Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam

Giải bóng đá cấp cao nhất của VFF

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (tiếng Anh: V.League 1, còn có tên gọi LS V.League 1 vì lý do tài trợ) là giải đấu bóng đá chuyên nghiệp cao nhất ở Việt Nam, do Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam điều hành. Giải đấu bao gồm 14 đội thi đấu theo thể thức đấu vòng tròn sân nhà và sân khách. Đội về đích đầu tiên ở cuối mùa giải được tham dự AFC Champions League mùa giải sau.

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam
V.League 1
V.League 1 new logo.svg
Cơ quan tổ chứcVPF
Thành lập1980; 40 năm trước (1980)
(giải bán chuyên)
2000; 20 năm trước (2000)
(giải chuyên nghiệp)
Mùa giải đầu tiên1980 (với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc)
Quốc giaViệt Nam
Liên đoànAFC
Số đội14
Cấp độ trong
hệ thống
1
Xuống hạng đếnRed Arrow Down.svg V.League 2
Cúp trong nướcCúp bóng đá Việt Nam
Siêu cúp bóng đá Việt Nam
Cúp quốc tếAFC Champions League
Cúp AFC
Giải vô địch các câu lạc bộ ASEAN
Đội vô địch hiện tạiHà Nội (lần thứ 5)
(2019)
Vô địch nhiều nhấtThể Công
Hà Nội
(mỗi đội 5 lần)
Vua phá lướiViệt Nam Hoàng Vũ Samson
(189 bàn thắng)
Đối tác truyền hìnhVTV, VTC, ON SPORTS, HTV, VTVCab, BTV, VOV, FPT Play, Onme, K+
Trang webvpf.vn
V.League 1 mùa giải 2020

Giải ra mắt vào năm 1980 với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc. Tổng Cục Đường Sắt là đội bóng vô địch đầu tiên. Thể CôngHà Nội là hai câu lạc bộ thành công nhất trong lịch sử giải với mỗi đội vô địch 5 lần. Giải lên chuyên nghiệp từ mùa 2000-2001 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài tham gia thi đấu. Với sự ra đời của Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) vào năm 2012, quyền tổ chức chuyển từ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) sang VPF.

Lịch sửSửa đổi

Giải bóng đá vô địch quốc gia là sân chơi hạng cao nhất trong hệ thống thi đấu của bóng đá Việt Nam, do VFF tổ chức từ năm 1980, tính đến năm 2020 đã trải qua 37 mùa giải (năm 1988 không tổ chức, còn năm 1999 chỉ có giải Tập huấn mùa Xuân).

Giải đấu đã có những sự thay đổi từ tên gọi cho đến số lượng các đội tham dự cũng như thể thức thi đấu. Trong thập niên 80 của thế kỷ 20, giải đấu mang tên là giải bóng đá A1 toàn quốc.

Tiếp đó, tên giải đổi thành giải đội mạnh toàn quốc kể từ năm 1990 và mang tên là giải hạng Nhất quốc gia trong giai đoạn 1996 - 2000. Từ mùa giải 2000-2001 đến 2011, bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, giải vô địch quốc gia chính thức mang tên V-League với sự tham dự của các cầu thủ nước ngoài.

Với sự ra đời của VPF, từ năm 2012, tên giải đổi thành giải bóng đá Ngoại hạng (Super League).[1] Tuy nhiên, sau 5 vòng đấu, giải lấy lại tên là giải VĐQG Việt Nam (V-League).[2][3] Sang mùa giải 2013, VPF thay đổi tên viết tắt của giải thành V.League 1.[4]

Giải đã có 6 lần đổi tên, trung bình cứ 5 mùa giải lại đổi tên một lần. Giải đấu cũng đã 3 lần thay đổi về mặt thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1995: các đội bóng tham dự giải tham gia các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Các đội nằm ở tốp đầu mỗi bảng sẽ tranh tài ở Vòng chung kết để tranh chức vô địch, còn các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng sẽ thi đấu Vòng chung kết ngược để chọn ra các đội xuống hạng.

