Mở trình đơn chính

Lê Đức Anh

Chủ tịch nước Việt Nam

Lê Đức Anh (1 tháng 12 năm 192022 tháng 4 năm 2019). Bí danh Nguyễn Phú Hoà, Sáu Nam. Ông là nguyên Chủ tịch nước thứ tư nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhiệm kỳ 19921997. Trước đó ông từng là một tướng lĩnh Quân đội nhân dân Việt Nam, quân hàm Đại tướng, từng là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam (19871991), Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (19861987).

Lê Đức Anh
Sáu Nam
Lê Đức Anh (cropped) (2).jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ29 tháng 12 năm 1997 – 22 tháng 4 năm 2001
&0000000000000003.0000003 năm, &0000000000000114.000000114 ngày
Tiền nhiệmVõ Chí Công
Kế nhiệmChức vụ bãi bỏ
Nhiệm kỳ23 tháng 9 năm 1992 – 23 tháng 9 năm 1997
&0000000000000005.0000005 năm, &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 ngày
Tiền nhiệmVõ Chí Công
Kế nhiệmTrần Đức Lương
Phó Chủ tịch NướcNguyễn Thị Bình
Nhiệm kỳ23 tháng 9 năm 1992 – 23 tháng 9 năm 1997
&0000000000000005.0000005 năm, &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 ngày
Tiền nhiệmVõ Chí Công
Kế nhiệmTrần Đức Lương
Nhiệm kỳ27 tháng 6 năm 1991 – 23 tháng 9 năm 1992
&0000000000000001.0000001 năm, &0000000000000088.00000088 ngày
Tiền nhiệmNguyễn Thanh Bình
Kế nhiệmĐào Duy Tùng
Nhiệm kỳ16 tháng 2 năm 1987 – 10 tháng 8 năm 1991
&0000000000000004.0000004 năm, &0000000000000175.000000175 ngày
Tiền nhiệmVăn Tiến Dũng
Kế nhiệmĐoàn Khuê
Nhiệm kỳ22 tháng 12 năm 1986 – 16 tháng 2 năm 1987
Tiền nhiệmLê Trọng Tấn
Kế nhiệmĐoàn Khuê
Nhiệm kỳ31 tháng 3 năm 1982 – 29 tháng 12 năm 1997
&0000000000000015.00000015 năm, &0000000000000273.000000273 ngày
Nhiệm kỳ1981 – 1986
Tư lệnh Quân khu 7
Nhiệm kỳ1978 – 1981
Tiền nhiệmTrần Văn Trà
Kế nhiệmĐồng Văn Cống
Tư lệnh Quân khu 9
Nhiệm kỳ1974 – 1975
Tiền nhiệmPhạm Ngọc Hưng
Kế nhiệmNguyễn Chánh
Nhiệm kỳ1975 – 1976
Tư lệnh Quân khu 9
Nhiệm kỳ1969 – 1973
Tiền nhiệmĐồng Văn Cống
Kế nhiệmPhạm Ngọc Hưng
Thông tin chung
Sinh1 tháng 12 năm 1920
huyện Phú Vang, Thừa Thiên, Trung Kỳ, Liên bang Đông Dương
Mất22 tháng 4, 2019(2019-04-22) (98 tuổi)
nhà Công vụ, số 5A, phố Hoàng Diệu, Hà Nội
Dân tộcKinh
Đảng pháiĐảng Cộng sản Việt Nam
Vợ
  • Phạm Thị Anh (s. 1925-m. 2011)
  • Võ Thị Lê (s. 1928 - m. 2016)
Gia quyến
  • Lê Hữu Độ (anh trai)
  • Lê Thị Hiệp (chị gái)
  • Lê Thị Ngọc Tỷ (chị gái)
  • Lê Thị Kha (chị gái)
  • Lê Thị Thể (em gái)
  • Lê Thị Xoan (em gái)
ChaLê Quang Túy (1885-1969)
MẹLê Thị Thoa (1886-1967)
Con cái
  • Lê Xuân Hồng (s. 1951)
  • Lê Mạnh Hà (s. 1957)
  • Lê Xuân Hồng (s. 1959)
Chữ kýSignature of Lê Đức Anh.svg
Binh nghiệp
ThuộcFlag of the People's Army of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Năm tại ngũ19451992
Cấp bậcVietnam People's Army General.jpg Đại tướng
Chỉ huyFlag of North Vietnam (1945-1955).svg Việt Minh
FNL Flag.svg Quân Giải phóng Miền Nam
Flag of Vietnam.svg Quân đội nhân dân Việt Nam
Tham chiến
Khen thưởng

