Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam

Giải bóng đá cấp cao nhất của VFF

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (tiếng Anh: V. League 1, còn có tên gọi LS V.League 1 vì lý do tài trợ) là giải đấu bóng đá chuyên nghiệp cao nhất Việt Nam, do Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) điều hành. Giải đấu bao gồm 14 đội thi đấu theo thể thức đấu vòng tròn sân nhà và sân khách. Đội bóng đứng đầu bảng ở cuối mùa giải được dự AFC Champions League mùa sau.[1]

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam
V.League 1
V.League 1 new logo.svg
Cơ quan tổ chứcVPF
Thành lập1980; 41 năm trước (1980)
(giải bán chuyên)
2000; 21 năm trước (2000)
(giải chuyên nghiệp)
Mùa giải đầu tiên1980 (với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc)
Quốc gia Việt Nam
Liên đoànAFC
Số đội14
Cấp độ trong
hệ thống
1
Xuống hạng đếnRed Arrow Down.svg V.League 2
Cúp trong nướcCúp bóng đá Việt Nam
Siêu cúp bóng đá Việt Nam
Cúp quốc tếAFC Champions League
Cúp AFC
Giải vô địch các câu lạc bộ ASEAN
Đội vô địch hiện tạiViettel (lần thứ 6)
(2020)
Vô địch nhiều nhấtThể Công/Viettel (6 lần)
Vua phá lướiViệt Nam Hoàng Vũ Samson
(191 bàn thắng)
Đối tác truyền hìnhVTV, VTC, HTV, VTVCab, BTV, VOV, FPT Play, Onme
Trang webvpf.vn
Giải bóng đá vô địch quốc gia 2021

Giải ra mắt vào năm 1980 với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc. Tổng cục Đường sắt là đội bóng vô địch đầu tiên. Đội bóng thành công nhất trong lịch sử giải là Viettel, đội bóng kế thừa của Thể Công với tổng cộng 20 danh hiệu trong đó có 6 chức vô địch V-League,13 danh hiệu vô địch Hạng A Quốc gia (Giải vô địch quốc gia tiền thân của V-League) và 1 lần Siêu cúp quốc gia.[2]Hải Phòng, đội bóng kế thừa Công an Hải Phòng, là đội xếp sau Viettel với tổng cộng 14 danh hiệu, bao gồm 10 chức vô địch giải Hạng A.

Giải chuyển sang chuyên nghiệp từ mùa 2000–01 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài tham gia thi đấu. Với sự ra đời của VPF vào năm 2012, quyền tổ chức chuyển từ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) sang VPF.

Hình thànhSửa đổi

Giải bóng đá vô địch quốc gia là sân chơi hạng cao nhất trong hệ thống thi đấu của bóng đá Việt Nam, do VFF tổ chức từ năm 1980, tính đến năm 2021 đã trải qua 38 mùa giải (năm 1988 không tổ chức, còn năm 1999 chỉ có giải Tập huấn mùa Xuân).

Giải đấu đã có những sự thay đổi từ tên gọi cho đến số lượng các đội tham dự cũng như thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1996, giải liên tục phải thay đổi thể thức khi không thể thức nào tồn tại quá 2 năm. Tới năm 1996, thể thức thi đấu sân nhà-sân khách được chính thức áp dụng và ổn định tới hiện nay. Năm 1988, Tổng cục Thể dục Thể thao tạm ngừng tổ chức giải để chấn chỉnh toàn bộ hệ thống thi đấu. Tới năm 1989, giải được tổ chức phân hạng lại với 32 đội tham gia chọn ra 18 đội mạnh nhất đá giải hạng A1. Tới năm 1989, hạng A1 còn 11 đội khi các đội xếp dưới kết hợp với 3 đội mạnh nhất hạng A2 hình thành hạng A2 mới. Tiếp đó, tên giải đổi thành Giải đội mạnh toàn quốc kể từ năm 1990 và mang tên là Giải hạng Nhất quốc gia trong giai đoạn 1996-2000.

Từ mùa giải 2000–01 đến 2011, bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, giải vô địch quốc gia chính thức mang tên V.League với sự tham dự của các cầu thủ nước ngoài.

Giải đã có 6 lần đổi tên, trung bình cứ 5 mùa giải lại đổi tên một lần. Giải đấu cũng đã 3 lần thay đổi về mặt thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1995, các đội bóng tham dự giải được phân vào các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Các đội nằm ở tốp đầu mỗi bảng sẽ tranh tài ở vòng chung kết để tranh chức vô địch, còn các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng sẽ thi đấu vòng chung kết ngược để chọn ra các đội xuống hạng.

Tại mùa giải năm 1996, 12 đội tham dự thi đấu vòng tròn 2 lượt. Sau khi kết thúc 2 lượt này, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội xuống hạng. Từ năm 1997 đến năm 2013 (trừ giải Tập huấn Mùa Xuân năm 1999), các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Đội ghi được nhiều điểm nhất sẽ giành chức vô địch. Còn các đội đứng cuối bảng (1 hoặc 2 đội tùy năm) sẽ phải xuống hạng.

Giải lên chuyên nghiệp từ mùa 2000–01 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài và cầu thủ nhập tịch tham gia thi đấu. Cầu thủ gốc Việt được coi như cầu thủ nội. Với sự ra đời của VPF vào năm 2012, quyền tổ chức được chuyển từ VFF sang VPF).

Cùng với đó, từ năm 2012, tên giải đổi thành Giải bóng đá Ngoại hạng (Super League).[3] Tuy nhiên, sau 5 vòng đấu, giải lấy lại tên là Giải VĐQG Việt Nam (V.League).[4][5] Sang mùa giải 2013, VPF thay đổi tên viết tắt của giải thành V.League 1.[6]

Biến động lớn nhất chính là số lượng các đội tham dự giải. Trước khi bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, con số này liên tục thay đổi: lúc thì 16,17 đội, khi thì 18, 19, 20 đội, có thời điểm lên đến 27 đội (vào năm 1987) và 32 đội (vào năm 1989).

Khi V.League ra đời, con số này đã co lại nhưng cũng không ổn định. Trong 2 mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên (2000–01 và 2001–02), số lượng các đội bóng tham dự V.League đều là 10 đội. Bước sang mùa giải 2003, số lượng các đội bóng tranh tài ở sân chơi V.League tăng thành 12 đội. Con số này giữ nguyên đến mùa giải 2005 trước khi tăng lên thành 13 đội ở mùa giải 2006 (lẽ ra đã là 14 đội nếu như Câu lạc bộ Ngân hàng Đông Á không mất quyền tham dự do dính vào vụ hối lộ trọng tài ở giải hạng Nhất 2005). Một năm sau, lần đầu tiên trong lịch sử V.League chứng kiến cuộc tranh tài của 14 đội bóng ở giải đấu hạng cao nhất của bóng đá Việt Nam.