Tại mùa giải năm 1996, 12 đội tham dự thi đấu vòng tròn 2 lượt. Sau khi kết thúc 2 lượt này, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội xuống hạng. Từ năm 1997 đến 2013 (trừ giải Tập huấn mùa Xuân năm 1999), các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Đội giành được nhiều điểm nhất sẽ giành chức vô địch.

Còn các đội đứng cuối bảng (1 hoặc 2 đội tùy năm) sẽ phải xuống hạng. Biến động lớn nhất chính là số lượng các đội tham dự giải. Trước khi bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, con số này thay đổi: lúc thì 16,17, khi thì 18, 19, 20 đội, có thời điểm lên đến 27 đội (vào năm 1987) và 32 đội (vào năm 1989).

Khi V-League ra đời, con số này đã co lại nhưng cũng không ổn định. Trong 2 mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên (2000-2001 và 2001-2002), số lượng các đội bóng tham dự V-League đều là 10 đội. Bước sang mùa giải 2003, số lượng các đội bóng tranh tài ở sân chơi V-League tăng thành 12 đội.

Con số này giữ nguyên đến mùa giải 2005 trước khi tăng lên thành 13 đội ở mùa giải 2006 (lẽ ra đã là 14 đội nếu như Câu lạc bộ Ngân hàng Đông Á không mất quyền tham dự do dính vào vụ hối lộ trọng tài ở giải hạng Nhất 2005). Một năm sau, lần đầu tiên trong lịch sử V-League chứng kiến cuộc tranh tài của 14 đội bóng ở giải đấu hạng cao nhất của bóng đá Việt Nam.

Con số này giữ nguyên trong vòng 6 năm trước khi giảm xuống còn 12 đội ở V-League 2013 sau khi hàng loạt đội bóng bị giải thể hoặc chuyển giao. Theo dự kiến ban đầu, số lượng các đội bóng tham dự V-League 2014 sẽ quay trở lại con số 14. Thế nhưng do Câu lạc bộ bóng đá KienLongBank Kiên Giang không đủ kinh phí để đăng ký tham dự giải nên con số này sẽ chỉ còn là 13.[5] Từ mùa giải 2015 trở đi, số đội tham dự mỗi mùa giải là 14.

Thể thức thi đấuSửa đổi

  • Từ 1980 đến 1995: các đội chia thành các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Các đội ở tốp đầu lọt vào vòng chung kết để tranh chức vô địch, Các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng thi đấu vòng chung kết ngược để chọn đội xuống hạng.
  • Giải năm 1996, tất cả các đội (12 đội) thi đấu vòng tròn hai lượt. Sau khi kết thúc đợt 1, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội phải xuống hạng
  • Từ 1997 đến Mùa giải 2019 (trừ giải tập huấn mùa xuân năm 1999): các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Đội nhiều điểm nhất là đội vô địch. Các đội cuối bảng (1 hoặc 2 đội tuỳ năm) phải xuống hạng.
  • Mùa giải 2020, do đại dịch Covid-19 tại Việt Nam, sau khi đấu vòng tròn 1 lượt (13 vòng) xong, 8 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra nhà vô địch, 6 đội còn lại sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng.

Cách thức tính điểmSửa đổi

  • Từ năm 1996 trở về trước hệ thống điểm là 2-1-0.
  • Từ năm 1997 trở đi hệ thống điểm là 3-1-0.
  • Riêng 2 mùa giải 1994 và 1995 nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút sẽ đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.

Cách thức xếp hạngSửa đổi

Xếp chung cuộc theo thứ tự sau:

  • Điểm số các đội (theo thứ tự từ cao đến thấp)
  • Nếu có 2 hoặc nhiều đội bằng điểm nhau thì xếp theo thứ tự qua các chỉ số phụ:
  • Kết quả đối đầu trực tiếp
  • Hiệu số bàn thắng bàn thua
  • Tổng số bàn thắng