Huân chương Hồ Chí Minh

Thân thế và tuổi thơSửa đổi

Ông nội Lê Đức Anh là Lê Thảng (6 tháng 11 năm 1861 – 11 tháng 5 năm 1939), quê quán tại xứ Truất, làng Bàn Môn, xã Lộc An, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế.[1] Cụ Lê Thảng là nông dân, từng tham gia Phong trào Cần Vương. Cụ Lê Thảng kết hôn với bà Cung Thị Quyến sinh ra sáu người con, hai trai và bốn gái, trong đó có Lê Quang Túy (sinh ngày 25 tháng 11 năm 1885), con trai cả, là thân phụ Lê Đức Anh.[1] Lê Quang Túy kết hôn với bà Lê Thị Thoa (sinh năm 1886) sinh ra Lê Văn Giác, chính là tên khai sinh của Lê Đức Anh, vào ngày 1 tháng 12 năm 1920 tại một căn nhà tranh của cha mẹ nuôi cụ Lê Quang Túy ở làng Trường Hà, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên – Huế.[1][2] Lê Quang Túy và bà Lê Thị Thoa có với nhau 13 người con, tất cả đều sinh ở làng Trường Hà, huyện Phú Vang, Huế, 4 người chết từ lúc còn nhỏ, còn 9 người, 2 trai và 7 gái[1][3]. Lê Văn Giác là con thứ bảy trong chín người con.[4] Lê Hữu Độ, anh trai Lê Văn Giác, sau này là cán bộ phụ trách trại chăn nuôi của Bộ Công an Việt Nam.[5][6] Lê Văn Giác có ba người chị gái là Lê Thị Ngọc Tỷ (đã mất), Lê Thị Kha (đã mất) và Lê Thị Hiệp (đã mất),[1][4] và hai em gái là bà Lê Thị Thể (làm nghề buôn bán ở thành phố Đà Nẵng) và bà Lê Thị Xoan (công tác tại Trường Trung cấp Y tế Huế, đã nghỉ hưu và hiện đang sống tại Huế).[1]

Ông Lê Thảng và ông Lê Quang Túy có thêm nghề thầy thuốc nên cuộc sống gia đình ông đỡ vất vả hơn người dân trong làng, vốn rất nghèo.[1] Tuy vậy, ông bà Lê Quang Túy gia đình đông con nên phải vừa làm ruộng, vừa chữa bệnh, vừa đi làm thuê để kiếm sống.[1]

Lê Văn Giác thông minh nên được ưu tiên ăn học. Lên 5 tuổi, cậu được học chữ Nho tại nhà. Từ 6 tuổi đến 10 tuổi, Lê Văn Giác học chữ Quốc ngữ ở làng Dưỡng Mong và Trường An Lương Đông, huyện Phú Lộc.[1] Sau một trận dịch bệnh đậu mùa, mắt trái Lê Văn Giác bị hỏng, chân yếu không thể đi lại. Cậu phải tập luyện một năm mới trở lại bình thường.[1] Vào năm đầu tiên đi học, cha mẹ Lê Văn Giác đổi tên cho cậu thành Lê Đức Anh theo lời khuyên của thầy giáo để cậu được ngồi bàn đầu tiên để nhìn cho rõ vì mắt kém.[1]

Vào năm 11 tuổi, Lê Đức Anh được cho ra học tiểu học ở thành Vinh, Nghệ An dưới sự nuôi dạy của chị gái Lê Thị Hiệp (tức Nở) và anh rể Trần Quát, người cùng làng, làm nghề dạy học ở thành Vinh.[1] Lê Đức Anh học chương trình tiểu học bằng tiếng Pháp. Sau khi xong tiểu học, cậu trở về Phú Vang, Huế làm nông giúp cha mẹ.[1]

