Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam

Giải bóng đá cấp cao nhất của VFF

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (tiếng Anh: V.League 1, còn có tên gọi LS V.League 1 vì lý do tài trợ) là giải đấu bóng đá chuyên nghiệp cao nhất Việt Nam, do Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) điều hành. Giải đấu bao gồm 14 đội thi đấu theo thể thức đấu vòng tròn sân nhà và sân khách. Đội về đích đầu tiên ở cuối mùa giải được dự AFC Champions League mùa sau.

Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam
V.League 1
V.League 1 new logo.svg
Cơ quan tổ chứcVPF
Thành lập1980; 41 năm trước (1980)
(giải bán chuyên)
2000; 21 năm trước (2000)
(giải chuyên nghiệp)
Mùa giải đầu tiên1980 (với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc)
Quốc gia Việt Nam
Liên đoànAFC
Số đội14
Cấp độ trong
hệ thống
1
Xuống hạng đếnRed Arrow Down.svg V.League 2
Cúp trong nướcCúp bóng đá Việt Nam
Siêu cúp bóng đá Việt Nam
Cúp quốc tếAFC Champions League
Cúp AFC
Giải vô địch các câu lạc bộ ASEAN
Đội vô địch hiện tạiViettel (lần thứ 6)
(2020)
Vô địch nhiều nhấtThể Công/Viettel (6 lần)
Vua phá lướiViệt Nam Hoàng Vũ Samson
(188 bàn thắng)
Đối tác truyền hìnhVTV, VTC, ON SPORTS, HTV, VTVCab, BTV, VOV, FPT Play, Onme, K+
Trang webvpf.vn
Giải bóng đá vô địch quốc gia 2021

Giải ra mắt vào năm 1980 với tên gọi Giải bóng đá A1 toàn quốc. Tổng Cục Đường Sắt là đội bóng vô địch đầu tiên. Đội bóng thành công nhất trong lịch sử giải là Viettel, đội bóng kế thừa của Thể Công với 6 chức vô địch. Giải chuyển sang chuyên nghiệp từ mùa 2000/01 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài tham gia thi đấu. Với sự ra đời của Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) vào năm 2012, quyền tổ chức chuyển từ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) sang VPF.

Sự hình thànhSửa đổi

Giải bóng đá vô địch quốc gia là sân chơi hạng cao nhất trong hệ thống thi đấu của bóng đá Việt Nam, do VFF tổ chức từ năm 1980, tính đến năm 2021 đã trải qua 38 mùa giải (năm 1988 không tổ chức, còn năm 1999 chỉ có giải Tập huấn mùa Xuân).

Giải đấu đã có những sự thay đổi từ tên gọi cho đến số lượng các đội tham dự cũng như thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1996, giải liên tục phải thay đổi thể thức khi không thể thức nào tồn tại quá 2 năm. Tới năm 1996, thể thức thi đấu sân nhà-sân khách được chính thức áp dụng và ổn định tới hiện nay. Năm 1988, Tổng cục Thể dục Thể thao tạm ngừng tổ chức giải để chấn chỉnh toàn bộ hệ thống thi đấu. Tới năm 1989, giải được tổ chức phân hạng lại với 32 đội tham gia chọn ra 18 đội mạnh nhất đá giải hạng A1. Tới năm 1989, hạng A1 còn 11 đội khi các đội xếp dưới kết hợp với 3 đội mạnh nhất hạng A2 hình thành hạng A2 mới. Tiếp đó, tên giải đổi thành giải đội mạnh toàn quốc kể từ năm 1990 và mang tên là giải hạng Nhất quốc gia trong giai đoạn 1996-2000.

Tiếp đó, tên giải đổi thành giải đội mạnh toàn quốc kể từ năm 1990 và mang tên là giải hạng Nhất quốc gia trong giai đoạn 1996-2000. Từ mùa giải 2000/01 đến 2011, bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, giải vô địch quốc gia chính thức mang tên V-League với sự tham dự của các cầu thủ nước ngoài.

Giải đã có 6 lần đổi tên, trung bình cứ 5 mùa giải lại đổi tên một lần. Giải đấu cũng đã 3 lần thay đổi về mặt thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1995: các đội bóng tham dự giải tham gia các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Các đội nằm ở tốp đầu mỗi bảng sẽ tranh tài ở Vòng chung kết để tranh chức vô địch, còn các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng sẽ thi đấu Vòng chung kết ngược để chọn ra các đội xuống hạng.