Thành tích các độiSửa đổi

Mùa giải Đội vô địch Đội hạng nhì Đội hạng ba
Giải bóng đá A1 toàn quốc
1980 Tổng cục Đường sắt Công an Hà Nội Hải Quan
1981-82 Quân đội Quân khu Thủ đô Công an Hà Nội
1982-83 Quân đội (2) Hải Quan Cảng Hải Phòng
1984 Công an Hà Nội CLB Quân đội Sở Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh
1985 Công nghiệp Hà Nam Ninh Sở Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh Cảng Sài Gòn
1986 Cảng Sài Gòn CLB Quân đội Hải Quan
1987 Quân đội (3) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1989 Đồng Tháp CLB Quân đội Công an Hà Nội
Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc
1990 Thể Công (4) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1991 Hải Quan Quảng Nam-Đà Nẵng Cảng Sài Gòn
Công an Hải Phòng
1992 Quảng Nam-Đà Nẵng Công an Hải Phòng CLB Quân đội
Sông Lam Nghệ An
1993-94 Cảng Sài Gòn (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh CLB Quân đội
Long An
1995 Công an Thành phố Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế Cảng Sài Gòn
1996 Đồng Tháp (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh Sông Lam Nghệ An
Giải Hạng nhất quốc gia
1997 Cảng Sài Gòn (3) Sông Lam Nghệ An Lâm Đồng
1998 Thể Công (5) Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh
giải tập huấn
1999
Sông Lam Nghệ An Công an Hà Nội Công an Thành phố Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
1999-00 Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh Công an Hà Nội
Giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp
2000-01 Sông Lam Nghệ An (2) Nam Định Thể Công
2001-02 Cảng Sài Gòn (4) Sông Lam Nghệ An Ngân hàng Đông Á
2003 Hoàng Anh Gia Lai Gạch Đồng Tâm Long An Nam Định
Giải bóng đá vô địch quốc gia
2004 Hoàng Anh Gia Lai (2) Nam Định Gạch Đồng Tâm Long An
2005 Gạch Đồng Tâm Long An Đà Nẵng Bình Dương
2006 Gạch Đồng Tâm Long An (2) Becamex Bình Dương Pisico Bình Định
2007 Becamex Bình Dương Long An Hoàng Anh Gia Lai
2008 Becamex Bình Dương (2) Long An Hải Phòng
2009 SHB Đà Nẵng (2) Becamex Bình Dương Sông Lam Nghệ An
2010 Hà Nội T&T Xi măng Hải Phòng Tập đoàn Cao su Đồng Tháp
2011 Sông Lam Nghệ An (3) Hà Nội FC SHB Đà Nẵng
2012 SHB Đà Nẵng (3) Hà Nội FC Sài Gòn Xuân Thành
2013 Hà Nội T&T (2) SHB Đà Nẵng HAGL
2014 Becamex Bình Dương (3) Hà Nội FC Thanh Hóa
2015 Becamex Bình Dương (4) Hà Nội FC Thanh Hóa
2016 Hà Nội T&T (3) Hải Phòng SHB Đà Nẵng
2017 Quảng Nam Thanh Hóa Hà Nội FC
2018 Hà Nội (4) Thanh Hóa Sanna Khánh Hòa BVN
2019 Hà Nội (5) TP Hồ Chí Minh Than Quảng Ninh