Năm 15 tuổi, Lê Đức Anh làm gia sư dạy chữ Quốc ngữ cho một số trẻ em làng Dưỡng Mong, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên – Huế.[7]

Nhận xét về tính cách của Lê Đức Anh, theo lời thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Lê Đức Anh là người rất khắt khe, nguyên tắc trong công việc; ít nói, lắng nghe cấp dưới một cách tập trung, chăm chú; ghét tính dối trá, cẩu thả, thiếu trách nhiệm.[8] Theo ông Cù Huy Hà Vũ, Lê Đức Anh là người tiết kiệm và chân thành.[9]

Kháng chiến chống PhápSửa đổi

Năm 1937, 17 tuổi, Lê Đức Anh bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng chống thực dân Pháp.[10] Tháng 5 năm 1938, ông gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam.[2]

Năm 1944, Lê Đức Anh tổ chức và Phụ trách các nghiệp đoàn cao su ở Lộc Ninh. Khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 nổ ra, Lê Đức Anh tổ chức lực lượng gồm 300 người, trang bị vũ khí vừa thu được và giáo mác, tầm vông... kéo xuống thị xã Thủ Dầu Một tham gia tổng khởi nghĩa.

Tháng 8 năm 1945, Lê Đức Anh tham gia quân đội, giữ các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Chính trị viên Tiểu đoàn, chi đội 1 và Trung đoàn 301. Từ tháng 10 năm 1948 đến năm 1950, ông là tham mưu trưởng các Quân khu 7, Quân khu 8 và đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn..[11]

Kháng chiến chống MỹSửa đổi

 
Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam Lê Đức Anh trong Chiến tranh Việt Nam trước năm 1960.

Sau Hiệp định Genève, ông tập kết ra Bắc.

Tháng 5 năm 1955, ông được cử giữ chức Cục phó Cục Tác chiến, rồi Cục trưởng Cục Quân lực Bộ Tổng Tham mưu; hàm Đại tá (1958)

Từ tháng 8 năm 1963, ông giữ chức Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 2 năm 1964, ông được điều vào Nam với bí danh Sáu Nam, giữ chức Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Quân Giải phóng Miền Nam.

Ngày 16 tháng 11 năm 1967, thân mẫu Lê Đức Anh (cụ Lê Thị Thoa) qua đời đúng lúc Lê Đức Anh đang chuẩn bị cho Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 ở Bộ Chỉ huy miền Nam.[1]

Năm 1969, Lê Đức Anh được điều về làm Tư lệnh Quân khu 9.

Ngày 23 tháng 6 năm 1969, thân phụ Lê Đức Anh mất khi Lê Đức Anh đang chỉ huy chiến trường miền Tây Nam Bộ.[1]

Cuối năm 1974, ông được điều trở lại chức Phó Tư lệnh Quân Giải phóng miền Nam. Cũng trong năm này, ông và Đại tá Đồng Sĩ Nguyên và được phong vượt cấp từ Đại tá lên Trung tướng. Trong 11 năm tham gia đánh Mỹ, ông đã trực tiếp chỉ huy 4 trận đánh lớn:

Chiến trường CampuchiaSửa đổi

Năm 1980, Trung tướng Lê Đức Anh đặt chân lên Campuchia với trọng trách tái thiết Campuchia sau Chiến tranh biên giới Tây Nam.[12] Cũng trong năm 1980, ông được phong hàm từ Trung tướng lên Thượng tướng.[12] Năm 1981, khi đang giữ chức Tư lệnh Quân khu 7, ông được phân công kiêm chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, kiêm Tư lệnh quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia, Phó trưởng ban, rồi Trưởng ban lãnh đạo chuyên gia Việt Nam tại Campuchia.

