Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất

Tổ chức Phật giáo tại Việt Nam và hải ngoại

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (viết tắt là GHPGVNTN), thành lập vào tháng 1 năm 1964, là một trong những tổ chức Phật giáo hoạt động ở Việt Nam.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
Tăng thốngTrống
Chánh Thư Ký Viện Tăng ThốngThích Tuệ Sỹ, (theo di chúc, được công nhận rộng rãi)
Xử lý Thường vụ Hội đồng Lưỡng việnThích Tuệ Sỹ
Thành lập04 tháng 1 năm 1964
Trụ sở chínhTu viện Nguyên Thiều, Tuy Phước, Bình Định
Thiền viện Thanh Minh, Phú Nhuận, Sài Gòn
Chùa Từ Hiếu, TpHCM
Tổ chức thanh niênGia đình Phật tử
Ý thức hệPhật giáo
Thuộc quốc gia Việt Nam
Thuộc tổ chức quốc tế Hoa Kỳ  Đức  Úc  Canada
Khẩu hiệuPhụng sự chúng sinh tức cúng dường chư Phật

Lịch sử thành lậpSửa đổi

Giáo hội hình thành trong cuộc đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo năm 1963 dưới thời Đệ Nhất Cộng hòa ở miền Nam Việt Nam. Vì chính sách nhiều người cho là ưu đãi Công giáo của chính phủ Ngô Đình Diệm, Phật tử miền Nam Việt Nam đã xuống đường đông đảo ủng hộ Phật giáo ở Huế, Đà NẵngSài Gòn. Sự kiện Phật Đản năm 1963 khi Phật tử ở Huế công khai trương cờ Phật giáo ngày 8 tháng 5 bất chấp lệnh "cấm treo cờ" là ngòi thuốc nổ cho một chuỗi xung đột liên tục giữa chính quyền và các hội đoàn Phật giáo. Nhiều vụ vây chùa và bắt bớ tăng ni xảy ra trong cơn "Pháp nạn". Đến ngày 11 tháng 6 thì Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn để phản đối chính sách bất bình đẳng của chính phủ. Sự kiện này gây chấn động khắp trong và ngoài nước khiến chính phủ Ngô Đình Diệm bị mất tín nhiệm. Năm tháng sau phe quân nhân đảo chính. Tổng thống Ngô Đình Diệm bị giết.

Trong thời gian sôi động đó Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất chính thức khai sinh tháng 1 năm 1964 nhằm quy tụ các hội đoàn, tông phái Phật giáo về một mối. Trước đó, Phật giáo Việt Nam không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ nên tuy là số đông mà không có uy lực. Tổ chức quy mô toàn quốc duy nhất trước năm 1964Tổng hội Phật giáo Việt Nam thành lập từ năm 1951 gồm các thành phần Phật giáo Đại thừa khắp ba miền Nam, Trung, Bắc nhưng việc điều hành Tổng hội vẫn yếu. Phật giáo Nam tông thì lại có tổ chức riêng với tên Giáo hội Phật giáo Nguyên thủy, trụ sở ở chùa Kỳ Viên, Sài Gòn. Cuộc chính biến thúc bách các tổ chức Phật giáo miền Nammiền Trung thuộc Phật giáo Đại thừa (Bắc tông) lẫn Phật giáo nguyên thủy (Nam tông) đoàn kết gia nhập dưới một hiến chương thành một giáo hội, lấy tên là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Cuộc họp bắt đầu từ ngày 31 Tháng Chạp năm 1963 tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn với:[1]

  1. Ủy ban Liên phái Phật giáo: Thượng tọa Thích Tâm Châu
  2. Giáo hội Tăng già Bắc Việt: Thượng tọa Thích Tâm Giác
  3. Thiền tịnh Ðạo tràng: Thượng tọa Thích Minh Trực
  4. Giáo hội Nguyên thủy Việt Nam: Thượng tọa Thích Pháp Tri
  5. Giáo hội Theravada: Lục cả Lâm Em
  6. Giáo hội Tăng già Bắc Việt tại miền Nam: Thượng tọa Thích Thanh Thái
  7. Giáo hội Tăng già Trung phần: Thượng tọa Thích Huyền Quang
  8. Giáo hội Tăng già Nam Việt: Thượng tọa Thích Thiện Hoa
  9. Hội Phật học Nam Việt: cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
  10. Hội Phật giáo Nguyên thủy: cư sĩ Nguyễn Văn Hiếu
  11. Hội Phật giáo Trung phần: Thượng tọa Thích Trí Quang
  12. Hội Việt Nam Phật giáo: cư sĩ Vũ Bảo Vinh
  13. Ðại diện Phật tử Theravada: cư sĩ Sơn Thái Nguyên

Hòa thượng Thích Tịnh Khiết được suy tôn làm Tăng thống. Thượng tọa Thích Tâm Châu được bầu vào chức vụ Viện trưởng Viện Hóa đạo và Thượng tọa Thích Trí Quang giữ chức Tổng Thư ký Viện Tăng thống.[2] Chùa Ấn Quang tại Sài Gòn được chọn làm trụ sở sinh hoạt của Giáo hội.

Vì quan điểm trung lập chính trị, kêu gọi tái lập hòa bình tại Việt Nam, Giáo hội tuy được hoạt động đã gặp nhiều khó khăn với các chính phủ quân sự của tướng Nguyễn Khánh rồi Nguyễn Cao Kỳ trong những năm 1964-1967 và cả sau năm 1968 khi chiến tranh leo thang. Về mặt chính trị Giáo hội lập ra "Lực lượng Phật giáo Việt Nam", một cơ quan thuộc Viện Hóa đạo để tranh đấu và đề đạt nguyện vọng của Giáo hội với chính quyền. Chủ trương của Lực lượng này là làm áp lực với phe tướng lãnh để tái lập chính phủ dân sự. Ngoài ra Lực lượng Phật giáo cũng đòi phe Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam giải giới và rút về phía bắc vĩ tuyến 17.[3] Dù trong hoàn cảnh sôi động đó Giáo hội vẫn hoạt động mạnh trong cả hai lãnh vực Phật sự lẫn xã hội.