Từ khi V-League ra mắt (năm 2000)Sửa đổi

Các mùa giải 00/01 01/02 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019
Đội 10 10 12 12 12 13 14 14 14 14 14 14 11 12 14 14 14 14 14
Becamex Bình Dương 6 3 2 1 1 2 8 6 6 8 1 1 10 11 7 4
FLC Thanh Hóa[6] 12 7 11 5 3 3 6 2 2 13
Hà Nội FC 4 1 2 2 1 2 2 1 3 1 1
Hải Phòng[7] 6 10 10 7 12 3 7 2 12 14 6 10 6 2 7 6 12
Hoàng Anh Gia Lai 1 1 4 4 3 7 6 7 9 5 3 9 13 12 10 10 8
SHB Đà Nẵng - 6 10 9 2 7 5 4 1 6 3 1 2 4 9 3 9 9 10
Sông Lam Nghệ An 1 2 5 4 5 5 7 9 3 9 1 4 4 5 7 9 8 4 7
Than Quảng Ninh 6 4 4 4 5 3
Khánh Hòa 10 6 10 6 8 4 11 10 5 8 6 3 14
Quảng Nam 8 8 5 1 11 9
Thành phố Hồ Chí Minh[8] 4 1 11 - 8 10 8 5 13 12 12 2
Sài Gòn FC 6 5 8 5
Nam Định 2 5 3 2 6 9 4 11 12 14 13 11
Viettel 6
XSKT Cần Thơ[9] 11 11 13 14
Long An 2 3 1 1 2 2 10 5 13 9 11 10 13 14
Đồng Tháp 12 13 5 3 5 13 12 14
Bình Định 4 4 7 10 3 6 12
Đồng Nai 7 7 14
Huế 8 9 14
Hà Nội ACB[10] 7 8 8 5 11 8 11 13 14
Hòa Phát Hà Nội[11] 12 9 11 12 14 10 10
Hùng Vương An Giang 12
Navibank Sài Gòn[12] 13 8 8
Ngân hàng Đông Á[13] 5 3 9 12
Quân khu 4[14] 11
Thanh Hóa [15] 10 8 14
Thể Công[6] 3 7 6 11 8 9
Tiền Giang 13
Xi măng The Vissai Ninh Bình[16] 11 4 8 10
Kí hiệu sử dụng trong bảng
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải vô địch quốc gia
Đội bóng hiện đang thi đấu tại các hạng đấu thấp hơn
Đội bóng không còn tồn tại, đã giải thể


Số mùa giải tại V-League (từ khi thành lập năm 2000)Sửa đổi

Tính đến mùa giải năm 2019:

Bảng xếp hạng tổng (giai đoạn từ 2010 đến 2019)Sửa đổi

Câu lạc bộ Số mùa giải T H B BT BB HS Điểm Ghi chú
Hà Nội 10 141 60 49 420 287 +133 483
SHB Đà Nẵng 10 105 61 84 387 326 +61 376
Sông Lam Nghệ An 10 97 78 71 343 285 +58 369
Becamex Bình Dương 10 100 65 85 386 333 +53 365
Thanh Hoá 10 95 68 87 360 353 +7 353
Hải Phòng 10 91 64 95 308 343 -35 337
Hoàng Anh Gia Lai 10 86 65 99 369 404 -35 323
Sanna Khánh Hoà BVN 8 79 48 81 268 285 -17 285
Than Quảng Ninh 6 66 34 52 244 213 +31 232
Quảng Nam 6 59 51 44 249 220 +29 228
Sài Gòn 4 42 31 31 149 133 +16 157
XSKT Cần Thơ 4 25 27 52 127 181 -54 102
Thành phố Hồ Chí Minh 3 27 19 32 106 119 -13 100
Long An 3 15 17 46 103 170 -67 62
Dược Nam Hà Nam Định 2 13 16 23 65 86 -21 55
Viettel 1 11 3 12 33 40 -7 36
Đồng Tháp 2 8 8 36 56 121 -65 32
Đồng Nai 1 5 6 15 35 52 -17 21

Những đội có chữ đậm nghĩa là những đội còn thi đấu V.League 1.