Năm 1983, khi Lê Đức Anh đang điều trị mắt ở Liên Xô thì được Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam gọi về để lo vụ đánh địch ngầm ở Siem Reap.[12] Lê Đức Anh giải quyết êm đẹp vụ này và một năm sau, năm 1984, ông được Chủ tịch Hội đồng Nhà nước thăng quân hàm từ Thượng tướng lên Đại tướng.[12] Tháng 12 năm 1986, Lê Đức Anh được cử giữ chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòngSửa đổi

Từ ngày 16 tháng 2 năm 1987[13] đến 10 tháng 8 năm 1991, ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Bí thư thứ nhất Đảng ủy Quân sự Trung ương. Khi Bộ Chính trị họp đã thông qua kế hoạch điều chỉnh chiến lược và giảm quân số quân đội của ông, từ 1,5 triệu quân thường trực xuống còn 45 vạn (từ 9 quân đoàn giảm xuống còn 4 quân đoàn), gánh nặng ngân sách quốc phòng được giải tỏa[14].

Cuối tháng 2 năm 1987, trong cuộc họp Bộ Chính trị ở Nhà con rồng - Sở Chỉ huy của Bộ Quốc phòng, Đại tướng Lê Đức Anh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã đề xuất thực hiện "phá thế bao vây cấm vận của Mỹ và bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, tìm cách gia nhập ASEAN".[12]

Năm 1988, trong chuyến thị sát tại quần đảo Trường Sa, Lê Đức Anh trên cương vị Bộ trưởng Quốc phòng đã dự lễ kỷ niệm 33 năm ngày truyền thống của Quân chủng Hải quân Việt Nam (7/5/1955–7/5/1988). Chuyến thăm diễn ra ngay sau khi Trung Quốc nổ súng vào tàu vận tải của Việt Nam tại đảo Gạc Ma rạng sáng 14/3 làm 64 chiến sĩ trên tàu HQ-604 hy sinh. Ông phát biểu: "...chúng ta xin thề trước hương hồn của tổ tiên ta, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc, xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau "Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu của chúng ta, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa – một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta"[15].

Ông là một trong số ít những cán bộ quân đội đã trải qua cả bốn chiến trường trong suốt 40 năm: Tham gia 9 năm kháng chiến chống Pháp, tham gia chỉ huy tại chiến trường miền Nam chống Mỹ trong 11 năm (1964 – 1975), chỉ huy chiến trường Campuchia trong 7 năm (1979 – 1986), tham gia chỉ huy chiến trường biên giới phía Bắc trong 3 năm (1986 – 1989).

Chủ tịch nướcSửa đổi

Năm 1991, Lê Đức Anh giữ chức vụ Thường trực Bộ chính trị. Năm 1992, ông được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam bầu vào chức vụ Chủ tịch nước. Ông cũng là Ủy viên BCH TƯ khóa IV-VIII, Ủy viên Bộ Chính trị khóa V-VIII, Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII; đại biểu Quốc hội khóa VI, VIII, IX.

Vào ngày 23 tháng 9 năm 1992, ông là người kế nhiệm Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Võ Chí Công và do đó là Chủ tịch nước Việt Nam. Mặc dù vị trí này (theo phương Tây) chủ yếu mang tính biểu tượng, chức Chủ tịch nước trở nên quan trọng hơn nhiều trong nhiệm kỳ của ông.[16] Ông giữ chức danh này cho đến khi được Trần Đức Lương thay thế vào ngày 24 tháng 9 năm 1997.

Đại tướng Lê Đức Anh đã được ghi công với một số giải thưởng, bao gồm Huân chương Sao Vàng và Huân chương Hồ Chí Minh.

Trong cuốn sách của mình, tác giả Bolton cho rằng Lê Đức Anh được nhiều người coi (về mặt tư tưởng) là người bảo thủ nhất trong số ba nhà lãnh đạo chính trị trong nhiệm kỳ của mình.[16] Thủ tướng Võ Văn Kiệt được cho là ủng hộ cải cách[17] và do đó thường không đồng ý với Lê Đức Anh. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười thì linh hoạt hơn về mặt tư tưởng và được coi là đại diện cho sự trung dung giữa Anh và Kiệt, nhưng dường như có xu hướng bảo thủ.[18] Bolton cho rằng Lê Đức Anh phản đối những cải cách kinh tế mà ông cho là quá liều lĩnh của ông Kiệt. Năm 1991, Lê Đức Anh ủng hộ Đỗ Mười ứng cử cương vị lãnh đạo đảng để phản đối Võ Văn Kiệt.[19] Cũng theo Bolton thì nhóm ủng hộ ông Kiệt sau đó đã lan truyền tin đồn về những hành vi xấu được cho là có liên quan đến Lê Đức Anh trong thời gian ông ở Campuchia.[19] Tuy nhiên, không rõ Bolton dựa vào căn cứ nào để đưa ra những kết luận này trong cuốn sách của mình.