Con số này giữ nguyên trong vòng 6 năm trước khi giảm xuống còn 12 đội ở V.League 2013 sau khi hàng loạt đội bóng bị giải thể hoặc chuyển giao. Theo dự kiến ban đầu, số lượng các đội bóng tham dự V.League 2014 quay trở lại con số 14, tuy nhiên Câu lạc bộ bóng đá KienLongBank Kiên Giang không đủ kinh phí để đăng ký tham dự giải nên con số này chỉ còn là 13.[7] Từ mùa giải 2015, số đội tham dự mỗi mùa giải là 14.

Thể thức thi đấuSửa đổi

  • Từ mùa giải 1980 đến 1995: các đội chia thành các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Các đội ở tốp đầu lọt vào vòng chung kết để tranh chức vô địch, Các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng thi đấu vòng chung kết ngược để chọn đội xuống hạng.
  • Mùa giải 1996, tất cả các đội (12 đội) thi đấu vòng tròn hai lượt. Sau khi kết thúc đợt 1, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội phải xuống hạng
  • Mùa giải 1997 đến 2019 (trừ giải tập huấn mùa xuân năm 1999): các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Đội nhiều điểm nhất là đội vô địch. Các đội cuối bảng (1 hoặc 2 đội tuỳ năm) phải xuống hạng.
  • Mùa giải 2020, do đại dịch COVID-19 tại Việt Nam, sau khi đấu vòng tròn 1 lượt xong, 8 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra nhà vô địch, 6 đội còn lại sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng.
  • Mùa giải 2021, sau khi đấu vòng tròn 1 lượt xong, 6 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn một lượt để tìm ra nhà vô địch, 8 đội còn lại đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng và 1 suất vé vớt (play-off) với đội đứng thứ 2 giải hạng Nhất.

Cách thức tính điểmSửa đổi

  • Từ mùa giải 1996 trở về trước hệ thống điểm là 2-1-0 (tương ứng với mỗi trận thắng-hòa-thua). Tuy nhiên có một số ngoại lệ:
  • Mùa giải 1986: Ở vòng 1, trận hoà thứ tư của mỗi đội không được tính điểm; ở vòng 2, nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Mùa giải 1987: Ở vòng 1, trận hoà thứ năm của mỗi đội không được tính điểm; ở vòng 2, nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Mùa giải 199394 và 1995: Nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Từ mùa giải 1997 trở đi hệ thống điểm là 3-1-0.

Cách thức xếp hạngSửa đổi

Xếp chung cuộc theo thứ tự sau:

  • Điểm số các đội (theo thứ tự từ cao đến thấp)
  • Nếu có 2 hoặc nhiều đội bằng điểm nhau thì xếp theo thứ tự qua các chỉ số phụ:
  • Kết quả đối đầu trực tiếp
  • Hiệu số bàn thắng bàn thua
  • Tổng số bàn thắng

Tuy nhiên, trong một số năm, tiêu chí hiệu số bàn thắng bàn thua và tổng số bàn thắng được ưu tiên hơn kết quả đối đầu.

Quy định số lượng cầu thủ ngoại và nhập tịchSửa đổi

Giải bắt đầu cho phép sử dụng cầu thủ ngoại từ năm 2000. Hiện tại, các câu lạc bộ được phép đăng ký 03 cầu thủ ngoại, 01 cầu thủ nhập tịch còn cầu thủ gốc Việt Nam được coi như cầu thủ nội. Đối với các đội dự giải châu lục được phép có thêm 01 cầu thủ ngoại quốc tịch châu Á. Trường hợp câu lạc bộ bị loại ở giải cấp châu lục trong giai đoạn 1 thì số lượng cầu thủ ngoại và nhập tịch ở giai đoạn 2 được áp dụng như các câu lạc bộ không tham gia giải châu lục.

Thành tích các độiSửa đổi

Các đội có thành tích cao nhất trong từng mùa giảiSửa đổi

Mùa giải Đội vô địch Đội hạng nhì Đội hạng ba
Giải bóng đá A1 toàn quốc
1980 Tổng cục Đường sắt Công an Hà Nội Hải Quan
198182 Câu lạc bộ Quân đội Quân khu Thủ đô Công an Hà Nội
198283 Câu lạc bộ Quân đội (2) Hải Quan Cảng Hải Phòng
1984 Công an Hà Nội Câu lạc bộ Quân đội Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
1985 Công nghiệp Hà Nam Ninh Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Câu lạc bộ Quân đội
1986 Cảng Sài Gòn Câu lạc bộ Quân đội Hải Quan
1987 Câu lạc bộ Quân đội (3) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1989 Đồng Tháp Câu lạc bộ Quân đội Công an Hà Nội
Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc
1990 Câu lạc bộ Quân đội (4) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1991 Hải Quan Quảng Nam-Đà Nẵng Cảng Sài Gòn
Công an Hải Phòng
1992 Quảng Nam-Đà Nẵng Công an Hải Phòng Câu lạc Quân đội
Sông Lam Nghệ An
199394 Cảng Sài Gòn (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh Câu lạc bộ Quân đội
Long An
1995 Công an Thành phố Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế Cảng Sài Gòn
1996 Đồng Tháp (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh Sông Lam Nghệ An
Giải Hạng nhất quốc gia
1997 Cảng Sài Gòn (3) Sông Lam Nghệ An Lâm Đồng
1998 Câu lạc bộ Quân đội (5) Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh
Giải tập huấn
1999
Sông Lam Nghệ An Công an Hà Nội Công an Thành phố Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
199900 Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh Công an Hà Nội
Giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp
2000–01 Sông Lam Nghệ An (2) Nam Định Thể Công
2001–02 Cảng Sài Gòn (4) Sông Lam Nghệ An Ngân hàng Đông Á
2003 Hoàng Anh Gia Lai Gạch Đồng Tâm Long An Nam Định
Giải bóng đá vô địch quốc gia
2004 Hoàng Anh Gia Lai (2) Sông Đà Nam Định Gạch Đồng Tâm Long An
2005 Gạch Đồng Tâm Long An Đà Nẵng Bình Dương
2006 Gạch Đồng Tâm Long An (2) Becamex Bình Dương Pisico Bình Định
2007 Becamex Bình Dương Đồng Tâm Long An Hoàng Anh Gia Lai
2008 Becamex Bình Dương (2) Đồng Tâm Long An Xi măng Hải Phòng
2009 SHB Đà Nẵng (2) Becamex Bình Dương Sông Lam Nghệ An
2010 Hà Nội T&T Xi măng Hải Phòng Tập đoàn Cao su Đồng Tháp
2011 Sông Lam Nghệ An (3) Hà Nội T&T SHB Đà Nẵng
2012 SHB Đà Nẵng (3) Hà Nội T&T Sài Gòn Xuân Thành
2013 Hà Nội T&T (2) SHB Đà Nẵng Hoàng Anh Gia Lai
2014 Becamex Bình Dương (3) Hà Nội T&T Thanh Hóa
2015 Becamex Bình Dương (4) Hà Nội T&T Thanh Hóa
2016 Hà Nội T&T (3) Hải Phòng SHB Đà Nẵng
2017 Quảng Nam FLC Thanh Hóa Hà Nội
2018 Hà Nội (4) FLC Thanh Hóa Sanna Khánh Hòa BVN
2019 Hà Nội (5) Thành phố Hồ Chí Minh Than Quảng Ninh
2020 Viettel (6) Hà Nội Sài Gòn

Số mùa giải từng đội tham gia, số trận đấu và kết quảSửa đổi

Số liệu được tính đến ngày 14 tháng 1 năm 2021, nguồn chính: http://www.rsssf.com/tablesv/vietchamp.html

Sau đây là bảng thống kê các mùa giải, số trận đấu và kết quả của từng đội bóng trong toàn bộ 38 mùa giải bóng đá vô địch quốc gia.