Kỉ lụcSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

  • Vô địch nhiều lần nhất: Thể Công, CLB Hà Nội - đều vô địch 5 lần
  • Vô địch liên tiếp: Thể Công (1982, 1983), Sông Lam Nghệ An (2000, 2001), Hoàng Anh Gia Lai (2003, 2004), Gạch Đồng Tâm Long An (2005, 2006), Becamex Bình Dương (2007, 2008) (2014, 2015), CLB Hà Nội (2018, 2019) - đều vô địch liên tiếp 2 lần.
  • Vô địch sớm nhất: CLB Hà Nội (2018), trước 5 vòng đấu.
  • Giành nhiều điểm nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 64 điểm/26 trận - Trung bình 2,46 điểm/trận.
  • Đội vô địch giành điểm trung bình 1 trận cao nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 64 điểm/26 trận (thể thức giải có 26 trận) - Trung bình 2,46 điểm/trận; và Becamex Bình Dương (2014), 49 điểm/22 trận (thể thức giải có 22 trận) - Trung bình 2,23 điểm/trận.
  • Đội vô địch giành điểm trung bình 1 trận thấp nhất trong một mùa giải: Gạch Đồng Tâm Long An (2006), 40 điểm/24 trận - Trung bình 1,67 điểm/trận
  • Thắng nhiều trận nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 20/26 trận.
  • Đội vô địch có số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2018), 72 bàn thắng / 26 trận - Trung bình 2,77 bàn thắng/trận.
  • Đội vô địch có số bàn thua ít nhất trong một mùa giải: Becamex Bình Dương (2008), 18 bàn thua / 26 trận - Trung bình 0,69 bàn thua/trận.
  • Đội vô địch có hiệu số bàn thắng/thua cao nhất trong lịch sử: CLB Hà Nội (2018), hiệu số +42.
  • Đội vô địch có hiệu số bàn thắng/thua thấp nhất trong lịch sử: Cảng Sài Gòn (1997), hiệu số +3.
  • Nhiều trận thắng liên tiếp nhất trong một mùa giải: Sông Lam Nghệ An (2018), 8 trận.
  • Nhiều trận thua liên tiếp nhất trong một mùa giải: CLB Đồng Tháp (2016) và CLB Long An (2017), đều 10 trận.
  • Nhiều trận không thua liên tiếp nhất trong một mùa giải: CLB Hà Nội (2019), 14 trận, gồm 9 trận thắng và 5 trận hòa.
  • Nhiều trận không thắng liên tiếp nhất trong một mùa giải: CLB Đồng Tháp (2016), 23 trận, gồm 5 trận hòa và 18 trận thua.

Cầu thủSửa đổi

Từ khi V-League thành lậpSửa đổi

Vua phá lướiSửa đổi

Tính đến 23 tháng 10 năm 2019.[19]
Mùa bóng Họ tên Câu lạc bộ Số bàn thắng Số trận Tỉ lệ (bàn/trận)
1980   Lê Văn Đặng Công an Hà Nội 10 12 0,83
1981-82   Võ Thành Sơn Sở Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh 15 19 0,79
1982-83   Nguyễn Cao Cường CLB Quân đội 22 23 0,96
1984   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 15 1,00
1985   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 16 0,94
1986   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 12 17 0,71
  Nguyễn Trung Hải Sở Công nghiệp TP.Hồ Chí Minh
1987   Lưu Tấn Liêm Hải Quan 15 20 0,75
1989   Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1990   Nguyễn Hồng Sơn CLB Quân đội 10 15 0,67
1991   Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1992   Trần Minh Toàn Quảng Nam-Đà Nẵng 6 12 0,50
1993-94   Nguyễn Công Long Bình Định 12 10 1,20
  Bùi Sĩ Thành Long An 11 1,09
1995   Trần Minh Chiến Công an TP.Hồ Chí Minh 14 15 0,93
1996   Lê Huỳnh Đức Công an TP.Hồ Chí Minh 25 27 0,93
1997   Lê Huỳnh Đức Công an TP.Hồ Chí Minh 16 22 0,73
1998   Nguyễn Văn Dũng Nam Định 17 26 0,65
1999
tập huấn
  Vũ Minh Hiếu Công an Hà Nội 8 8 1,00
1999-00   Văn Sỹ Thủy Sông Lam Nghệ An 14 24 0,58
2000-01   Đặng Đạo Khánh Hoà 11 18 0,61
2001-02   Hồ Văn Lợi Cảng Sài Gòn 9 18 0,50
2003   Emeka Achilefu Nam Định 11 22 0,50
2004   Amaobi Uzowuru Nam Định 15 22 0,68
2005   Kesley Alves Bình Dương 21 22 0,95
2006   Elenildo De Jesus Thép Miền Nam-Cảng Sài Gòn 18 24 0,75
2007   Jose Emidio de Almeida Đà Nẵng 16 26 0,62
2008   Jose Emidio de Almeida Đà Nẵng 23 26 0,89
2009   Gaston Merlo Đà Nẵng 15 26 0,58
  Lazaro de Souza Quân khu 4
2010   Gaston Merlo Đà Nẵng 19 26 0,76
2011   Gaston Merlo Đà Nẵng 22 26 0,85
2012   Timothy Anzebe Hà Nội T&T 17 26 0,65
2013   Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 14 22 0,64
  Gonzalo Marronkle
2014   Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 23 24 0,96
2015   Patiyo Tambwe QNK Quảng Nam 18 26 0,69
2016   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 24 26 0,92
2017   Nguyễn Anh Đức Becamex Bình Dương 17 26 0,65
2018   Ganiyu Oseni Hà Nội 17 26 0,65
2019   Pape Omar Faye Hà Nội 15 26 0,58
  Bruno Cantanhede Viettel
Kỉ lục
  • Nguyễn Văn DũngGaston Merlo nắm giữ các kỉ lục là vua phá lưới nhiều lần nhất: 4 lần, với Nguyễn Văn Dũng là các năm 1984, 1985, 1986 và 1998 còn Gaston Merlo là các năm 2009, 2010, 2011 và 2016. Nguyễn Văn Dũng là vua phá lưới nhiều tuổi nhất (35 tuổi năm 1998); đoạt lại được danh hiệu vua phá lưới với khoảng thời gian cách xa nhất (12 năm, từ 1986 tới 1998); chia sẻ kỷ lục vua phá lưới 3 năm liên tiếp (1984–86) với Gaston Merlo (Argentina) (2009–11).
  • Nguyễn Hồng Sơn là vua phá lưới trẻ nhất (20 tuổi năm 1990).
  • Hoàng Vũ Samson (Samson Kayode) là chân sút số 1 V-League mọi thời đại với 189 bàn (tính đến ngày 23/10/2019).
  • Nguyễn Công Long là vua phá lưới với tỉ lệ cao nhất (1,2 bàn / trận, 12 bàn / 10 trận mùa bóng 1993 - 94). Tuy nhiên nếu xét tới số trận đấu thì các cầu thủ như Nguyễn Cao Cường (22 bàn / 23 trận, 1982–83), Lê Huỳnh Đức (25 bàn / 27 trận, 1996) và Kesley Alves (21 bàn / 22 trận, 2005) mới là thành tích đáng kể.
  • Kể từ khi các cầu thủ nước ngoài được thi đấu ở Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (2003), vua phá lưới đều là cầu thủ nước ngoài, ngoại trừ duy nhất Nguyễn Anh Đức (2017). Almeida (Brasil) là cầu thủ nước ngoài đầu tiên bảo vệ được danh hiệu vua phá lưới.
  • Về câu lạc bộ, đội bóng Nam Định (trước là Công nghiệp Hà Nam Ninh) và SHB Đà Nẵng (trước là Quảng Nam-Đà Nẵng) dẫn đầu với 6 danh hiệu vua phá lưới (trong đó có 4 của Nguyễn Văn Dũng và 3 của Gaston Merlo).