Bản thân ông Võ Văn Kiệt thì nhận xét về ông Lê Đức Anh như sau:

"Ngần ấy thời gian biết anh Sáu Nam – Lê Đức Anh, có lúc cùng chiến trường, có lúc cùng ở cấp lãnh đạo đất nước, anh là một cán bộ tham mưu tầm cỡ, một vị chỉ huy cương nghị, bản lĩnh và dám chịu trách nhiệm, một Bộ trưởng Quốc phòng trong thời bình xây dựng có nhiều đổi mới trong tổ chức và bố trí lực lượng quân đội, lực lượng vũ trang nhân dân, một trong những người lãnh đạo quốc gia tầm cỡ trong thời kỳ đổi mới đất nước,... Công bằng mà đánh giá, không có nhiều tướng lĩnh như anh Lê Đức Anh..."[15]

Trong nhiệm kỳ Chủ tịch nước của Lê Đức Anh, Việt Nam đã thành công trong việc bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ vào năm 1995. Cũng trong năm này, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã sang Hoa Kỳ để tham dự lễ kỉ niệm 50 năm thành lập Liên Hiệp Quốc. Ông là nguyên thủ đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đặt chân lên lãnh thổ Hoa Kỳ kể từ khi kết thúc Chiến tranh Việt Nam năm 1975.[9]

Từ chức, cố vấn, và nghỉ hưuSửa đổi

Vào giữa tháng 11 năm 1996, Lê Đức Anh phải nhập viện sau một lần đột quỵ lớn.[20] Năm 1997, Chủ tịch nước Lê Đức Anh bị xuất huyết não.[12] Điều này xảy ra vào thời điểm nhóm cải cách mà ông phản đối đang suy tàn và trong một thời gian, bệnh của ông dường như thay đổi động lực trong giới lãnh đạo chính trị, làm khôi phục lại xu hướng cải cách.[19] Tuy nhiên, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã lãnh đạo một cuộc phản công chống lại xu hướng cải cách khi cảnh báo về những mặt trái của nền kinh tế thị trường đang ngày cảng nảy nở như tham nhũng, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức... Điều này được tăng thêm động lực khi Lê Đức Anh bất ngờ hồi phục vào tháng 4 năm 1997.[19]

Từ tháng 9 năm 1997, Lê Đức Anh nghỉ chức vụ Chủ tịch nước, thay thế ông là Trần Đức Lương.[21]

Lê Đức Anh là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ tháng 12 năm 1997 đến tháng 4 năm 2001.

Đến tháng 4 năm 2001, ông chính thức nghỉ hưu.

Qua đời và lễ tangSửa đổi

Ông qua đời vào hồi 20 giờ 10 phút, ngày 22 tháng 4 năm 2019 ở tuổi 99, hưởng thọ tuổi 100 tại nhà Công vụ, số 5A, phố Hoàng Diệu, Thành phố Hà Nội vì tuổi đã cao, sức yếu.[11][22] Theo thông cáo đặc biệt, lễ tang của ông được Nhà nước Việt Nam tổ chức theo nghi thức Quốc tang trong hai ngày, 34 tháng 5 năm 2019. Lễ viếng và truy điệu tại nhà tang lễ Quốc gia, Hà Nội. An táng tại nghĩa trang TP. Hồ Chí Minh.[23]

Lịch sử thụ phong quân hàmSửa đổi

Năm thụ phong 1958 1974 1980 1984
Quân hàm        
Cấp bậc Đại tá Trung tướng (vượt cấp) Thượng tướng Đại tướng