Tại mùa giải năm 1996, 12 đội tham dự thi đấu vòng tròn 2 lượt. Sau khi kết thúc 2 lượt này, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội xuống hạng. Từ năm 1997 đến 2013 (trừ giải Tập huấn Mùa Xuân năm 1999), các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Đội giành được nhiều điểm nhất sẽ giành chức vô địch.

Còn các đội đứng cuối bảng (1 hoặc 2 đội tùy năm) sẽ phải xuống hạng. Biến động lớn nhất chính là số lượng các đội tham dự giải. Trước khi bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, con số này thay đổi: lúc thì 16,17, khi thì 18, 19, 20 đội, có thời điểm lên đến 27 đội (vào năm 1987) và 32 đội (vào năm 1989).

Giải lên chuyên nghiệp từ mùa 2000/01 nhằm cho phép các câu lạc bộ tuyển trạch các cầu thủ nước ngoài và cầu thủ nhập tịch tham gia thi đấu. Cầu thủ gốc Việt được coi như cầu thủ nội. Với sự ra đời của Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) vào năm 2012, quyền tổ chức chuyển từ Liên đoàn bóng đá Việt Nam (VFF) sang Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF).

Với sự ra đời của VPF, từ năm 2012, tên giải đổi thành giải bóng đá Ngoại hạng (Super League).[1] Tuy nhiên, sau 5 vòng đấu, giải lấy lại tên là giải VĐQG Việt Nam (V-League).[2][3] Sang mùa giải 2013, VPF thay đổi tên viết tắt của giải thành V.League 1.[4]

Khi V-League ra đời, con số này đã co lại nhưng cũng không ổn định. Trong 2 mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên (2000/01 và 2001/02), số lượng các đội bóng tham dự V-League đều là 10 đội. Bước sang mùa giải 2003, số lượng các đội bóng tranh tài ở sân chơi V-League tăng thành 12 đội.

Con số này giữ nguyên đến mùa giải 2005 trước khi tăng lên thành 13 đội ở mùa giải 2006 (lẽ ra đã là 14 đội nếu như Câu lạc bộ Ngân hàng Đông Á không mất quyền tham dự do dính vào vụ hối lộ trọng tài ở giải hạng Nhất 2005). Một năm sau, lần đầu tiên trong lịch sử V-League chứng kiến cuộc tranh tài của 14 đội bóng ở giải đấu hạng cao nhất của bóng đá Việt Nam.

Con số này giữ nguyên trong vòng 6 năm trước khi giảm xuống còn 12 đội ở V-League 2013 sau khi hàng loạt đội bóng bị giải thể hoặc chuyển giao. Theo dự kiến ban đầu, số lượng các đội bóng tham dự V-League 2014 sẽ quay trở lại con số 14. Thế nhưng do Câu lạc bộ bóng đá KienLongBank Kiên Giang không đủ kinh phí để đăng ký tham dự giải nên con số này chỉ còn là 13.[5] Từ mùa giải 2015, số đội tham dự mỗi mùa giải là 14.

Thể thức thi đấuSửa đổi

  • Từ mùa giải 1980 đến 1995: các đội chia thành các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Các đội ở tốp đầu lọt vào vòng chung kết để tranh chức vô địch, Các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng thi đấu vòng chung kết ngược để chọn đội xuống hạng.
  • Mùa giải 1996, tất cả các đội (12 đội) thi đấu vòng tròn hai lượt. Sau khi kết thúc đợt 1, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội phải xuống hạng
  • Mùa giải 1997 đến 2019 (trừ giải tập huấn mùa xuân năm 1999): các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Đội nhiều điểm nhất là đội vô địch. Các đội cuối bảng (1 hoặc 2 đội tuỳ năm) phải xuống hạng. Thể thức này dự kiến sử dụng lại từ mùa giải 2022.
  • Mùa giải 2020, do đại dịch COVID-19 tại Việt Nam, sau khi đấu vòng tròn 1 lượt xong, 8 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra nhà vô địch, 6 đội còn lại sẽ đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng.
  • Mùa giải 2021, sau khi đấu vòng tròn 1 lượt xong, 6 đội xếp trên sẽ đá vòng tròn một lượt để tìm ra nhà vô địch, 8 đội còn lại đá vòng tròn 1 lượt để tìm ra 1 suất xuống hạng và 1 suất vé vớt (play-off) với đội đứng thứ 2 giải hạng Nhất.