Trận đấuSửa đổi

Tài trợSửa đổi

V-League đã trải qua những nhà tài trợ khác nhau với những cái tên như Strata, Sting, Kinh Đô, Petro Vietnam Gas hay Eximbank…

Kể từ mùa giải 2000-2001, giải vô địch quốc gia gắn mình với tên và logo của nhà tài trợ chính và mở đầu là Công ty Tiếp thị thể thao Strata. Phía Strata đề nghị mua tên giải V-League không có ngực áo, cộng 12 biển quảng cáo trên sân với giá khoảng 400.000 USD và cả Cup quốc gia với giá 100.000 USD. Sau hai mùa giải, Strata rút lui khỏi V-League.

Sau Strata, V-League 2002-2003 có tên là Sting V-League. Công ty nước giải khát Pepsi tài trợ tên giải và Công ty Cổ phần Kinh Đô là nhà tài trợ chính thức. "Sting" là tên gọi một sản phẩm mới của Pepsi, sắp ra thị trường Việt Nam trong thời gian đó. Dù vậy mùa giải này tiền thưởng cũng bị cắt giảm khi đội vô địch chỉ nhận được khoản tiền thưởng bằng một nửa mùa trước là 500 triệu đồng. Cái tên Sting V-League cũng chỉ tồn tại sau một mùa giải và tới mùa giải 2003-2004, Kinh Đô V-League xuất hiện. Theo một số nguồn tin, Liên đoàn bóng đá Việt Nam nhận khoảng 9 tỷ đồng từ Kinh Đô trong mùa giải này. Dù vậy lời hứa từ Kinh Đô sẽ độc quyền tài trợ cho V-League trong 3 mùa không trở thành hiện thực khi ở những mùa giải tiếp theo, V-League gắn với cái tên Number One V-LeagueEurowindow V-League.