Phong tặngSửa đổi

Đại tướng Lê Đức Anh được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Quân công hạng Nhất, Huân chương Chiến công hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Nhất,... Năm 2008, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Năm 2013, ông được Đảng Cộng sản Việt Nam tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng. Năm 2018, Huy hiệu 80 năm tuổi Đảng được trao cho ông tại Bệnh viện Quân đội 108.[2][24]

Gia đình riêngSửa đổi

Lê Đức Anh lập gia đình lần đầu với bà Phạm Thị Anh (tự Bảy Anh, sinh năm 1925, mất 2011).[25][26] Bà Phạm Thị Anh là con của một điền chủ nhỏ ở huyện Bến Cát, Bình Dương. Ông và bà có với nhau 2 người con. Người con gái đầu mất hai ngày sau khi sinh do sinh thiếu tháng và phải chạy giặc. Người con gái thứ 2 tên Lê Xuân Hồng sinh năm 1951 ở xã An Tây, huyện Bến Cát,[27] là Tiến sĩ tâm lý học, nguyên là Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Sư phạm mẫu giáo Trung ương 3 (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Thành phố Hồ Chí Minh), nghỉ hưu năm 2005.[5][25] Sau hiệp định Genève 1954, ông tập kết ra Bắc còn bà vẫn ở lại miền Nam. Sau khi ra Bắc, trong cuộc "chỉnh huấn, chỉnh quân" do cố vấn Trung Quốc chỉ đạo, ông bị kiểm điểm do lấy vợ thuộc thành phần địa chủ tư sản và phải tuyên bố "ly khai với gia đình vợ". Ở miền Nam, bà Bảy Anh nhận được tin này nhưng không đi bước nữa. Năm 2009 ông Anh và bà Bảy Anh đã gặp lại nhau sau gần 60 năm xa cách tại nhà riêng của bà Anh ở Bến Cát,Bình Dương.[6][26]

Năm 1956, Lê Đức Anh kết hôn với bà Võ Thị Lê (sinh năm 1928, tại xã Quế Phong, huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam, mất ngày 18 tháng 11 năm 2016 tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, Hà Nội).[28] Bà Lê là bác sĩ y khoa, công tác tại Bệnh viện Việt Xô Hà Nội. Bà Lê đã có một con gái với chồng trước tên là Huỳnh Thị Lệ Hạnh, sinh năm 1950, là kỹ sư thông tin, cán bộ hàng không, nay đã nghỉ hưu.[25] Ông Lê Đức Anh và bà Võ Thị Lê có với nhau 2 người con:

  • Người con đầu là Lê Mạnh Hà (sinh năm 1957), nguyên là Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, nghỉ hưu từ 1 tháng 11 năm 2017[21]
  • Người con gái thứ hai ông cũng đặt tên là Lê Xuân Hồng, sinh năm 1959, Cử nhân kinh tế, nguyên là Cục phó Cục Hải quan TPHCM, nghỉ hưu tháng 11 năm 2016[5]

Các con của Lê Đức Anh đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.[25][26]

