Mở trình đơn chính

Thượng tướng Bùi Phùng (10 tháng 9 năm 1920 - 22 tháng 11 năm 1999) là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, nguyên Chủ nhiệm Hậu cần Quân giải phóng miền Nam Việt Nam.

Bùi Phùng
ThuongTuongBuiPhung.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ1977 – 1988
Bộ trưởngVăn Tiến Dũng (1980 - 1987)
Lê Đức Anh (1987 - 1991)
Vị tríFlag of Vietnam.svg Việt Nam
Nhiệm kỳ1977 – 1982
Tiền nhiệmVũ Xuân Chiêm
Kế nhiệmĐinh Thiện
Thông tin chung
Danh hiệuVietnam Hochiminh Order ribbon.png Huân chương Hồ Chí Minh
Vietnam Military Exploit Order ribbon.png Huân chương Quân công
Vietnam Independence Order ribbon.png Huân chương Độc lập
Vietnam Fatherland Defense Order ribbon.png Huân chương Bảo vệ Tổ quốc
Vietnam Feat Order ribbon.png Huân chương Chiến công
Sinh(1920-09-10)10 tháng 9, 1920
Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội, Liên bang Đông Dương
Mất22 tháng 11, 1999(1999-11-22) (79 tuổi)
Binh nghiệp
Phục vụFlag of Vietnam.svg Việt Nam
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Cấp bậcVietnam People's Army Colonel General.jpg Thượng tướng
Tham chiếnChiến tranh Việt Nam

Tiểu sử và quá trình công tácSửa đổi

Ông tên thật là Bùi Văn Thận, quê ở thôn Lời, xã Đặng Xá, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.

Tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương từ năm 1937. Thoát ly hoạt động cách mạng từ năm 1943. Từ tháng 8 năm 1944, ông bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà tù Bắc NinhHoả Lò Hà Nội. Tháng 3 năm 1945, ra tù ông tiếp tục hoạt động cách mạng, tham gia tổ chức khởi nghĩa giành chính quyền ở huyện Gia Lâm.

Từ tháng 8 năm 1945, ông là Chủ tịch Uỷ ban cách mạng Lâm thời huyện Gia Lâm - tỉnh Bắc Ninh. Tháng 1 năm 1946, ông là Chủ tịch Uỷ ban hành chính kháng chiến huyện Quế Dương tỉnh Bắc Ninh, năm 1948 là tỉnh uỷ viên kiêm Bí thư huyện Võ Giàng, sau phụ trách Ban Tổ chức, kiểm tra tỉnh ủy Bắc Ninh.

Tháng 6 năm 1949, ông giữ chức Phó ban Đảng vụ Liên khu ủy Việt Bắc, sau đó được Trung ương cử đi học Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc khoá 2 tại Việt Bắc.

Tháng 3 năm 1950, ông chuyển vào quân đội.

Từ tháng 3 năm 1950 đến tháng 7 năm 1954, ông công tác tại Cục Vận tải Tổng cục Cung cấp (nay là Tổng cục Hậu cần), lần lượt giữ các chức vụ:

  • Trưởng phòng Chính trị - Bí thư Liên chi bộ đầu tiên Cục Vận tải.
  • Trung trạm trưởng trung trạm vận tải Việt Bắc, rồi trung trạm vận tải Liên Khu 3,4 thuộc Cục Vận tải.
  • Trưởng phòng Kế hoạch Cục Vận tải - phụ trách kế hoạch vận tải tiền phương chiến dịch Điện Biên Phủ.

Từ tháng 8 năm 1954 đến tháng 12 năm 1960:

  • Hiệu phó Trường Hậu cần.
  • Học viên Khoa Chỉ huy Hậu cần - Học viện Hậu cần Trung Quốc.
  • Hiệu phó, rồi phụ trách Hiệu trưởng trường Sĩ quan Hậu cần.

Từ tháng 1 năm 1961 đến tháng 7 năm 1964, Tham mưu phó Tổng cục Hậu cần.

Từ tháng 8 năm 1964 đến năm 1975, ông vào chiến trường miền Nam, lần lượt giữ các chức vụ: Phó Chủ nhiệm - Tham mưu trưởng rồi Chủ nhiệm Hậu cần Quân giải phóng miền Nam (Bộ chỉ huy Miền).

Tháng 5 năm 1976, ông giữ chức Phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần.

Tháng 3 năm 1977, ông được bổ nhiệm giữ chức Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần và được bầu làm Bí thư Đảng uỷ Tổng cục Hậu cần.

Tháng 11 năm 1977, ông được Hội đồng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, đầu năm 1980 giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước.

Ông được phong quân hàm cấp Tướng: Thiếu tướng năm 1974, Trung tướng năm 1980, Thượng tướng năm 1986.

Tại Đại hội Đảng toàn Quốc lần thứ IV (Tháng 12/1976) và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V (3/1982), ông được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông là đại biểu Quốc hội khoá VII (1981-1987) và khóa VIII (1987-1992).

Tháng 2 năm 1990, ông được Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI chỉ định tham gia Ban Chấp hành lâm thời Trung ương Hội cựu chiến binh Việt Nam và được cử làm Uỷ viên Thường vụ.

Phần thưởng được Đảng, Nhà nước trao tặngSửa đổi

  • Huân chương Hồ Chí Minh.
  • 2 Huân chương Quân công hạng nhất.
  • Huân chương Chiến thắng hạng nhất.
  • Huân chương Kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất.
  • Huân chương Chiến công hạng nhất, nhì.
  • Huân chương Chiến công Giải phóng hạng nhất, nhì.
  • Huân chương Chiến sĩ vẻ vang hạng nhất, hạng nhì, hạng ba.
  • Huân chương Chiến sĩ Giải phóng hạng nhất, hạng nhì, ba.
  • Huy chương Quân kỳ quyết thắng.
  • Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng.

Đời tưSửa đổi

Ông lập gia đình với bà Vũ Thị Soạn năm 1942 và có ba người con trai: Bùi Tiến Dũng (1943); Bùi Quang Vinh (1951) và Bùi Minh Khánh (1960).

Tham khảoSửa đổi