Số liệu về số trận đấu và kết quả các trận không bao gồm mùa giải 2021 còn chưa kết thúc và những mùa giải không có thông tin được ghi chép, cụ thể là các vòng bảng mùa giải 1990 và 1992; vòng hai mùa giải 1995; hai trận đấu ở vòng bảng mùa giải 1996.

Tổng số trận đấu được ghi lại là 5236 trong đó có 3824 trận phân thắng bại và 1412 trận hòa. Tổng số bàn thắng là 13783, số bàn thắng trung bình trong một trận đấu là: 2,63.

Kết quả chi tiết của từng câu lạc bộ như sau:

Câu lạc bộ Mùa giải tham gia Số mùa giải Số trận Thắng Hòa Thua Bàn Thắng Bàn Thua Điểm[8]
An Giang An Giang (1980, 1982–83, 1984, 1987-1997)

Hùng Vương An Giang (2014)

13 176 65 38 73 210 239 233
Bình Dương Sông Bé (1993–94, 1995)

Bình Dương (1998, 2004-2006)

Becamex Bình Dương (2007-2021)

21 461 189 126 146 701 581 693
Bình Định Công nhân Nghĩa Bình (1980-1989)

Bình Định (1990-1995, 1998, 2001/02-2004)

Hoa Lâm Bình Định (2005)

Pisico Bình Định (2006-2007)

Boss Bình Định (2008)

Topenland Bình Định (2021)

22 333 104 93 136 354 443 405
Cần Thơ Cần Thơ (1996)

Xổ số Kiến thiết Cần Thơ (2015-2018)

5 126 27 39 60 146 208 120
Công an Quảng Nam-Đà Nẵng Công an Quảng Nam-Đà Nẵng (1987-1989) 2 26 6 12 8 25 30 30
Đà Nẵng Quảng Nam-Đà Nẵng (1984-1995)

Đà Nẵng (1999–00, 2001/02-2007)

SHB Đà Nẵng (2008-2021)

31 586 240 157 189 853 721 877
Quân khu 5 Quân khu 5 (1992) 1 0 0 0 0 0 0 0
Đồng Nai Đồng Nai (1989, 2013-2015) 4 83 23 19 41 117 143 88
Đồng Tháp Đồng Tháp (1980, 1989-2000/01, 2003)

Delta Đồng Tháp (2004-2005)

Đồng Tháp (2007)

Tập đoàn Cao su Đồng Tháp (2009-2012)

Đồng Tháp (2015-2016)

22 423 136 114 173 495 588 522
Hoàng Anh Gia Lai Hoàng Anh Gia Lai (2003-2021) 19 438 172 99 167 651 639 615
Công an Hà Bắc Công an Hà Bắc (1989) 1 10 3 3 4 11 11 12
Công an Hà Nội Công an Hà Nội (1980-1992, 1996-2001/02)

Hàng không Việt Nam (2003)

18 290 113 90 87 366 311 429
Công nhân Xây dựng Hà Nội Công nhân Xây dựng Hà Nội (1981/82-1985, 1987-1990) 7 96 28 33 35 93 108 117
Hà Nội T&T Hà Nội (2009)

Hà Nội T&T (2010-2016)

Hà Nội (2017-2021)

13 296 163 72 61 604 355 561
Hà Nội ACB Tổng cục Đường sắt (1980-1985, 1987-1989)

Đường sắt Việt Nam (1990-1993/94)

LG ACB (2003)

LG Hà Nội ACB (2004-2006 vòng 1-13)[9]

Hà Nội ACB (2006 vòng 14-24-2008, 2011)

CLB Bóng đá Hà Nội (2012)[10]

19 323 94 89 140 376 467 371
Hòa Phát Hà Nội Hòa Phát Hà Nội (2005-2008, 2010-2011) 6 150 41 42 67 185 239 165
Phòng không Không quân Phòng không Không quân (1980-1987) 7 104 29 33 42 110 152 120
Quân khu Thủ đô Quân khu Thủ đô (1980-1989) 8 105 30 37 38 109 120 127
Thanh niên Hà Nội Thanh niên Hà Nội (1991) 1 10 1 2 7 5 14 5
Viettel CLB Quân đội (1981/82-1998)

Thể Công (1999/00-2004)

Thể Công-Viettel (2008 vòng 1-19)[11]

Thể Công (2008 vòng 20-26 -2009)

Viettel (2019-2021)

25 441 203 109 129 588 476 716
Hà Tĩnh Hồng Lĩnh Hà Tĩnh (2020-2021) 2 20 4 8 8 19 24 20
Hải Hưng Hải Hưng (1989) 1 10 0 3 7 1 20 3
Cảng Hải Phòng Cảng Hải Phòng (1980-1989) 8 115 34 44 37 122 123 146
Hải Phòng Công an Hải Phòng (1986-1993/94, 1997-2001/02)

Thép Việt-Úc Hải Phòng (2004)

Mitsustar Hải Phòng (2005)

Mitsustar Haier Hải Phòng (2006)

Xi măng Hải Phòng (2008-2010)

Vicem Hải Phòng (2011-2012)

Xi măng Vicem Hải Phòng (2013)[12]

Hải Phòng (2014-2021)

29 565 199 138 228 713 765 735
Công nhân Xây dựng Hải Phòng Công nhân Xây dựng Hải Phòng (1980, 198182) 2 22 6 6 10 13 22 24
Điện Hải Phòng Điện Hải Phòng (1987-1991) 4 47 14 18 15 36 41 60
Quân khu 3 Quân khu 3 (1980-1989) 8 110 28 37 45 101 129 121
Huế Thừa Thiên-Huế (1995-1996, 1999/00-2001/02)

Huda Huế (2007)

6 121 34 30 57 121 166 132
Khánh Hòa Phú Khánh (1980-1989)

Khánh Hòa (1992, 1995-2000/01)

Khatoco Khánh Hòa (2006-2012)

Sanna Khánh Hòa BVN (2015-2019)

27 554 199 140 215 661 717 737
Kiên Giang Kienlongbank Kiên Giang (2012-2013) 2 46 12 10 24 54 91 46
Lâm Đồng Lâm Đồng (1985-1999/00) 13 192 72 40 80 234 261 256
Long An Long An (1987-1995, 1998-1999/00)

Gạch Đồng Tâm Long An (2003-2006)

Đồng Tâm Long An (2007-2011, 2013-2015)

Long An (2016-2017)