Thời kỳ 1964-1975Sửa đổi

 
Chùa Ấn Quang, trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước năm 1975

Sinh hoạt dân sự của Giáo hội là một bước tiến lớn trong việc hiện đại hóa Phật giáo Việt Nam trong tinh thần nhập thế. Viện Cao đẳng Phật học, Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội, tuần báo Hải triều âm[4] (1964), tuần báo Chánh Đạo (1964-69), tuần báo Thiện mỹ,[5] Viện Đại học Vạn Hạnh,[6] Nhà xuất bản Lá Bối cùng những trường trung tiểu học, cô nhi viện, ký nhi viện, bệnh xá, chẩn y viện và các tổ chức thanh thiếu niên Phật giáo là thành quả lớn của Giáo hội. Tổ chức Gia đình Phật tử được đặt dưới quyền điều hành của Tổng vụ Thanh niên thuộc Viện Hóa đạo. Giáo hội cũng điều hành hệ thống tư thục trung tiểu học ở nhiều tỉnh thành miền Nam Việt Nam dưới tên Trường Bồ đề thuộc Giáo dục vụ của Giáo hội.[7][8] Giáo hội cũng gửi đơn lên chính phủ cho thành lập, lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, Nha Tuyên úy Phật giáo để song hành với Nha Tuyên úy Công giáo trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Thỉnh nguyện này được chấp thuận và thi hành.[9]

Năm 1971, Giáo hội lập thêm phân bộ hải ngoại với trụ sở đặt tại Paris, Pháp.[10]

Phân hóaSửa đổi

Ngay từ giữa thập niên 1960 Giáo hội đã có sự rạn nứt trong giới lãnh đạo. Hàng giáo phẩm ngả thành hai khối: "khối Ấn Quang" (gồm ba đoàn thể) và "khối Việt Nam Quốc tự" (có tám đoàn thể).[11] Khối Ấn Quang (do Thượng tọa Thích Trí QuangĐại đức Thích Nhất Hạnh lãnh đạo)[12] có khuynh hướng thiên tả nên bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra sắc luật 23/67 ngày 18 tháng 7 năm 1967 công nhận khối Việt Nam Quốc Tự thay vì khối Ấn Quang. Khối Ấn Quang từ đó hoạt động quyết liệt hơn trong việc ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam.[13] Khối Việt Nam Quốc Tự do Hòa thượng Thích Tâm Châu chủ trương thì chọn đường lối đấu tranh ôn hòa hơn.[12]

Thời kỳ 1975-1982Sửa đổi

 
Ngọn tháp của Việt Nam Quốc Tự, một trụ sở quan trọng của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước năm 1975

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, Giáo hội bị chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tịch thu các cơ sở. Khối Ấn Quang mặc dù đã ủng hộ Mặt trận Giải phóng cũng không được chính quyền mới chiếu cố. Ngay từ cuối năm 1975 đã có những đụng độ giữa Giáo hội và chính quyền. Mười hai Phật tử và tăng ni đã tự thiêu ở chùa Dược Sư, Cần Thơ để phản đối lệnh cấm treo cờ Phật giáo cùng những điều lệ bó buộc khác.[14] Đại đức Thích Huệ Hiền để lại chúc thư yêu sách chính quyền Cách mạng thực hiện nhân quyền, tự do tôn giáo, chấm dứt đàn áp GHPGVNTN[15]. Sang tháng 3 năm 1977 khi nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam trưng dụng Cô nhi viện Quách Thị Trang, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất phản kháng mạnh mẽ kêu gọi Phật tử xuống đường phản đối. Viện Đại học Vạn Hạnh bị nhà nước buộc phải đóng cửa.[14] Nhà xuất bản Lá Bối cũng phải ngưng hoạt động.[16] Ban lãnh đạo Giáo hội có gửi thư đòi thực thi tự do tôn giáo thì chính phủ phản ứng với lệnh bắt giam sáu thành viên lãnh đạo, trong đó có Hòa thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng ĐộThích Thiện Minh. Thượng tọa Thích Thiện Minh sau đó đã chết trong trại giam[15], thượng tọa Thích Quảng Độ cho là ông đã bị đánh chết trong tù [17]. Để phản đối hành động áp bức này Hòa thượng Thích Đôn Hậu tuyên bố rút ra khỏi Mặt trận Tổ quốc và từ chức đại biểu Quốc hội.[18] Ngày 16 tháng 4 năm 1977, Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Thông báo kêu gọi Phật tử thành phố đấu tranh chống lại GHPGVNTN. Thông báo còn hăm doạ ra tay đàn áp.[15]

Năm 1981, nhằm thống nhất các hệ phái Phật giáo, sau ba năm vận động chính phủ cho thành lập một tổ chức mới mang tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) làm tổ chức duy nhất đại diện Phật giáo toàn quốc.[19] Hàng ngũ giáo phẩm thiên tả trong Giáo hội ủng hộ đường lối này[16]. Trưởng ban vận động Thống nhất Phật giáo Việt Nam là Hòa thượng Thích Trí Thủ, lúc đó là Viện trưởng Viện hóa đạo GHPGVNTN.[20] Theo "Hồ sơ Thống nhất Phật giáo" của Đỗ Trung Hiếu, đảng viên cán bộ được Ban Tôn giáo chính phủ giao nhiệm vụ thực hiện việc hợp nhất Phật giáo thì Giáo hội mới sẽ nằm dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.[21][22]

Nhiều lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất gia nhập tổ chức mới và trở thành lãnh đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam[cần dẫn nguồn] mới như Hòa thượng Thích Đôn Hậu (Tăng thống GHPGVNTN) làm Phó Pháp chủ kiêm Giám luật GHPGVN đến khi qua đời;[23] Hòa thượng Thích Trí Thủ (Viện trưởng Viện hóa đạo GHPGVNTN) làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đến khi qua đời; Hòa thượng Thích Trí Tịnh (Phó viện trưởng Viện hóa đạo GHPGVNTN) làm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN, nay là Chủ tịch Hội đồng Trị sự, Đệ Nhất Phó pháp chủ GHPGVN.

Tuy nhiên một số thành viên khác của Giáo hội Thống nhất không chấp nhận tổ chức GHPGVN và bị chính phủ ép giải tán nhưng không qua văn bản chính thức của chính phủ. Ngày 24 tháng 2 năm 1982, Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định trục xuất hai Hoà thượng Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ về quản chế tại quê quán Quảng Ngãi và Thái Bình, không qua sự xét xử của toà án. Ngày 7-7 cùng năm, chùa Ấn Quang là trụ sở của GHPGVNTN bị cưỡng chiếm.[15] Toàn bộ tư liệu, hồ sơ của Viện Hoá Đạo bị đốt sạch trong năm ngày mới hết. Mất trụ sở và nhân sự Giáo hội Thống nhất ngưng hoạt động hoàn toàn.