Sự xuất hiện của Tổng Công ty khí thuộc tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã giúp V-League có khoảng thời gian dài nhất gắn với tên nhà tài trợ. Tên giải đấu Petro Vietnam Gas V-League kéo dài 4 mùa giải và giúp cho giải đấu có nguồn tài chính ổn định. Đó là một dấu ấn trước khi Petro Vietnam Gas không còn xuất hiện và Eximbank vào thay. Từ trước tới nay, Eximbank là đơn vị tài trợ chi nhiều nhất cho V-League. Đến mùa giải 2014, số tiền mà Eximbank tài trợ cho một mùa bóng của V-League đã lên tới hơn 40 tỷ đồng. Tuy nhiên, trường hợp của Eximbank cũng là ngoại lệ bởi gói tài trợ của đơn vị này bao gồm hậu thuẫn từ Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Việt Nam Lê Hùng Dũng, người cũng là Chủ tịch Hội đồng quản trị Eximbank và là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị VPF. Mùa giải 2015, nhà tài trợ chính thức cho giải đấu là Toyota. Kết thúc mùa giải 2017, Toyota nói lời chia tay sau 3 năm tài trợ với số tiền 120 tỉ đồng.[20]

Sau Toyota, NutiFood với thương hiệu NutiCafe là cái tên tiếp theo gắn liền với giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (V-League) trong mùa giải 2018.[21] Năm 2019, Masan với thương hiệu Wake-up 247 đã trở thành nhà tài trợ chính giải Vô địch Quốc gia mùa bóng 2019.[22][23] Masan đã đồng ý tài trợ cho V.League trong 5 năm[24] nhưng cuối cùng chỉ tài trợ cho V-League được 1 mùa giải vì ngày 6 tháng 2 năm 2020, Tập đoàn LS Holdings ký kết hợp tác tài chính tại Giải bóng đá LS V.League 1-2020 và LS V.League 2-2020 và tập đoàn này chính thức là nhà tài trợ mùa giải 2020.[25][26]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam công bố Nhà tài trợ chính Giải bóng đá Ngoại hạng-Eximbank 2012.
  2. ^ Công văn 81 VPF về việc Tên giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp 2012
  3. ^ Thông báo: Đổi tên Super League trở lại thành V.League
  4. ^ Quyết định Ban hành Điều lệ giải bóng đá VĐQG - Eximbank 2013 (V.League 1)
  5. ^ “Lịch sử Giải bóng đá VĐQG, V- League”. http://thethaovanhoa.vn/. Ngày 30 tháng 11 năm 2013. 
  6. ^ a ă Kết thúc mùa giải 2009, Bộ Quốc Phòng đã giao Thể Công cho Viettel quản lý, Tổng công ty Viễn thông Quân đội đã lập tức chuyển giao đội bóng cho Thanh Hóa.Vĩnh Xuân. “Thanh Hóa mua Thể Công: Coi như đã xong!”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009.  Đội bóng mới mang tên Lam Sơn Thanh Hóa.Phong Vũ. “15h30 ngày 23/1, Lam Sơn Thanh Hóa – SHB.ĐN: Lam Sơn có phất cao cờ ?”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Xi măng Hải Phòng từng tham dự V-League là đội Công an Hải Phòng, sau được chuyển giao về sở Văn hóa-Du Lich-Thể thao Hải Phòng, đội từng mang các tên Thép Việt Úc - Hải Phòng, Mitsustar Haier - Hải Phòng rồi Vạn Hoa Hải Phòng.
  8. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh từng tham dự V-League là đội Cảng Sài Gòn, sau đổi tên thành Thép Miền Nam - Cảng Sài Gòn.
  9. ^ Sau khi thắng play-off trước đội Hùng Vương An Giang, Câu lạc bộ bóng đá XSKT Cần Thơ lên thi đấu V-League 2015. Pnld.com.vn. “XSKT Cần Thơ thăng hạng V-League”. Người Lao Động. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2014. 