23 456 158 113 185 647 711 587
Nam Định Công nghiệp Hà Nam Ninh (1982/83-1987)

Nam Định (1998-2003)

Sông Đà Nam Định (2004-2005)

Gạch men Mikado Nam Định (2006)

Đạm Phú Mỹ Nam Định (2007-2008)

Gạch men Mikado Nam Định (2009)

Megastar Nam Định (2010)

Nam Định (2018)

Dược Nam Hà Nam Định (2019-2020)

Nam Định (2021)

21 428 154 107 167 511 559 569
Dệt Nam Định Dệt Nam Định (1984, 1987-1990, 1992) 5 43 15 13 15 50 55 58
Sông Lam Nghệ An Sông Lam Nghệ Tĩnh (1986-1991)

Sông Lam Nghệ An (1992-2003)

Pjico Sông Lam Nghệ An (2004-2006)

Tài chính Dầu khí Sông Lam Nghệ An (2007-2008)

Sông Lam Nghệ An (2009-2021)

33 641 258 193 190 913 726 967
Ninh Bình Công an TP. Hồ Chí Minh (1986-1989, 1991-2001/02 vòng 1-11)

Ngân hàng Đông Á (2001/02 vòng 12-18 -2003)[13]

Ngân hàng Đông Á Thép Pomina (2004)

Xi măng The Vissai Ninh Bình (2010-2014)[14]

20 364 140 89 135 523 480 509
Quảng Nam QNK Quảng Nam (2014-2016)

Quảng Nam (2017-2020)

7 170 60 54 56 282 283 234
Than Quảng Ninh Than Quảng Ninh (1981/82-1989)

Công nhân Quảng Ninh (1991)

Than Quảng Ninh (2014-2021)

16 281 108 80 93 389 346 404
Thành phố Hồ Chí Minh Cảng Sài Gòn (1980-2003)

Thép Miền Nam Cảng Sài Gòn (2005-2008)

Thành phố Hồ Chí Minh (2009, 2017-2021)

30 540 221 145 174 759 657 808
Công nghiệp Thực phẩm Công nghiệp Thực phẩm (1980)
Lương thực Thực phẩm (198182)
Công nghiệp Thực phẩm (1985-1986)
4 53 12 18 23 62 74 54
Hải Quan Hải Quan (1980-1998) 16 241 108 57 76 335 267 381
Navibank Sài Gòn Quân khu 4 (2009)

Navibank Sài Gòn (2010-2012)[15]

4 104 31 29 44 125 151 122
Quân khu 7 Quân khu 7 (1989) 1 10 2 3 5 10 14 9
Sài Gòn Xuân Thành CLB Bóng đá Sài Gòn (2012 vòng 1-17)[16]

Sài Gòn Xuân Thành (2012 vòng 18-26)

Xi măng Xuân Thành Sài Gòn (2013)

2 26 12 10 4 43 23 46
Sài Gòn CLB Hà Nội (2016 vòng 1-5)[17]

Sài Gòn (2016 vòng 6-26 - 2021)

6 124 48 36 40 179 162 180
Sở Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh (1980-1989) 8 130 53 39 38 176 168 198
Công an Thanh Hóa Công an Thanh Hóa (1986-1991, 199394) 6 63 13 13 37 58 104 52
Thanh Hóa Halida Thanh Hóa (2007-2008 vòng 1-13)[18]

Xi măng Công Thanh-Thanh Hóa (2008 vòng 14-26 - 2009 vòng 1-17)

Thanh Hóa (2009 vòng 18-26)[19]

Lam Sơn Thanh Hóa (2010)

Thanh Hóa (2011-2015 vòng 1-12)

FLC Thanh Hóa (2015 vòng 13-26 - 2018)[20]

Thanh Hóa (2019-2020)

Đông Á Thanh Hóa (2021)

15 346 130 93 123 500 538 483
Tây Ninh Tây Ninh (1980-1982/83) 3 43 8 12 23 41 71 36
Gò Dầu Gò Dầu (1989) 1 10 2 1 7 5 15 7
Tiền Giang Tiền Giang (1980, 1987-1993/94)

Thép Pomina Tiền Giang (2006)

8 88 19 24 45 76 125 81
Vĩnh Phú Công nghiệp Việt Trì Vĩnh Phú (1989) 1 10 0 2 8 7 24 2
Vĩnh Long Vĩnh Long (1997, 199900) 2 22 3 12 7 18 26 21

Xếp hạng của các đội trong từng mùa giảiSửa đổi

Thứ hạng của các đội bóng trong những mùa giải 1980-1996 không phải chính thức, vì những mùa giải đó chưa được tổ chức theo thể thức đấu vòng tròn tính điểm mà được chia làm nhiều giai đoạn. Tại những mùa giải này thứ hạng của từng đội được sắp xếp như sau:
1. Đội bóng nào được vào giai đoạn sau được xếp trên các đội bóng chỉ dừng lại ở giai đoạn trước.
2. Trong cùng một giai đoạn của mùa giải nào thì thứ hạng của các đội được sắp xếp theo điều lệ và quy định của mùa giải đó.

Từ mùa giải 1997, thứ hạng của các đội là chính thức.

Do còn chưa có bản ghi kết quả vòng bảng mùa giải 1990 và 1992, thứ hạng của một số đội trong hai mùa giải này còn chưa được xác định chính xác.


Ký hiệu kết quả thi đấu của các đội
Đội bóng giành ngôi vô địch
Đội bóng giành ngôi á quân
Đội bóng đạt thành tích thứ ba
Đội bóng được đặc cách
Đội bóng bỏ giải hoặc bị loại
Đội bóng mua bán suất trụ hạng
Đội bóng bị xuống hạng
Đội bóng bị xuống hai hạng