Thời kỳ khôi phụcSửa đổi

 
Tháp Phước Duyên, chùa Thiên Mụ, nơi trụ trì của Hòa thượng Thích Đôn Hậu, đệ Tam tăng thống của Giáo hội

Bước sang thời kỳ Đổi Mới của thập niên 1990 tại Việt Nam, mặc dù Hòa thượng Thích Đôn Hậu lúc đó là Phó pháp chủ[cần dẫn nguồn] kiêm Giám Luật Hội đồng Chứng minh của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhân danh Viện Tăng thống, trụ trì chùa Thiên Mụ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, ông hiệu triệu Phật tử Việt Nam toàn cầu khôi phục lại Giáo hội dưới hiến chương 1964.[18][24] Chúc thư ông đề ngày 15 tháng 11 năm 1991.[25] Hòa thượng Thích Huyền Quang tiếp nhiệm năm 1992 làm Xử lý Viện Tăng thống khi Hòa thượng Đôn Hậu viên tịch; năm 2003 Thích Huyền Quang được tôn là Đệ Tứ Tăng thống và càng phấn đấu hơn để phục hoạt Giáo hội Thống nhất kể cả việc đối đầu với chính phủ Việt Nam.[18] Vì thực hiện và phổ biến Di chúc hòa thượng Thích Đôn Hậu, chư Tăng chùa Linh Mụ bị đàn áp dữ dội, đưa tới cuộc biểu tình bốn mươi nghìn Phật tử Huế xuống đường ngày 24 tháng 5 năm 1993 đòi hỏi nhân quyền và tự do tôn giáo. Đây là cuộc biểu tình lớn nhất chưa hề có dưới thể chế nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam[15].

Hoạt động quốc nộiSửa đổi

Giáo hội đòi hỏi toàn quyền hoạt động ngoài sự chỉ đạo của chính phủ[18] nhưng không được. Điển hình là tháng 5 năm 1994 khi giáo hội tổ chức cứu trợ đồng bào tỵ nạn bão lụt miền Tây thì chính quyền ra lệnh bắt phái đoàn gồm 60 tăng ni và 300 Phật tử. Trong vụ này Hòa thượng Thích Quảng Độ bị kết án năm năm, Thượng tọa Thích Không Tánh, Thích Nhật Ban và cư sĩ Nhật Thường bị ba đến năm năm tù.

Vì đã mất cơ sở cũ, Giáo hội lấy tu viện Nguyên Thiều ở Bình Định, nơi trụ trì của Đức Tăng thống và thiền viện Thanh Minh ở Phú Nhuận, nơi trụ trì của Viện trưởng Viện Hóa đạo để điều hành sinh hoạt.

Mặc dù ngày 2 tháng 4 năm 2003, Thủ tướng Phan Văn Khải tiếp Hoà thượng Thích Huyền Quang, xin Hòa thượng hỉ xả cho chuyện đã qua, vì cán bộ cấp địa phương làm sai. Thế nhưng, Giáo hội tiếp tục bị đàn áp, sách nhiễu thường trực. Mọi hoạt động của 20 Ban Đại diện Giáo hội tại các tỉnh thành đều bị ngăn cấm. Chùa Giác Minh của Hoà thượng Thanh Quang ở Đà Nẵng bị phong toả thường trực, các Đại lễ Phật Đản, Vu Lan hay Tết bị ngăn cấm tổ chức.[15]

Hoạt động ở hải ngoạiSửa đổi

 
Hòa thượng Thích Minh Tâm (1940-2013), chủ tịch Giáo hội ở Âu châu[26]

Năm 2007 Giáo hội cũng đặt thêm Văn phòng II Hải ngoại tại Hoa Kỳ để điều hành nhiệm vụ ngoài nước.[27] Trụ sở đặt ở chùa Điều Ngự thuộc thành phố Westminster, California.[28] Ở Âu châu có hội đồng điều hành khác do Hòa thượng Thích Minh Tâm chủ tọa.[26]

Những ngày lễ Phật giáo Giáo hội đều tổ chức nghi lễ, nhất là lễ Phật đản thì có diễn hành xe hoa trên đường phố.[29]

Ngoài hoạt động Phật sự, Giáo hội còn lên tiếng về những vấn đề xã hội trong cũng như ngoài nước như lời tuyên cáo lập trường về hành động xâm lấn của Trung QuốcBiển Đông vào Tháng Sáu năm 2011.[30]

Sự kiện Giáo chỉ số 9Sửa đổi

Vào cuối năm 2007, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất lại có sự chia rẽ và phân hóa sâu sắc sau khi Đại lão Hòa thượng Thích Quảng Độ, để thi hành Giáo chỉ số 9 của Đức Đệ Tứ Tăng thống Thích Huyền Quang, đã ra bản Thông bạch thành lập cơ cấu mới của Giáo hội tại Hoa Kỳ, Canada, Âu châu, Úc châu và New Zealand gồm những thành viên mà ông cho là trung kiên theo đường lối dân tộc và Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, nhiều thành viên cũ bị loại bỏ.[31] Tại hải ngoại, phản ứng của một số tăng ni Phật tử thì cho rằng Giáo chỉ số 9 là tiếm xưng.[32] Nội dung giáo chỉ số 9 và thông bạch xuất hiện vào năm 2007-2008 loại bỏ hầu hết tăng ni Phật tử hải ngoại ra khỏi giáo hội, chỉ còn một vài cơ sở như chùa Diệu Pháp tại California (Thích Viên Lý trụ trì), Phòng thông tin Phật giáo quốc tế (do Võ Văn Ái làm giám đốc), chùa Như Lai (Thích Chánh Lạc), Chùa Pháp Vân (Thích Hộ Giác và Giác Đẳng) và Thích Thiện Tâm ở Canada.