  10. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội ACB từng tham dự V-League là đội Công an Hà Nội, sau được chuyển giao cho Hàng Không Việt Nam, trước khi sáp nhập với LG.ACB để trở thành LG.Hà Nội.ACB rồi Hà Nội ACB.
  11. ^ Câu lạc bộ bóng đá Hòa Phát Hà Nội khi được thành lập đã mua lại một đội bóng từng thi đấu tại V-League là đội LG.ACB.
  12. ^ Navibank Sài Gòn có tiền thân là đội bóng Quân khu 4.Hoàng Hảo - Đại Nghĩa. “Xoá tên đội bóng Quân khu 4”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2009. 
  13. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Đông Á từng tham dự V-League là đội Công an Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi Ngân hàng Đông Á giải thể đội được chuyển giao cho Sơn Đồng Tâm Long An, tiếp đó được chuyển nhượng cho Xi măng The Vissai Ninh Bình.
  14. ^ Kết thúc mùa giải 2009, Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã chuyển giao đội bóng cho Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn. Đội bóng mới mang tên Navibank Sài Gòn. Hoàng Hảo - Đại Nghĩa. “Xoá tên đội bóng Quân khu 4”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2009. 
  15. ^ Sau khi xuống hạng ở mùa giải 2009, và sau khi Thanh Hóa được Viettel chuyển giao cho đội Thể Công, ngày 18 tháng 1 năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định vĩnh viễn giải tán đội bóng thi đấu ở Giải hạng Nhất vì lý do thiếu kinh phí. Khánh Ngọc. “Thanh Hóa “khai tử” đội hạng Nhất: Nhà nghèo không thể chơi sang”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ Sau mùa giải 2006, Ninh Bình mua lại suất chơi hạng nhất của Sơn Đồng Tâm, đội bóng vốn trước đó có tiền thân là Ngân hàng Đông Á. P.T. “V.Ninh Bình: Tiền mua tiên cũng được”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2009. 
  17. ^ “Số liệu chuyên môn sau vòng 26 giải bóng đá VĐQG - TOYOTA 2016”. Công ty VPF. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2016. 
  18. ^ VPF - Toyota V.League 1 (21 tháng 9 năm 2015). “Số liệu chuyên môn sau vòng 26 giải bóng đá VĐQG - TOYOTA 2015”. vnleague.vn. Truy cập 29 tháng 9 năm 2015. 
  19. ^ “V.League 1 2019 Results - Vietnam Soccer Live” (bằng tiếng Anh). 
  20. ^ [http://www.vnleague.com/vpf/doi-tac/ |title=Đối tác|work=http://www.vnleague.com/ |date=ngày 1 tháng 11 năm 2015}}
  21. ^ “Nutifood trở thành nhà tài trợ chính cho V.League 2018”. 
  22. ^ “Công ty CP hàng tiêu dùng Masan là nhà tài trợ chính Wake-up 247 V.League 2019”. 
  23. ^ [https://vpf.vn/khong-phan-loai/wake-up-247-tro-thanh-nha-tai-tro-chinh-giai-vdqg-mua-bong-2019/ |title=Wake-up 247 trở thành Nhà tài trợ chính giải VĐQG mùa bóng 2019|work=vpf.vn |date=ngày 20 tháng 2 năm 2019}}
  24. ^ “V.League có nhà tài trợ mới: 'Chúng tôi chỉ cần không tiêu cực'. 
  25. ^ [https://bongdaplus.vn/bong-da-viet-nam/ls-han-quoc-tai-tro-v-league-va-hang-nhat-vi-hlv-park-hang-seo-2881312002.html |title=LS Hàn Quốc tài trợ V.League và hạng Nhất vì HLV Park Hang Seo|work=bongdaplus.vn |date=ngày 6 tháng 2 năm 2020}}
  26. ^ [https://vpf.vn/khong-phan-loai/ls-la-nha-tai-tro-chinh-tai-giai-vdqg-va-hnqg-2020/ |title=LS là Nhà tài trợ chính tại Giải VĐQG và HNQG 2020|work=vpf.vn |date=ngày 6 tháng 2 năm 2020}}

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

(tiếng Việt)