Mùa giải 80 81/2 82/3 84 85 86 87 89 90 91 92 93/4 95 96 97 98 99/0 00/1 01/2 03 04 05 06 07 08 09 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21
Đội bóng 17 17 17 18 18 20 27 32 18 19 18 16 14 12 12 14 14 10 10 12 12 12 13 14 14 14 14 14 14 12 13 14 14 14 14 14 14 14
Viettel 1 1 2 3 2 1 2 1 9 3 3 9 10 4 1 10 3 7 6 11 8 9 6 1
Hà Nội 4 1 2 2 1 2 2 1 3 1 1 2
Bình Dương 12 11 13 6 3 2 1 1 2 8 6 6 8 1 1 10 11 7 4 6
Thành phố Hồ Chí Minh 6 13 4 11 5 1 6 6 5-8 4 9-14 1 3 8 1 5 4 4 1 11 8 10 8 5 13 12 12 2 5
Đà Nẵng 13 15 8 2 18 2 2 1 7 14 11 6 10 9 2 7 5 4 1 6 3 1 2 4 9 3 9 9 10 9
Sông Lam Nghệ An 17 21 17 15-17 15 4 10 8 3 2 2 1 1 2 5 4 5 5 7 9 3 9 1 4 4 5 7 9 8 4 7 10
Hoàng Anh Gia Lai 1 1 4 4 3 7 6 7 9 5 3 9 13 12 10 10 8 7
Nam Định 13 5 1 5 17 10 6 2 5 3 2 6 9 4 11 12 14 13 11 13
Hải Phòng 15 11 13 9-14 3 2 13 8 8 8 6 10 10 7 12 3 7 2 12 14 6 10 6 2 7 6 12 12
Thanh Hóa 9 10 14 12 7 11 5 3 3 6 2 2 13 11
Bình Định 10 14 9 9 11 13 9 15 9-14 10 9-14 5 13 14 4 4 7 10 3 6 12
Than Quảng Ninh 5 11 14 13 7 16 22 18 6 4 4 4 5 3 4
Sài Gòn 7 5 8 5 3
Hà Tĩnh 8
Quảng Nam 8 8 5 1 11 9 14
Khánh Hòa 14 12 12 16 14 12 4 21 15-18 5 5 9 9 9 10 6 10 6 8 4 11 12 5 8 6 3 14
Cần Thơ 11 11 11 13 14
Long An 26 5 5-8 16 9-14 4 12 12 12 2 3 1 1 2 2 10 5 13 9 11 10 13 14
An Giang 15 15 17 3 8 3 5 9-14 9 4 6 11 12
Huế 2 12 7 8 9 13
Đồng Tháp 16 1 5-8 13 5 8 6 1 7 7 5 9 7 8 12 14 5 3 5 13 12 14
Đồng Nai 19 7 7 14
Tiền Giang 17 18 14 15-17 8 8 14 13
Lâm Đồng 9 10 5 16 9-14 14 9-14 11 7 4 3 6 13
Vĩnh Long 12 14
Ninh Bình 6 12 20 6 6 2 1 2 5 3 2 5 3 9 12 11 4 8 10 13
Kiên Giang 10 11
Sài Gòn Xuân Thành 3 12
Navibank Sài Gòn 11 13 8 7
Hà Nội ACB 1 10 5 4 18 22 11 5-8 12 9-14 15 12 5 11 8 11 13 14 9
Hòa Phát Hà Nội 9 11 12 14 10 10
Công an Hà Nội 2 3 14 1 4 14 10 3 9-14 11 15-18 9 10 4 3 7 8 8
Hải Quan 3 8 2 10 6 3 8 10 4 1 7 6 10 7 6 11
Công an Thanh Hóa 18 23 9 9-14 17 16
Dệt Nam Định 18 14 7 18 15-18
Quân khu 5 15-18
Điện Hải Phòng 24 4 9-14 7
Thanh niên Hà Nội 19
CN Xây dựng Hà Nội 15 6 8 17 13 12 15-17
Công an Hà Bắc 23
Cảng Hải Phòng 9 11 3 7 7 11 20 24
Quân khu 3 4 6 16 12 8 20 25 25
CA Quảng Nam Đà Nẵng 19 26
Quân khu Thủ đô 7 2 10 15 10 16 15 27
Quân khu 7 28
Gò Dầu 29
Hải Hưng 30
Vĩnh Phú 31
Sở Công nghiệp TPHCM 8 4 7 3 2 4 7 32
Phòng không Không quân 5 7 8 6 12 9 27
Công nghiệp Thực phẩm 11 16 16 19
Tây Ninh 13 9 17
CN Xây Dựng Hải Phòng 12 17
Ký hiệu các đội bóng
Đội bóng tham gia giải Vô địch Quốc gia
Đội bóng tham gia giải Hạng nhất Quốc gia
Đội bóng tham gia giải Hạng nhì Quốc gia
Đội bóng không còn tham gia đời sống bóng đá


Kỉ lụcSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

Cầu thủSửa đổi

Tại toàn bộ các mùa giảiSửa đổi

  • Ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử giải đấu: Hoàng Vũ Samson (191 bàn thắng tại các mùa giải 2008-2021)[22]
  • Ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải: Lê Huỳnh Đức (Công an Thành phố Hồ Chí Minh), 25 bàn, mùa giải 1996.
  • Nguyễn Văn DũngGaston Merlo nắm giữ các kỉ lục là vua phá lưới nhiều lần nhất: 4 lần, với Nguyễn Văn Dũng là các năm 1984, 1985, 1986 và 1998 còn Gaston Merlo là các năm 2009, 2010, 2011 và 2016. Nguyễn Văn Dũng là vua phá lưới nhiều tuổi nhất (35 tuổi năm 1998); đoạt lại được danh hiệu vua phá lưới với khoảng thời gian cách xa nhất (12 năm, từ 1986 tới 1998); chia sẻ kỷ lục vua phá lưới 3 năm liên tiếp (1984–1986) với Gaston Merlo (Argentina) (2009–2011).
  • Nguyễn Hồng Sơn là vua phá lưới trẻ nhất (20 tuổi năm 1990)
  • Nguyễn Công Long là vua phá lưới với tỉ lệ cao nhất (1,2 bàn/trận, 12 bàn/10 trận mùa bóng 1993–94). Tuy nhiên nếu xét tới số trận đấu thì các cầu thủ như Nguyễn Cao Cường (22 bàn/23 trận, 1982–83), Lê Huỳnh Đức (25 bàn/27 trận, 1996) và Kesley Alves (21 bàn/22 trận, 2005) mới là thành tích đáng kể.
  • Kể từ khi các cầu thủ nước ngoài được thi đấu ở Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (2003), vua phá lưới đều là cầu thủ nước ngoài, ngoại trừ duy nhất Nguyễn Anh Đức (2017). Almeida (Brasil) là cầu thủ nước ngoài đầu tiên bảo vệ được danh hiệu vua phá lưới (2008).