Sự kiện Giáo chỉ số 10Sửa đổi

Sự kiện Thông bạch năm 2008, đến năm 2012 - 2013 xảy ra sự kiện Hòa thượng Thích Quảng Độ gọi Thích Chánh Lạc là vị tăng phạm trọng giới, và yêu cầu tẩn xuất vị này khỏi giáo hội. Tuy nhiên nhiều thành viên của giáo hội tại Hải ngoại như hòa thượng Thích Viên Định (viện trưởng Viện Hóa đạo), Thích Viên Lý (Chủ tịch văn phòng II - văn phòng Hải ngoại) không đồng ý, thậm chí còn muốn đưa Thích Chánh Lạc làm Cố vấn Văn phòng II, thay vị trí của hòa thượng Thích Hộ Giác mới viên tịch. Vì mâu thuẫn quá lớn này, ngày 30 tháng 8 năm 2013, Hòa thượng Thích Quảng Độ thông báo Cáo bạch từ nhiệm chức vụ Tăng thống. Nhưng đến ngày 4 tháng 9 ông lại nhận lại chức vụ Tăng thống.

Ngày 9 tháng 12 năm 2013, Hòa thượng Thích Quảng Độ ra Giáo chỉ số 10 thông báo chấm dứt chức vụ Viện trưởng Viện Hóa đạo của Thích Viên Định, Chủ tịch Văn phòng II của Thích Viên Lý với lý do bất tuân Tăng thống, đồng thời bổ nhiệm nhân sự mới. Thành viên giáo phẩm của Giáo hội còn lại rất ít người.[33]

Năm 2014, Thích Viên Định, Thích Viên Lý và một số người bất mãn khác cho rằng Tăng thống Thích Quảng Độ đã vượt quá quyền hạn Tăng thống, nên đã thành lập Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tách khỏi giáo hội. Tăng đoàn tôn Hòa thượng Thích Thiện Hạnh (tại Huế) làm Thượng thủ, Thích Chánh Lạc làm Chủ tịch Hội đồng giáo phẩm, Thích Viên Định làm Viện trưởng Hội đồng điều hành. Như vậy sau hai sự kiện Giáo chỉ số 9 và số 10, cùng với thực tế là các Giáo hội PGVNTN tại châu Úc, Mỹ, châu Âu đã hoạt động có tính độc lập, thì GHPGVNTN gần như không còn hoạt động nào rõ ràng từ sau năm 2014.

Trong di chúc Hòa thượng Thích Quảng Độ đề cử hòa thượng Thích Tâm Liên vào vị trí Xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống, để sau khi ông qua đời có thể tiếp tục vị trí Tăng thống. Tuy nhiên vào tháng 10 năm 2018, Hòa thượng Thích Quảng Độ bị gây sức ép để rời khỏi Thanh Minh thiền viện, nơi ông đã ở từ năm 1998, và trước khi rời khỏi thiền viện, ông đã ký quyết định bãi truất đề cử này, cùng với bãi nhiệm chức vụ Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống và Viện Trưởng Viện Hóa đạo của Hòa thượng Thích Tâm Liên cũng như chức vụ Tổng thư ký Viện Hóa đạo và các chức vụ khác của Cư sỹ Lê Công Cầu.[34]

Ngày 25/11/2018, Hòa thượng Thích Quảng Độban hành Quyết định số 12/TT/VTT/QĐ giải tán mọi nhân sự và chức vụ trong Ban Chỉ đạo Viện Hoá Đạo nhiệm kỳ 2018 – 2020 và tạm ngưng mọi hoạt động của Viện Hoá Đạo cho đến khi Viện Tăng thống triệu tập Đại hội bất thường GHPGVNTN công cử nhân sự mới cho Viện Hoá đạo.

Ngày 12/05/2019, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã ban hành Giáo chỉ số 19-VTT/TT/GC cung thỉnh Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ đăng lâm pháp tịch vào hàng Trưởng lão Hội đồng Giáo phẩm Trung ương của Viện Tăng thống.[35]

Ngày 24/05/2019, Hòa thượng Thích Quảng Độ đã ban hành Quyết định số 14-VTT/TT/QĐ thỉnh cử Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ thay thế Đức Tăng thống vì trọng bệnh để lãnh đạo GHPGVNTN ở vị trí Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống, thay mặt Đức Tăng thống tổ chức Đại hội bất thường để bầu cử nhân sự mới cho Viện Hóa đạo khi đủ thuận duyên.[35]

Ngày 20/04/2020, nhân lễ chung thất của Hòa thượng Thích Quảng Độ, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ phụng thừa Quyết định Ủy thác Quyền Điều hành Viện Tăng thống trở thành Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống GHPGVNTN.[35]

Ngày 10/05/2021, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ ra Thông bạch cung thỉnh thành lập Hội đồng Hoằng pháp do Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ làm Cố vấn Chỉ đạo, Hòa thượng Thích Như Điển làm Chánh Thư ký và Hòa thượng Thích Nguyên Siêu làm Phó Thư ký.[36]

10:00 sáng ngày 27/11/2021 theo giờ Việt Nam, Hội đồng Hoằng Pháp tổ chức Đại hội I. Đại hội đã hoan hỷ đồng thuận đề nghị của Hòa thượng Cố vấn Hội đồng Hoằng pháp Thích Tuệ Sỹ thành lập HỘI ĐỒNG PHIÊN DỊCH ĐẠI TẠNG LÂM THỜI gồm có:

Chủ tịch: Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ

Cố vấn: Giáo sư Trí Siêu Lê Mạnh Thát

Chánh Thư Ký: Hòa Thượng Thích Như Điển

Phó Thư Ký hải ngoại: Hòa Thượng Thích Nguyên Siêu

Phó Thư Ký quốc nội: Hòa Thượng Thích Thái Hòa.[37]

Ngày 21/08/ 2022, GHPGVNTN tổ chức lễ phát nguyện và suy tôn Hội đồng Giáo phẩm Trung ương, đồng thời suy cử Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ làm Chánh Thư ký kiêm Xử lý Thường vụ Viện Tăng thống, được cử hành tại chùa Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.[38]

Ngày 28/12/2022, tại Tổ đình Phật Ân, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai, Hội đồng Giáo phẩm Trung ương (HĐGPTW) ban hành Quy chế tạm thời về HĐGPTW tên là Quy chế Lược yếu gồm 04 chương, 06 điều và một chương kết, làm văn bản Pháp y cho mọi sinh hoạt của Giáo hội và thiết lập hai Pháp tòa là Pháp tòa Hoằng giáo và Pháp tòa Hoằng giới tạm thời đảm nhiệm công việc của Viện Hóa đạo cho đến khi hội đủ thuận duyên triệu tập Đại hội bất thường để công cử nhân sự cho Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo.

