ nhiệm Hậu cần Quân giải phóng miền Nam[9] thuộc Bộ chỉ huy Miền[10].

• Ông đã tham gia các trận đánh lớn, các chiến dịch của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam như: Trận Bình Giã, Trận Đồng Xoài, Chiến dịch Mậu Thân 1968, Chiến dịch Xuân 1969, Chiến dịch Đông Bắc Campuchia 1970, Chiến dịch Nguyễn Huệ, Chiến dịch Đường 14 - Phước Long, Chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975chiến dịch Hồ Chí Minh với trọng trách là Chủ nhiệm Hậu cần của Bộ Chỉ huy chiến dịch]][11].

Sau ngày Sài Gòn được giải phóng:

• Đầu năm 1976, Trưởng đại diện Thủ trưởng Tổng cục Hậu cần ở phía Nam.

• Tháng 5 năm 1976 đến tháng 3 năm 1977, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

• Tháng 3 năm 1977, Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và được bầu làm Bí thư Đảng uỷ Tổng cục.

• Tháng 11 năm 1977 đến năm 1982, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

• Từ năm 1980, Thứ trưởng thường trực Bộ Quốc phòng kiêm Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước (nay là Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

• Ông là Uỷ viên Thường vụ Quân uỷ Trung ương, Uỷ viên Hội đồng Quân sự Bộ Quốc phòng.

• Tháng 12 năm 1988, ông thôi giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, bàn giao cho Trung tướng Nguyễn Trọng Xuyên.

• Từ tháng 2 năm 1990 đến tháng 11 năm 1992, ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI chỉ định tham gia vào Ban chấp hành Lâm thời Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam và được cử làm Uỷ viên Thường trực.

• Ông là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá IV (nhiệm kỳ 1976-1982) và Khoá V (nhiệm kỳ 1982-1986).
• Ông là Uỷ viên, Uỷ ban Kinh tế - Kế hoạch và Ngân sách của Quốc hội khoá VII (nhiệm kỳ 1981-1987)[12]Quốc hội khóa VIII (nhiệm kỳ 1987-1992).[13]

• Tháng 4 năm 1992, ông thôi giữ chức Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch nhà nước.[14]

• Ngày 22 tháng 11 năm 1999 (tức 15 tháng 10 năm Kỷ Mão), Thượng tướng Bùi Phùng đã trút hơi thở cuối cùng tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, thọ 79 tuổi.

Lịch sử thụ phong quân hàmSửa đổi

Năm thụ phong 1974 1980 1986
Quân hàm      
Cấp bậc Thiếu tướng Trung tướng Thượng tướng

Phần thưởng cao quýSửa đổi

Đời tưSửa đổi

  • Cụ thân sinh ra ông là một nhà nho, cụ mất sớm khi ông mới 2 tuổi
  • Mẹ ông một mình tần tảo nuôi con ăn học đến khi ông tốt nghiệp bậc Cao đẳng tiểu học (Certificat De'tudes Primaires Franco-Indigenes).
  • Năm 1942, ông lập gia đình với bà Vũ Thị Soạn (1920-2011), ông bà có ba người con trai: Bùi Tiến Dũng (1943), Bùi Vinh (1950) và Bùi Minh Khánh (1960)- cả ba đều phục vụ trong quân đội và đã nghỉ hưu.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam - Bùi Phùng (tr. 105), nxb QĐND 2004
  2. ^ Phim tài liệu về Thượng tướng Bùi Phùng: VỊ TƯỚNG CỦA THẾ TRẬN HẬU CẦN (YouTube)
  3. ^ Hội Truyền bá chữ Quốc ngữ
  4. ^ Truyện ký: Cung trầm trong bản hùng ca Nxb QĐND
  5. ^ Lịch sử Đảng bộ huyện Gia Lâm 1930 - 2015 (NXB Chính trị Quốc gia 2015)
  6. ^ Lịch sử Đảng bộ huyện Quế Võ (NXB Chính trị Quốc gia)
  7. ^ Công tác vận tải trong chiến dịch Điện Biên Phủ báo QĐND
  8. ^ Lịch sử truyền thống Học viện Hậu cần 1951-2017 (NXB Quân đội nhân dân)
  9. ^ Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), nxb Chính trị Quốc gia 2004 (tr. 669): Danh sách Bộ Tư lệnh Miền gồm: Phạm Hùng (Bí thư Trung ương Cục, Bí thư Quân uỷ Miền, Chính uỷ); Hoàng Văn Thái (Tư lệnh), Trần Văn Trà, Lê Đức Anh, Đồng Văn Cống, Nguyễn Thị Định, Nguyễn Hữu Xuyến và Hoàng Cầm (Phó Tư lệnh); Trần Độ và Lê Văn Tưởng (Phó Chính ủy); Nguyễn Minh Châu (Tham mưu trưởng); Trần Văn Phác (Chủ nhiệm Chính trị); Bùi Phùng (Chủ nhiệm Hậu cần)
  10. ^ Lịch sử Bộ Chỉ huy Miền (1961-1976), nxb Chính trị Quốc gia 2004 (tr. 425): Về tổ chức, ngày 18-3-1971, Bộ Chỉ huy Miền được đổi tên thành Bộ Tư lệnh Miền, Cục Tham mưu Miền đổi tên thành Bộ Tham mưu...
  11. ^ Bộ Tư lệnh Miền trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975
  12. ^ Thông tin đại biểu Quốc hội các khóa dbqh.na.gov.vn
  13. ^ Quốc hội Khóa VIII (1987-1992) (qdnd.vn)
  14. ^ 60 năm Những chặng đường phát triển của ngành Kế hoạch và Đầu tư (Bộ KH và ĐT, 2005)

Tham khảoSửa đổi