Tại các mùa giải V.LeagueSửa đổi

Trận đấuSửa đổi

Danh sách vua phá lướiSửa đổi

Mùa bóng Họ tên Câu lạc bộ Số bàn thắng Số trận Tỉ lệ (bàn/trận)
1980   Lê Văn Đặng Công an Hà Nội 10 12 0,83
1981–82   Võ Thành Sơn Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 15 19 0,79
1982–83   Nguyễn Cao Cường CLB Quân đội 22 23 0,96
1984   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 15 1,00
1985   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 16 0,94
1986   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 12 17 0,71
  Nguyễn Trung Hải Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
1987   Lưu Tấn Liêm Hải Quan 15 20 0,75
1989   Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1990   Nguyễn Hồng Sơn CLB Quân đội 10 15 0,67
1991   Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1992   Trần Minh Toàn Quảng Nam-Đà Nẵng 6 12 0,50
1993–94   Nguyễn Công Long Bình Định 12 10 1,20
  Bùi Sĩ Thành Long An 11 1,09
1995   Trần Minh Chiến Công an Thành phố Hồ Chí Minh 14 15 0,93
1996   Lê Huỳnh Đức Công an Thành phố Hồ Chí Minh 25 27 0,93
1997   Lê Huỳnh Đức Công an Thành phố Hồ Chí Minh 16 22 0,73
1998   Nguyễn Văn Dũng Nam Định 17 26 0,65
1999
tập huấn
  Vũ Minh Hiếu Công an Hà Nội 8 8 1,00
1999–00   Văn Sỹ Thủy Sông Lam Nghệ An 14 24 0,58
2000–01   Đặng Đạo Khánh Hòa 11 18 0,61
2001–02   Hồ Văn Lợi Cảng Sài Gòn 9 18 0,50
2003   Emeka Achilefu Nam Định 11 22 0,50
2004   Amaobi Uzowuru Sông Đà Nam Định 15 22 0,68
2005   Kesley Alves Bình Dương 21 22 0,95
2006   Elenildo de Jesus Thép Miền Nam-Cảng Sài Gòn 18 24 0,75
2007   Jose Emidio de Almeida Đà Nẵng 16 26 0,62
2008   Jose Emidio de Almeida SHB Đà Nẵng 23 26 0,89
2009   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 15 26 0,58
  Lazaro de Souza Quân khu 4
2010   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 19 26 0,76
2011   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 22 26 0,85
2012   Timothy Anjembe Hà Nội T&T 17 26 0,65
2013   Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 14 22 0,64
  Gonzalo Marronkle
2014   Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 23 24 0,96
2015   Patiyo Tambwe QNK Quảng Nam 18 26 0,69
2016   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 24 26 0,92
2017   Nguyễn Anh Đức Becamex Bình Dương 17 26 0,65
2018   Ganiyu Oseni Hà Nội 17 26 0,65
2019   Pape Omar Faye Hà Nội 15 26 0,58
  Bruno Cantanhede Viettel
2020   Rimario Gordon Hà Nội 12 20 0,60
  Pedro Paulo Sài Gòn

Loại bóng thi đấu và trang phục chính thức của trọng tàiSửa đổi

Bóng thi đấu và trang phục chính thức của trọng tài được Tập đoàn Thể thao Động lực (Việt Nam) tài trợ.[23]

Nhà tài trợ chính của giải đấuSửa đổi

Kể từ mùa giải 2000–01, giải vô địch quốc gia gắn mình với tên và logo của nhà tài trợ chính và mở đầu là Công ty Tiếp thị thể thao Strata. Phía Strata đề nghị mua tên giải V.League không có ngực áo, cộng 12 biển quảng cáo trên sân với giá khoảng 400.000 USD và cả Cup quốc gia với giá 100.000 USD.[24] Sau hai mùa giải, Strata rút lui khỏi V.League.[25]

Sau Strata, V.League 2003 có tên là Sting V.League. Công ty nước giải khát Pepsi tài trợ tên giải và Công ty Cổ phần Kinh Đô là nhà tài trợ chính thức. "Sting" là tên gọi một sản phẩm mới của Pepsi, sắp ra thị trường Việt Nam trong thời gian đó. Dù vậy mùa giải này tiền thưởng cũng bị cắt giảm khi đội vô địch chỉ nhận được khoản tiền thưởng bằng một nửa mùa trước là 500 triệu đồng. Cái tên Sting V.League cũng chỉ tồn tại sau một mùa giải và tới mùa giải 2004, Kinh Đô V.League xuất hiện. Theo một số nguồn tin, Liên đoàn bóng đá Việt Nam nhận khoảng 9 tỷ đồng từ Kinh Đô trong mùa giải này. Dù vậy lời hứa từ Kinh Đô sẽ độc quyền tài trợ cho V.League trong 3 mùa không trở thành hiện thực khi ở những mùa giải tiếp theo, V.League gắn với cái tên Number One V.LeagueEurowindow V.League.

Sự xuất hiện của Tổng Công ty khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã giúp V.League có khoảng thời gian dài nhất gắn với tên nhà tài trợ. Tên giải đấu Petro Vietnam Gas V.League kéo dài 4 mùa giải và giúp cho giải đấu có nguồn tài chính ổn định. Đó là một dấu ấn trước khi Petro Vietnam Gas không còn xuất hiện và Eximbank vào thay. Từ trước tới nay, Eximbank là đơn vị tài trợ chi nhiều nhất cho V.League. Đến mùa giải 2014, số tiền mà Eximbank tài trợ cho một mùa bóng của V.League đã lên tới hơn 40 tỷ đồng. Tuy nhiên, trường hợp của Eximbank cũng là ngoại lệ bởi gói tài trợ của đơn vị này bao gồm hậu thuẫn từ Chủ tịch VFF Lê Hùng Dũng, người cũng là Chủ tịch Hội đồng quản trị Eximbank và là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị VPF. Mùa giải 2015, nhà tài trợ chính thức cho giải đấu là Toyota. Kết thúc mùa giải 2017, Toyota nói lời chia tay sau 3 năm tài trợ với số tiền 120 tỉ đồng.[26]

Sau Toyota, NutiFood với thương hiệu NutiCafe là cái tên tiếp theo gắn liền với giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (V.League) trong mùa giải 2018.[27] Năm 2019, Masan với thương hiệu Wake-up 247 đã trở thành nhà tài trợ chính cho giải Vô địch Quốc gia mùa bóng 2019.[28][29] Masan đã đồng ý tài trợ cho V.League trong 5 năm[30] nhưng cuối cùng chỉ tài trợ cho V.League được 1 mùa giải, bởi ngay sau đó, ngày 6 tháng 2 năm 2020, Tập đoàn LS Holdings ký kết hợp tác tài chính tại Giải bóng đá LS V.League 1 và LS V. League 2. Tập đoàn này cũng chính thức là nhà tài trợ trong bốn mùa giải từ 2020 đến 2023.[31][32][33]

Một số vấn đề gây tranh cãiSửa đổi

Vấn đề trọng tàiSửa đổi

Vấn đề trọng tài mắc sai lầm ở giải đã diễn ra trong nhiều năm và gây nhiều bức xúc trong dư luận. Một số trọng tài không đủ thể lực và trình độ chuyên môn tham gia điều hành trận đấu.[34] Một trong những giải pháp tạm thời được đưa ra là thuê trọng tài nước ngoài điều khiền một số trận đấu của giải.[35]

Bản quyền truyền hìnhSửa đổi

Bản quyền truyền hình cũng là một trong những vấn đề nhức nhối suốt nhiều năm ở giải đấu cấp câu lạc bộ hàng đầu Việt Nam. Lần đầu tiên V.League “bán” được bản quyền truyền hình là ở mùa giải 2005. Tuy nhiên, giá trị hợp đồng được ký giữa VFF và VTV ở thời điểm đó không thực sự đáng kể. Để một trận đấu được phát sóng trực tiếp, VFF và các CLB phải trả một khoản tiền và lo cả chi phí lưu trú, di chuyển, bồi dưỡng cho nhà đài.[36]

Năm 2011, bản quyền phát sóng V.League được VFF quyết định bán cho Truyền hình An Viên (AVG) trong thời gian 20 năm với giá 6 tỷ đồng cho năm đầu tiên và sau đó mỗi năm tăng lũy tiến 10%. Thế nhưng, sau khi VPF thành lập, công ty này đã lấy lại hợp đồng bản quyền truyền hình V.League từ tay AVG và cam kết khai thác tối thiểu 50 tỉ đồng mỗi năm từ bản quyền truyền hình. Mặc dù vậy, thương vụ đã đổ bể phút chót sau khi bầu Kiên bị bắt.[37]

Nhờ thỏa thuận giữa VPF với các đài truyền hình, hầu hết các trận đấu của V.League đều được phát sóng trực tiếp và kể từ mùa giải 2020 thì con số này là 100%, nhưng các đài truyền hình gần như không bán được quảng cáo khi phát trực tiếp V.League, dù là trước trận hay giữa trận, nên thu nhập từ bản quyền truyền hình vẫn là con số vô cùng khiêm tốn. Việc bán bản quyền truyền hình V.League hiện tại vẫn đơn thuần là trao đổi bằng thời lượng quảng cáo chủ yếu cho các nhà tài trợ của giải nhằm thắt chặt mối quan hệ. Một số ít cũng đến từ các doanh nghiệp khác nhưng kinh phí thu được cũng rất nhỏ nhoi.