Ngày 29/12/2022, Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ thay mặt Hội đồng Giáo phẩm Trung ương ban hành Quyết định số 03/VTT/HĐGPTW/CTK/QĐ thỉnh cử nhân sự cho Văn phòng Viện Tăng thống và hai Pháp tòa:

  1. Thủ tòa Hoằng giáo: Hòa thượng Thích Phước An
  2. Thủ tòa Hoằng giới: Hòa thượng Thích Đức Thắng
  3. Nhiệp sự trưởng Tăng sự: Hòa thượng Thích Minh Nghĩa
  4. Nhiếp sự trưởng Thanh niên: Hòa thượng Thích Minh Tâm
  5. Nhiếp sự trưởng Từ thiện: Hòa thượng Thích Thiện Minh
  6. Nhiếp sự trưởng Từ thiện: Hòa thượng Thích Hạnh Nguyện
  7. Nhiếp sự trưởng Hoằng pháp: Thượng tọa Thích Nguyên Hiền
  8. Nhiếp sự trưởng Tại gia Học giới: Thượng tọa Thích Nhuận Châu[39]

Tổ chứcSửa đổi

Trung ươngSửa đổi

Giáo hội được chia thành hai bộ phận:

  • Viện Tăng thống: trông coi hàng giáo phẩm, có thể coi như ban nội vụ; Viện này có các thành viên là Tăng sỹ. Viện Tăng thống đặt trụ sở ở chùa Ấn Quang.[40]
  • Viện Hóa đạo: đảm nhiệm liên hệ với Phật tử, tức ban ngoại vụ. Viện có các thành viên gồm tăng lữ và Cư sỹ. Viện Hóa đạo lấy chùa Việt Nam Quốc tự làm trụ sở hoạt động.[40]

Hội đồng Lưỡng viện giám sát cả hai.

Hội đồng Giáo phẩm Trung ươngSửa đổi

Hội đồng Giáo phẩm Trung ương gồm các Hòa thượng, Thượng tọa do Viện Hóa đạo đề cử hoặc Đức Tăng thống duyệt y và thỉnh mời.

Viện Tăng thốngSửa đổi

Văn phòng viện Tăng Thống gồm Phó Tăng thống, các Phụ tá Đức Tăng thống, Chánh Thư ký, Phó Thư ký do Đức Tăng thống tuyển trạch trong hàng Hòa thượng và Thượng tọa của HĐGHTW.

Viện Hóa đạoSửa đổi

Viện Hóa đạo có các ban, gọi là tổng vụ[41].

Theo Hiến chương 1964, có 6 Tổng vụ, đứng đầu là các Tổng Ủy viên. Trong các Tổng vụ có các Vụ, đứng đầu là các Vụ Trưởng.[42]

Các Tổng vụ và các Vụ gồm:

  1. Tổng vụ Tăng sự a) Tăng bộ Bắc tông vụ b) Tăng bộ Nam tông Vụ c) Ni bộ Bắc tông Vụ (y chỉ Tăng bộ Bắc tông) d) Ni bộ Nam tông Vụ (y chỉ Tăng bộ Nam tông) e) Phật học Vụ
  2. Tổng vụ Hoằng pháp a) Phiên dịch Vụ b) Trước tác, Báo chí Vụ c) Truyền bá Vụ d) Kiểm duyệt Vụ
  3. Tổng vụ Pháp sự a) Nghi lễ Vụ b) Giáo dục Vụ c) Văn mỹ nghệ Vụ d) Xã hội Vụ
  4. Tổng vụ Tài chánh và Kiến thiết a) Bất động sản Quản trị Vụ b) Ðộng sản Quản trị Vụ c) Kiến thiết Vụ
  5. Tổng vụ Cư sỹ a) Thiện Tín Bắc tông Vụ b) Thiện Tín Nam tông Vụ c) Phật tử chuyên nghiệp Ðặc trách Vụ
  6. Tổng vụ Thanh niên a) Gia đình Phật tử Vụ b) Sinh viên Phật tử Vụ c) Học sinh Phật tử Vụ d) Thanh niên Phật tử Vụ

Theo Hiến chương 1973, có 9 Tổng vụ, đứng đầu các Tổng vụ là các Tổng Vụ Trưởng.[43]

Các Tổng vụ và các Vụ gồm:

  1. Tổng vụ Tăng sự a) Tăng bộ Bắc tông Vụ b) Tăng bộ Nam tông Vụ c) Ni bộ Bắc tông Vụ (y chỉ Tăng bộ Bắc tông) d) Ni bộ Nam tông Vụ (y chỉ Tăng bộ Nam tông)
  2. Tổng vụ Hoằng Pháp a) Trứ tác, Phiên dịch Vụ b) Truyền bá Vụ c) Kiểm duyệt Vụ
  3. Tổng vụ Văn hóa a) Văn mỹ nghệ Vụ b) Lễ nhạc Vụ
  4. Tổng vụ Giáo dục a) Phật học Vụ b) Giáo dục Vụ (giám sát hệ thống trường Bồ đề)
  5. Tổng vụ Xã hội a) Từ thiện Vụ b) Y tế Vụ c) Huấn nghê Vụ
  6. Tổng vụ Cư sỹ a) Phật tử Chuyên nghiệp vụ b) Phật tử Sắc tộc vụ c) Thiện tín vụ
  7. Tổng vụ Thanh niên a) Gia đình Phật tử Vụ b) Sinh viên Phật tử Vụ c) Học sinh Phật tử Vụ d) Thanh niên Phật tử Vụ e) Hướng đạo Phật tử Vụ f) Thanh niên Phật tử Thiện chí Vụ
  8. Tổng vụ Kiến thiết a) Thiết kế Vụ b) Kiến tạo Vụ
  9. Tổng vụ Tài chánh

Theo Hiến chương 2015, có thêm 2 Tổng vụ là Tổng vụ Nghi lễ và Tổng vụ Truyền thông.[44]

Tổng Vụ Truyền Thông có hai Vụ :

a) Thông tin Phật giáo Quốc tế Vụ

b) Liên lạc Quốc tế Vụ

Ban Chỉ đạo và Hội đồng Viện Hóa đạoSửa đổi

Ban Chỉ đạo Viện Hóa đạo gồm có các thành viên

1 Viện Trưởng

2 hoặc 3 Phó Viện Trưởng

Các Tổng Vụ Trưởng

1 Tổng Thư ký

1 Phó Tổng Thư ký

1 Tổng Thủ quỹ

Ban Chỉ đạo Viện Hóa đạo do HĐGPTW đề cử, Ðại Hội GHPGVNTN bầu cử và Ðức Tăng Thống tấn phong.