Câu nóiSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Hồi ký “Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Lê Đức Anh”, PV. “Tuổi thơ và những ngày đầu tham gia cách mạng của Đại tướng Lê Đức Anh”. Báo Công an nhân dân. 2019-04-27. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019. 
  2. ^ a ă â Trao tặng Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho đồng chí Lê Đức Anh, Báo điện tử Chính phủ
  3. ^ Hồi ký Đại tướng Lê Đức Anh - Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng, chương 1, Nhà xuất bản chính trị Quốc gia Hà Nội
  4. ^ a ă Lê Đăng (Lược trích hồi ký “Đại tướng Lê Đức Anh - Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng”). “Đại tướng Lê Đức Anh với ký ức thời đi học”. Báo Giáo dục và Thời đại. 2019-04-26. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  5. ^ a ă â Công Quang - Nguyễn Quang. “Đại tướng Lê Đức Anh từng bị anh trai giận suốt 4 năm vì không "lo lót" việc cho cháu”. Báo Dân Trí. 2019-05-02. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  6. ^ a ă Hương Quỳnh. “Hạnh phúc đời thường của Đại tướng Lê Đức Anh bên gia đình”. VietNamNet. 2019-04-24. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  7. ^ Hồng Phúc. “Tuổi thơ bên ruộng đồng của cố Chủ tịch nước Lê Đức Anh”. Báo Nông nghiệp Việt Nam. 2019-04-24. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  8. ^ Nguyễn Chí Vịnh. 'Khí chất Lê Đức Anh': Những điều tôi biết”. Báo Thanh niên. 2019-05-02. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2019. 
  9. ^ a ă Ngọc Lễ. “Lê Đức Anh: làm tướng giỏi, làm chính trị tồi?”. VOA Tiếng Việt. 2019-04-23. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2019. 
  10. ^ “Quốc tang nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh trong 2 ngày”. Báo Thanh niên. 2019-04-28. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  11. ^ a ă Hoàng Thùy - Viết Tuân (22 tháng 4 năm 2019). “Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ trần”. VnExpress. Truy cập 23 tháng 4 năm 2019. 
  12. ^ a ă â b c d Thiên Điểu. “Đai tướng Lê Đức Anh: Vĩnh biệt một cuộc đời lừng lẫy”. Báo Tuổi trẻ. 2019-05-03. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  13. ^ Nghị quyết 782/ NQ/HĐNN7 năm 1987.
  14. ^ https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/dai-tuong-le-duc-anh-va-ke-hoach-giam-quan-so-quan-doi-525391.html
  15. ^ a ă https://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/dai-tuong-le-duc-anh-tran-tro-loi-the-o-truong-sa-209535.html
  16. ^ a ă Bolton 1999, 176
  17. ^ Bolton 1999, tr. 182
  18. ^ Bolton 1999, 182-83
  19. ^ a ă â b Bolton 1999, 187
  20. ^ Mydans, Seth (20 tháng 12 năm 1996). “Domino Effect at the Top Is Looming for Vietnam”. The New York Times. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2010. 
  21. ^ a ă Thái Bình. “Con trai nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh: 'Lúc ba tôi còn đương chức thì ông không có tiền'. VTC. 2019-04-23. Bản gốc lưu trữ |url lưu trữ= cần |ngày lưu trữ= (trợ giúp). Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  22. ^ Nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ trần Báo điện tử Chính phủ
  23. ^ http://sggp.org.vn/thong-cao-dac-biet-ve-le-quoc-tang-nguyen-chu-tich-nuoc-le-duc-anh-589834.html
  24. ^ “Trao Huy hiệu 75 năm tuổi Đảng cho Đại tướng Lê Đức Anh”. VOV. 29 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2017. 
  25. ^ a ă â b “ĐẠI TƯỚNG LÊ ĐỨC ANH – CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG (HỒI KÝ) (NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - HÀ NỘI 2015), Chương 11”. Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. 12 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  26. ^ a ă â Sách Bên Thắng Cuộc, Phần 2 Quyền Bính, Chương XVIII: Tam nhân phân quyền
  27. ^ Hoàng Hương (10 tháng 5 năm 2018). “Nữ tiến sĩ hai lần từ chối làm thứ trưởng”. Báo Tuổi trẻ. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2018. 
  28. ^ “Phu nhân nguyên Chủ tịch nước Lê Đức Anh từ trần”. Báo điện tử Thừa Thiên Huế. 20 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017. 
  29. ^ [1]

Thư mụcSửa đổi

  • Bolton, Kent (1999): "Domestic Sources of Vietnam's Foreign Policy: Normalizing Relations with the United States". in Thayer, Carlyle A., Amer, Ramses (ed.): Vietnamese Foreign Policy in Transition. Institute of Southeast Asian Studies, Singapore
  • Thayer, Carlyle A. (1999): "Vietnamese Foreign Policy: Multilateralism and the Threat of Peaceful Evolution". in Thayer, Carlyle A., Amer, Ramses (1999): Vietnamese Foreign Policy in Transition. Institute of Southeast Asian Studies, Singapore
  • Wurfel, David (1999): "Between China and ASEAN: The Dialectics of Recent Vietnamese Foreign Policy". in Thayer, Carlyle A., Amer, Ramses (ed.): Vietnamese Foreign Policy in Transition. Institute of Southeast Asian Studies, Singapore

Liên kết ngoàiSửa đổi