Năm 2017, Công ty cổ phần Giải pháp Truyền hình Thế hệ mới (Next Media) ký hợp đồng với VPF để sở hữu toàn bộ bản quyền truyền hình của 3 giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (V.League, hạng Nhất, Cúp QG) trong 5 năm từ 2017-2022.[37][38]

Bạo lực sân cỏSửa đổi

Vấn nạn bạo lực ở V.League không phải là mới khi các cầu thủ thi đấu quyết liệt trên mức cần thiết. Tuy nhiên các nhà tổ chức vẫn chưa có giải pháp triệt để cho vấn đề này. Một số pha phạm lỗi đã khiến cầu thủ bị chấn thương nặng, thậm chí dẫn đến từ giã sự nghiệp.[39]

Một ông chủ nhiều đội bóngSửa đổi

Ngày 5 tháng 7 năm 2019, ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai đã có bình luận về tình trạng một ông chủ nhiều đội bóng ở V.League. Phát biểu của bầu Đức khiến người đọc liên tưởng tới ông Đỗ Quang Hiển, hiện là ông chủ, nhà tài trợ đặc biệt của 7 câu lạc bộ tại V.League 1 và V.League 2[40] Trước đó vào năm 2018, ông Đoàn Nguyên Đức cũng cho rằng tình trạng một ông chủ nhiều đội bóng sẽ làm giảm động lực đầu tư vào bóng đá Việt Nam.[41] Dư luận nhận định trong 10 năm từ 2009 đến 2019, chỉ hai năm vô địch liên tiếp 2018 và 2019 là CLB Hà Nội thể hiện sức mạnh rõ ràng, nhờ dàn tuyển thủ quốc gia có lúc lên tới 10 người, còn các chức vô địch còn lại đều có "dấu ấn" của các mối quan hệ điểm số giữa Hà Nội – Đà Nẵng – Quảng Nam (là các CLB của bầu Hiển).[42]

Bên cạnh đó là chia sẻ vô cùng tâm huyết của trọng tài cấp FIFA, cựu còi vàng Việt Nam Dương Mạnh Hùng về công tác trọng tài, về trưởng ban trọng tài VFFvề các ông bầu tại V.League.

 
Cổ động viên Sông Lam Nghệ An phản đối tình trạng một ông bầu nhiều đội bóng

Trước thực tế tình trạng 1 ông chủ nhiều đội bóng vẫn tiếp diễn, VFF đã phê chuẩn thể thức thi đấu mới từ mùa giải 2020. Tuy nhiên đây không phải là giải pháp để giải quyết mối quan hệ điểm số như đã đề cập ở trên. Việc một ông chủ quản lý hay sở hữu nhiều đội bóng trở thành 1 vấn nạn tiêu cực nhằm thao túng giải đấu chuyên nghiệp, kéo thụt lùi trình độ phát triển nền bóng đá nói chung nếu các đội bóng này thi đấu cùng 1 giải đấu. Không ít người hâm mộ mong muốn VPF cần có những biện pháp mạnh tay, quy định cụ thể về việc cấm một ông bầu nắm giữ chức vụ quản lý hay cổ phiếu, vốn góp tại nhiều hơn 1 đội bóng ở cùng 1 giải đấu để cho V.League trở nên công bằng, trong sạch hơn và cải thiện tính cạnh tranh của giải đấu.

Công bằng và minh bạch tài chínhSửa đổi

Vấn đề công bằng và minh bạch tài chính chưa bao giờ được thực hiện một cách nghiêm túc ở V.League. Trong đó, VPF và các câu lạc bộ chưa bao giờ công khai báo cáo tài chính cho công chúng mà chỉ thực hiện trong nội bộ.[43] Việc một số nhà tài trợ của giải có liên quan đến ông bầu hoặc một câu lạc bộ đã làm dấy lên nghi ngờ về tính công bằng của giải đấu. Đồng thời, việc không có minh bạch tài chính dẫn tới việc không thể làm rõ quan hệ giữa những đội bóng được cho là "anh em một nhà".[44] Đòi hỏi về minh bạch tài chính từ nhiều câu lạc bộ đối với VPF vẫn chưa được thực hiện, điều đó cho thấy sự thiếu chuyên nghiệp của giải đấu.[45] Việc chưa có cơ chế về công bằng và minh bạch tài chính đã khiến cho tình trạng các câu lạc bộ "cướp quân" của nhau diễn ra phức tạp. Ngân sách giữa các đội bóng có sự chênh lệch lớn và thiếu minh bạch trong quản lý tài chính dẫn đến gia tăng nguy cơ các câu lạc bộ đi đêm với cầu thủ.[46]