Phó Tổng vụ Trưởng và Vụ Trưởng hợp cùng Ban Chỉ đạo VHĐ thành Hội đồng Viện Hóa đạo.

Ngoài thành phần Ban Chỉ đạo VHĐ còn có một Ban Cố Vấn, do HĐGPTW thỉnh mời, gồm từ 1 đến 3 vị Hòa thượng, Thượng tọa.

Xuất bảnSửa đổi

Bắt đầu vào thập niên 1960 Viện Hóa đạo có cho xuất bản hàng tháng tờ báo Từ Quang. Giáo hội thì có tờ nhật báo Chánh Đạo (1964-1969) làm cơ quan ngôn luận bán chính thức.[45] Nguyên thủy đây là tuần báo Hải triều âm. Sau tờ Chánh Đạo bị đình bản thì có tuần báo Thiện Mỹ và nhật báo Gió Nam.[5]

Địa phươngSửa đổi

Thời Việt Nam Cộng hòa thì 44 tỉnh thành được Giáo hội chia thành tám miền, đặt tên theo các vị cao tăng Việt Nam:[46]

  1. Miền Vạn Hạnh: Bắc duyên hải Trung phần từ Quảng Trị đến Quảng Ngãi.
  2. Miền Liễu Quán: Nam duyên hải Trung Phần từ Bình Định đến Bình Thuận.
  3. Miền Khuông Việt: Cao nguyên Trung phần từ Kontum đến Quảng Đức (nay là Lâm Đồng).
  4. Miền Khánh Hòa: Miền Đông Nam Phần từ Bình Tuy lên Phước Long, Tây Ninh xuống đến Gia Định,
  5. Miền Huệ Quang: Miền Tây Nam phần Tiền Giang,
  6. Miền Khánh Anh: Miền Tây Nam phần Hậu Giang,
  7. Miền Quảng Đức: Thủ đô Sài gòn, trực thuộc Viện Hóa Đạo,
  8. Miền Vĩnh Nghiêm: Phật tử Miền Bắc di cư và đại diện cho cả Miền Bắc tuy trên thực tế Miền Bắc dưới sự kiểm soát của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không giữ liên lạc với Giáo hội.

Ở cấp tỉnh Giáo hội cũng lập Ban Đại diện, đôi khi xuống đến cấp quận tùy theo nhu cầu.[46]

Thành phần Ban Đại diện cấp tỉnh:

1 Chánh Ðại Diện (Tăng sỹ)

2 Phó Ðại Diện

1 Ðặc Ủy Tăng sự

1 Ðặc Ủy Hoằng pháp

1 Ðặc Ủy Văn hóa

1 Ðặc Ủy Giáo dục

1 Ðặc Ủy Cư sỹ

1 Ðặc Ủy Xã hội

1 Ðặc Ủy Thanh Niên

1 Ðặc Ủy Tài chánh

1 Ðặc Ủy Kiến thiết

1 Thư ký

1 Phó Thư ký

1 Thủ quỹ

1 Phó Thủ quỹ

Ở hải ngoại thì Giáo hội có 11 chi bộ trực thuộc Viện Hóa Đạo gồm các nước Anh, Ấn Độ, Canada, Cao Miên, Đức,Lào, Mỹ, Nhật, Pháp, Thái Lan, Thụy Sĩ.

Sau 1975Sửa đổi

Sau khi Việt Nam Cộng hòa sụp đổ thì cơ cấu tổ chức của Giáo hội bị thu hẹp nên tính đến năm 2008 thì Giáo hội chỉ còn văn phòng điều hành ở các tỉnh sau đây: Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Tiền Giang.

Văn phòng Viện Hóa đạo đặt tại chùa Giác Hoa thuộc Phường 7, quận Bình Thạnh.[47]

Tính đến năm 2013, khoảng 10% các cơ sở trước năm 1975 của Giáo hội Thống nhất còn thuộc quyền đảm nhiệm của Giáo hội. Số còn lại 90% đã bị chính quyền giao cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam quản lý.[48]

Vùng Sài Gòn-Gia Định cũ thì đến năm 2014 chỉ còn mỗi chùa Liên Trì ở Thủ Thiêm nhưng cũng bị áp lực giới chức địa phương đòi giải tỏa, theo lời vị sư trụ trì Thích Không Tánh thì nguyên do là để trấn áp giáo hội và phong trào xã hội dân sự nói chung.[49] Tháng 6 năm 2016, Thích Không Tánh lại cho biết, chính quyền đã đề nghị bồi thường đến 6 tỷ đồng để di dời chùa đến một mảnh đất hẻo lánh giáp ranh tỉnh Đồng Nai. Ông cho biết thêm: "Có thể một trong những lý do khiến chính quyền tìm mọi cách cưỡng chế, giải tỏa chùa là vì lâu nay vẫn diễn ra các hoạt động ‘ngoài luồng’ như phát quà cho thương phế binh của chế độ cũ, trợ giúp dân oan mất đất hay họp mặt các cựu tù chính trị hoặc các hội đoàn xã hội dân sự".[50]

Năm 2018, Đức Tăng thống ra Quyết định số 12/TT/VTT/QĐ giải tán nhân sự nhiệm kỳ 2018 - 2020 và tạm ngưng sinh hoạt nên Viện Hóa đạo xem như trống không.

Vì chưa thể tổ chức được Đại hội bất thường nên Hội đồng Giáo phẩm Trung ương thiết lập hai Pháp tòa, đứng đầu là vị Thủ tòa, phụ tá bởi vị Phó Thủ tòa

Hai Pháp tòa này gồm:

  1. Pháp tòa Hoằng giáo: giáo giới tứ chúng đệ tử y nguyên khế lý và khế cơ tự thân tu tập, hoằng dương Chánh pháp vì sự tăng ích và an lạc của chúng sanh.
  2. Pháp tòa Hoằng giới: y cứ Giới kinh Ba-la-đề-mộc-xoa và các pháp Yết-ma, duy trì bản thể thanh tịnh hòa hiệp của Tăng già, giám sát Tăng sự.

Trong khi chờ đợi Đại hội bất thường để kiện toàn nhân sự Viện Hóa đạo, Văn phòng Viện Tăng thống có nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động của Giáo hội. Thành phần Viện Tăng thống hiện hành gồm các Nhiệp sự vụ, các Phòng/Ban, điều hành bởi các Nhiếp sự trưởng, các Trưởng phòng và các Trưởng ban[39].

Các Nhiếp sự vụ gồm:

  1. Nhiếp sự Vụ Hoằng pháp
  2. Nhiếp sự Vụ Tăng sự
  3. Nhiếp sự Vụ Thanh niên
  4. Nhiếp sự Vụ Tại gia Học giới
  5. Nhiếp sự Vụ Từ thiện (Phước nghiệp sự)

Các Phòng, Ban gồm có:

  1. Phòng Hành sự
  2. Ban Báo chí

Tùy theo Pháp sự, Tăng sự cần thiết, Nhiếp sự Trưởng các Nhiếp sự Vụ, Trưởng Phòng Hành sự và Trưởng Ban Báo chí đệ trình Chánh Thư ký Viện Tăng thống chuẩn y, bổ nhiệm các Vụ Trưởng phụ trách điều hành các Vụ.[39]

Hải ngoại sau năm 1975Sửa đổi

Ở hải ngoại, Giáo hội có ba văn phòng riêng cho ba khu vực: Âu Châu, Hoa Kỳ, và Úc-New Zealand.[51] Năm 2007, Giáo hội lập Văn phòng II Viện Hóa Đạo do phó tăng thống Thích Hộ Giác điều hành.[52] Tổng thư ký là Thượng tọa Thích Viên Lý. Trụ sở của Văn phòng II đặt ở chùa Điều Ngự, Westminster, California.[53].

Năm 2012 Hòa thượng Thích Hộ Giác viên tịch, năm 2013 xảy ra sự kiện Giáo chỉ số 10, hòa thượng Thích Viên Lý bị chấm dứt chức vụ. Văn phòng II giao cho Quyền Chủ tịch là Hòa thượng Thích Trí Lãng.[33]

Danh sách Tăng thốngSửa đổi

Theo hiến chương GHPGVNTN thì Tăng thống chính thức khi được bầu ra từ một Đại hội. Trong giai đoạn Tăng thống trước đã viên tịch mà chưa tổ chức Đại hội thì có chức danh Xử lý thường vụ viện tăng thống, thường cũng được coi như Tăng thống lâm thời.

Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất từ khi thành lập đến nay đã có năm vị tăng thống và trong nhiều giai đoạn có Xử lý thường vụ viện Tăng thống.

  • Đệ nhất Tăng thống (1964-1973) Hòa thượng Thích Tịnh Khiết (1890-1973).[54]
  • Đệ nhị Tăng thống (1973-1979) Hòa thượng Thích Giác Nhiên (1878-1979).[55]
  • Đệ tam Tăng thống (1979-1991) Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1905-1991).[56] Sau khi Đệ Nhị Tăng thống viên tịch năm 1979 cho đến 2003 không có Đại hội, do đó Hòa thượng Thích Đôn Hậu trên danh nghĩa chỉ là Chánh Thư ký kiêm Xử lý thường vụ viện Tăng thống, tuy nhiên trên thực tế thường được coi là Tăng thống chính thức và chính thức được suy tôn sau khi viên tịch.
  • Đệ tứ Tăng thống (2003-2008) Hòa thượng Thích Huyền Quang (1920-2008), giai đoạn 1991 - 2003 là Xử lý thường vụ Viện Tăng thống, Đại hội 2003 tại Hải ngoại suy tôn là Tăng thống.
  • Đệ ngũ Tăng thống (2011-2020) Hòa thượng Thích Quảng Độ (1928-2020). Hòa thượng làm Xử lý Thường vụ Viện tăng thống từ cuối 2008[57] đến tháng 11 năm 2011 trong kỳ Đại hội kỳ IX của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất thì mới chính thức suy tôn là Đệ Ngũ Tăng thống.[58] Ngày 30 Tháng Tám, 2013, Hòa thượng Thích Quảng Độ ra bản cáo bạch từ chức tăng thống.[59] Tuy nhiên do sự cung thỉnh của chức sắc và Phật tử, ngày 4 tháng 9, Hòa thượng Quảng Độ đồng ý tiếp tục địa vị lãnh đạo.[60]

Quan điểm chính trịSửa đổi

Đức Tăng Thống Thích Quảng Độ trong chuyến đi thăm của Bà Rena Bitter, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại Thanh Minh Thiền Viện, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 17/3/2015, đã khẳng định: "Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất là Giáo hội có tiếng nói đối lập duy nhất tại Việt Nam để đòi hỏi nhân quyền, tự do dân chủ cho 90 triệu người dân Việt Nam và chúng tôi sẽ tranh đấu đến cùng dù phải trả với bất cứ giá nào. Lập trường của Giáo hội, là không chấp nhận chế độ độc tài toàn trị của Cộng sản."[61]

Liên kết ngoàiSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  • Civic Education Service. Two Viet Nams in War and Peace. Washington, D.C.: Civic Education Service, 1967.
  • Dommen, Athur J. The Indochinese Experience of the French and the Americans, Nationalism and Communism in Cambodia, Laos and Vietnam. Bloomington, IN: Đại học Indiana Press, 2001.
  • Nguyễn Văn Lục. Lịch sử Còn Đó. Garden Grove, CA: Tân Văn, 2008.
  • Nguyen Van Canh. Vietnam Under Communism, 1975-1982. Stanford, CA: Hoover Institution Stanford University, 1983.
  • Smith, Harvey et al. Area Handbook for South Vietnam. Washington, D.C.: Government Printing Office, 1967.
  • Templer, Robert. Shadows and Wind, A View of Modern Vietnam. New York: Penguin Books, 1998.
  • Lâm Vĩnh Thế. Bạch Hóa Tài liệu Mật Của Hoa Kỳ Về Việt Nam Cộng Hòa. Hamilton, ON: Hoài Việt, 2008.