Một số nhận địnhSửa đổi

  • Ông Trần Anh Tú, Chủ tịch VPF phát biểu năm 2020[48]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Việt Nam có đại diện dự AFC Champions League 2021”. https://thethao247.vn/. 22 tháng 9 năm 2020. Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)
  2. ^ https://viettelsports.vn/gioi-thieu-chung
  3. ^ Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam công bố Nhà tài trợ chính Giải bóng đá Ngoại hạng-Eximbank 2012 Lưu trữ 2012-01-07 tại Wayback Machine.
  4. ^ “Công văn 81 VPF về việc Tên giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp 2012”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 8 năm 2012. Truy cập 1 Tháng tư 2021.
  5. ^ “Thông báo: Đổi tên Super League trở lại thành V.League”. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2013. Truy cập 1 Tháng tư 2021.
  6. ^ “Quyết định Ban hành Điều lệ giải bóng đá VĐQG - Eximbank 2013 (V.League 1)”. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2013. Truy cập 1 Tháng tư 2021.
  7. ^ “Lịch sử Giải bóng đá VĐQG, V- League”. http://thethaovanhoa.vn/. ngày 30 tháng 11 năm 2013. Liên kết ngoài trong |work= (trợ giúp)
  8. ^ được quy theo cách tính điểm từ mùa giải 1997: 3-1-0
  9. ^ “Thông báo số 14 của VFF chấp thuận việc đổi tên CLB thành Hà Nội ACB”.
  10. ^ “Đầu mùa giải 2012 sau khi Hòa Phát Hà Nội tuyên bố bỏ bóng đá, HN.ACB mua lại đội bóng này rồi sáp nhập cùng HN.ACB (vừa xuống hạng) để thành CLB Bóng đá Hà Nội dự V-League nhờ suất của Hòa Phát Hà Nội”. Báo Tin tứct- Thông tấn xã Việt Nam.
  11. ^ “Bộ Quốc phòng đồng ý đổi tên CLB Thể Công Viettel thành CLB Thể Công ở vòng 20 của mùa giải 2008”.
  12. ^ “Kết thúc V-League 2012, Vicem Hải Phòng phải xuống hạng, nhưng chỉ 2 ngày trước thời hạn chót đăng ký tham dự mùa bóng 2013 (8/12), Hải Phòng đã hoàn tất thương vụ mua lại suất chơi V-League 2013 từ Khatoco Khánh Hòa và đội bóng chính thức được đăng ký tên mới Xi măng Vicem Hải Phòng từ V-League 2013”. Báo Tin tức - Thông tấn xã Việt Nam.
  13. ^ “Vnexpress.net Công an TP. HCM đổi tên thành Ngân hàng Đông Á.”.
  14. ^ “Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Đông Á từng tham dự V-League là đội Công an Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi Ngân hàng Đông Á giải thể đội được chuyển giao cho Sơn Đồng Tâm Long An, tiếp đó được chuyển nhượng cho Xi măng The Vissai Ninh Bình cùng với suất chơi ở hạng nhất. V.Ninh Bình: Tiền mua tiên cũng được”. Thể thao Văn hóa. 14 tháng 1 năm 2009.
  15. ^ “Tháng 7/2009, lãnh đạo TP Hồ Chí Minh và Ngân hàng Nam Việt (Navibank) đã mua lại đội bóng Quân khu 4 và đổi tên đội bóng quân đội này thành CLB Navibank SG và đại diện cho TP Hồ Chí Minh trở lại sân chơi chuyên nghiệp”. Báo tin tức - Thông tấn xã Việt Nam.
  16. ^ “Thông báo số 20 của ban tổ chức giải VDQG 2012 trong đó điểm số 4 có việc đổi tên CLB Bóng đá Sài Gòn thành Sài Gòn Xuân Thành”.
  17. ^ “CLB Hà Nội đổi tên thành CLB Bóng đá Sài Gòn từ vòng thứ 6 của mùa giải”.
  18. ^ “Thông báo của VFF trong đó có quyết định cho Halida Thanh Hóa đổi tên thánh Xi măng Công Thanh -Thanh Hóa ở lượt về mùa giải 2008”.
  19. ^ “Xi măng Công Thanh bỏ tài trợ, CLB Thanh Hóa lấy lại tên cũ”.
  20. ^ “Thanh Hóa thêm tên nhà tài trợ vào giữa mùa giải 2015”.
  21. ^ https://bongdaplus.vn/v-league/hagl-va-nhung-ky-luc-v-league-co-the-pha-vo-o-mua-2021-3289142104.html
  22. ^ “Thành tích của cầu thủ Hoàng Vũ Samson tại V-League”.
  23. ^ dantri.com.vn. “Động lực tiếp tục tài trợ cho V-League 2018”. Báo điện tử Dân Trí.
  24. ^ “Strata đề nghị tài trợ cho V-League”. VnExpress. 14 tháng 9 năm 2002.
  25. ^ “Strata ngạc nhiên: Sao không đấu giá tài trợ V - League 2003?”. Người Lao Động. 31 tháng 10 năm 2002.
  26. ^ “Đối tác”. http://www.vnleague.com/. ngày 1 tháng 11 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. Liên kết ngoài trong |work= (trợ giúp)
  27. ^ “Nutifood trở thành nhà tài trợ chính cho V.League 2018”. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2018.
  28. ^ “Công ty CP hàng tiêu dùng Masan là nhà tài trợ chính Wake-up 247 V.League 2019”.
  29. ^ “Wake-up 247 trở thành Nhà tài trợ chính giải VĐQG mùa bóng 2019”. vpf.vn. ngày 20 tháng 2 năm 2019.
  30. ^ “V.League có nhà tài trợ mới: 'Chúng tôi chỉ cần không tiêu cực'.
  31. ^ “LS Hàn Quốc tài trợ V.League và hạng Nhất vì HLV Park Hang Seo”. bongdaplus.vn. ngày 6 tháng 2 năm 2020.
  32. ^ “LS là Nhà tài trợ chính tại Giải VĐQG và HNQG 2020”. vpf.vn. ngày 6 tháng 2 năm 2020.
  33. ^ “VPF lo xong nhà tài trợ 3 năm cho V.League”. vtv.vn. ngày 24 tháng 12 năm 2020.
  34. ^ dantri.com.vn. “VFF có giải quyết được vấn nạn trọng tài ở V-League?”. Báo điện tử Dân Trí.
  35. ^ News, VietNamNet. “Mời trọng tài ngoại thổi V-League: Trưởng ban trọng tài có đau?”. VietNamNet.
  36. ^ “Lại 'nóng' chuyện bản quyền truyền hình V.League”. Báo Đồng Nai. 3 tháng 9 năm 2020.
  37. ^ a b “Cú vồ hụt trăm tỉ đồng từ bản quyền truyền hình của V-League”. Thanh Niên. 29 tháng 4 năm 2016.
  38. ^ “Bao giờ V.League bán được bản quyền truyền hình?”. Lao Động. 1 tháng 5 năm 2020.
  39. ^ “Bóng đá nào, trọng tài nấy”. Báo Nhân Dân.
  40. ^ “Bỗng dưng bầu Đức ám chỉ 5 đội bóng của 1 ông bầu”. laodong.vn.
  41. ^ http://nghean24h.vn. “Bầu Đức: 'Tôi không trở lại VFF, mong bóng đá Việt Nam trong sạch'. Nghệ An 24h.
  42. ^ “Bầu Hiển sở hữu bao nhiêu đội bóng ở Việt Nam?”. thethaovanhoa.vn. ngày 2 tháng 6 năm 2020.
  43. ^ https://zingnews.vn/clb-hai-phong-gui-don-de-nghi-vpf-bau-lai-lanh-dao-post1255569.html
  44. ^ https://cand.com.vn/giai-tri-the-thao/Bong-da-Viet-Nam-Trong-sach-minh-bach-i319795/
  45. ^ https://thanhnien.vn/the-thao/bong-da-viet-nam/bong-da-viet-nam-chu-chuyen-nghiep-o-tuoi-20-cua-v-league-138841t.html
  46. ^ https://thanhnien.vn/the-thao/bong-da-viet-nam/cac-clb-v-league-oan-minh-voi-ganh-nang-tai-chinh-137551t.html
  47. ^ “Bầu Kiên và các phát ngôn gây "sốc". Báo Điện tử An ninh Thủ đô. ngày 21 tháng 8 năm 2012.
  48. ^ “Chuyển động 24h - Kênh VTV1”. https://vtvgo.vn/. Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

(tiếng Việt)