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “Niên biểu lịch sử Phật giáo Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010.
  2. ^ Lâm Vĩnh Thế, tr. 190.
  3. ^ Smith, Harvey H., tr. 238
  4. ^ Nguyễn Văn Lục, tr. 160.
  5. ^ a b “Báo chí Phật giáo”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  6. ^ “Viện Đại học Vạn Hạnh”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.[liên kết hỏng]
  7. ^ “Chúc thư và Giáo chỉ của Đức cố Đệ Tứ Tăng thống”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  8. ^ “50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  9. ^ “Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Châu sẽ dự lễ hiệp kỵ tuyên úy Phật giáo”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  10. ^ “50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  11. ^ “Bạch thư về vấn đề chia rẽ giữa Ấn Quang với Việt Nam Quốc Tự” (PDF). Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.[liên kết hỏng]
  12. ^ a b Civic Education Service, tr. 86-87.
  13. ^ “Đại nạn của Phật giáo: Trích từ Bạch Thư Của Hòa Thượng Thích Tâm Châu”. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  14. ^ a b Dommen, Athur J., tr. 956.
  15. ^ a b c d e f “Cuộc đàn áp quy mô Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất sau 30/4”. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2015.
  16. ^ a b Nguyen Van Canh, tr. 179.
  17. ^ Phỏng vấn Đại Lão HT Thích Quảng Độ về GHPGVNTN 40 năm qua, RFA, 2015-04-29
  18. ^ a b c d “Vietnam: The Suppression of the Unified Buddhist Church”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  19. ^ “Vietnam: Religion”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  20. ^ “Lược sử Hội nghị đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  21. ^ “Hồ sơ "Thống Nhất Phật giáo". Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  22. ^ Templer, Robert, tr. 279-280.
  23. ^ “Hòa thượng Thích Đôn Hậu (1905-1992)”. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  24. ^ “Chúc thư của Hòa thượng Thích Đôn Hậu”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  25. ^ Tinh thần dung hóa của tư tưởng dân tộc Việt
  26. ^ a b "HT Thích Minh Tâm viên tịch"
  27. ^ “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế”. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  28. ^ “Chùa Diệu Pháp”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  29. ^ Đại lễ Phật đản ở California theo Người Việt
  30. ^ "Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất Liên Châu lên án Trung Quốc xâm lấn" theo RFI
  31. ^ Thi hành Giáo chí số 9 Lưu trữ 2016-01-26 tại Wayback Machine, ngày 26 tháng 9 năm 2007
  32. ^ “Hải Triều Âm”. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  33. ^ a b [1]
  34. ^ [2]
  35. ^ a b c Src='https://Secure.gravatar.com/Avatar/C95462e94114304a4df1bdcbf82b8877?s=16, <img Alt=; #038;d=identicon; Srcset='https://Secure.gravatar.com/Avatar/C95462e94114304a4df1bdcbf82b8877?s=32, #038;r=g'; #038;d=identicon; Kỳ, #038;r=g 2x' class='avatar avatar-16 photo' height='16' width='16' loading='lazy'/> Sen Trắng Hoa (18 tháng 4 năm 2020). “Thích Tuệ Sỹ: Cảm Niệm Ân Sư, Cẩn bạch nhân lễ Tưởng niệm Chung thất Trưởng lão Thích Quảng Độ”. sentrangusa.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2022.Quản lý CS1: nhiều tên: danh sách tác giả (liên kết)
  36. ^ “Thông bạch thỉnh cử Hội Đồng Hoằng Pháp của Viện Tăng Thống Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”. Thư Viện Gia Đình Phật Tử. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2022.
  37. ^ “Huệ Hương: Tường thuật nhanh về Đại Hội HỘI ĐỒNG HOẰNG PHÁP Lần I, 2021 qua hệ thống trực tuyến Zoom - Hội Đồng Hoằng Pháp” (bằng tiếng Anh). 29 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2022.
  38. ^ “Hội Đồng Giáo Phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Viện Tăng Thống Trân Trọng Công Bố - Hội Đồng Hoằng Pháp” (bằng tiếng Anh). 1 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2022.
  39. ^ a b c “Viện Tăng Thống GHPGVNTN - Văn phòng Chánh Thư ký: Thông Cáo Báo Chí - Hội Đồng Hoằng Pháp” (bằng tiếng Anh). 2 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2023.
  40. ^ a b "Về Phật giáo Việt Nam và hai giáo hội"
  41. ^ “50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  42. ^ “Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (1964) | Thư viện Phật Việt” (bằng tiếng Anh). 14 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2023.
  43. ^ “08. Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo VIỆT NAM THỐNG NHẤT - Chùa Bửu Châu - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam”. 08. Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo VIỆT NAM THỐNG NHẤT - Chùa Bửu Châu - Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2023.
  44. ^ Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (2016). Hiến chương GHPGVNTN tu chỉnh lần thứ 5 năm 2015.
  45. ^ Smith, Harvey et al., tr. 289.
  46. ^ a b “50 năm chấn hưng Phật giáo Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  47. ^ Công an sách nhiễu chùa Giác Hoa ở Saigon
  48. ^ "Về Phật giáo Việt Nam và hai giáo hội" theo BBC
  49. ^ "Chùa Liên Trì có nguy cơ bị xóa sổ" theo RFI
  50. ^ Chùa Liên Trì trước tin bị cưỡng chế , bbc, 23.6.2016
  51. ^ “Giáo hội PGVNTN Liên châu”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  52. ^ "Ngày Phật Ðản tại chùa Ðiều Ngự trong tôn nghiêm và đầy ý nghĩa" theo báo Người Việt. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2010.
  53. ^ "Ðại Lễ Phật Ðản tại chùa Ðiều Ngự"[liên kết hỏng]
  54. ^ “Danh tăng Việt Nam”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  55. ^ “Hòa thượng Thích Giác Nhiên”. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  56. ^ “Hòa thượng Thích Đôn Hậu”. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2010.
  57. ^ “Giáo hội bị cấm có tân lãnh đạo”. BBC Tiếng Việt. ngày 17 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2008.
  58. ^ Đại hội GHPG Việt Nam Thống nhất kỳ IX tại California
  59. ^ "HT Thích Quảng Độ từ chức lãnh đạo..." theo RFI
  60. ^ "Về Phật giáo Việt Nam và hai giáo hội"
  61. ^ Tổng lãnh sự Mỹ thăm Hòa thượng Quảng Độ, Ỷ Lan, RFA,ngày 19 tháng 3 năm 2015

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoài & Tham khảoSửa đổi