Cách thức tính điểmSửa đổi

  • Từ mùa giải 1996 trở về trước hệ thống điểm là 2-1-0.
  • Riêng mùa giải 1986: ở vòng 1 - trận hoà thứ tư của mỗi đội không được tính điểm, ở vòng 2 - nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Riêng mùa giải 1987: ở vòng 1 - trận hoà thứ năm của mỗi đội không được tính điểm, ở vòng 2 - nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Riêng 2 mùa giải 1993/941995 nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút thì đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
  • Từ mùa giải 1997 trở đi hệ thống điểm là 3-1-0.

Cách thức xếp hạngSửa đổi

Xếp chung cuộc theo thứ tự sau:

  • Điểm số các đội (theo thứ tự từ cao đến thấp)
  • Nếu có 2 hoặc nhiều đội bằng điểm nhau thì xếp theo thứ tự qua các chỉ số phụ:
  • Kết quả đối đầu trực tiếp
  • Hiệu số bàn thắng bàn thua
  • Tổng số bàn thắng

Tuy nhiên, một số năm, tiêu chí phụ hiếu số bàn thắng bàn thua và tổng số bàn thắng được ưu tiên hơn kết quả đối đầu.

Quy định số lượng cầu thủ ngoại và nhập tịchSửa đổi

Giải bắt đầu cho phép sử dụng cầu thủ ngoại từ năm 2000. Hiện tại, các câu lạc bộ được phép đăng ký 03 cầu thủ ngoại, 01 cầu thủ nhập tịch còn cầu thủ gốc Việt Nam được coi như cầu thủ nội. Đối với các đội dự giải châu lục được phép có thêm 01 cầu thủ ngoại quốc tịch châu Á. Trường hợp câu lạc bộ bị loại ở giải cấp châu lục trong giai đoạn 1 thì số lượng cầu thủ ngoại và nhập tịch ở giai đoạn 2 được áp dụng như các câu lạc bộ không tham gia giải châu lục.

Thành tích các độiSửa đổi

Tính toàn bộ các mùa giảiSửa đổi

Mùa giải Đội vô địch Đội hạng nhì Đội hạng ba
Giải bóng đá A1 toàn quốc
1980 Tổng cục Đường sắt Công an Hà Nội Hải Quan
1981/82 CLB Quân đội Quân khu Thủ đô Công an Hà Nội
1982/83 CLB Quân đội (2) Hải Quan Cảng Hải Phòng
1984 Công an Hà Nội CLB Quân đội Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
1985 Công nghiệp Hà Nam Ninh Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Cảng Sài Gòn
1986 Cảng Sài Gòn CLB Quân đội Hải Quan
1987 CLB Quân đội (3) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1989 Đồng Tháp CLB Quân đội Công an Hà Nội
Giải bóng đá Các đội mạnh Toàn quốc
1990 CLB Quân đội (4) Quảng Nam-Đà Nẵng An Giang
1991 Hải Quan Quảng Nam-Đà Nẵng Cảng Sài Gòn
Công an Hải Phòng
1992 Quảng Nam-Đà Nẵng Công an Hải Phòng CLB Quân đội
Sông Lam Nghệ An
1993/94 Cảng Sài Gòn (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh CLB Quân đội
Long An
1995 Công an Thành phố Hồ Chí Minh Thừa Thiên-Huế Cảng Sài Gòn
1996 Đồng Tháp (2) Công an Thành phố Hồ Chí Minh Sông Lam Nghệ An
Giải Hạng nhất quốc gia
1997 Cảng Sài Gòn (3) Sông Lam Nghệ An Lâm Đồng
1998 CLB Quân đội (5) Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh
giải tập huấn
1999
Sông Lam Nghệ An Công an Hà Nội Công an Thành phố Hồ Chí Minh
Đà Nẵng
1999/00 Sông Lam Nghệ An Công an Thành phố Hồ Chí Minh Công an Hà Nội
Giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp
2000/01 Sông Lam Nghệ An (2) Nam Định Thể Công
2001/02 Cảng Sài Gòn (4) Sông Lam Nghệ An Ngân hàng Đông Á
2003 Hoàng Anh Gia Lai Gạch Đồng Tâm Long An Nam Định
Giải bóng đá vô địch quốc gia
2004 Hoàng Anh Gia Lai (2) Sông Đà Nam Định Gạch Đồng Tâm Long An
2005 Gạch Đồng Tâm Long An Đà Nẵng Bình Dương
2006 Gạch Đồng Tâm Long An (2) Becamex Bình Dương Pisico Bình Định
2007 Becamex Bình Dương Đồng Tâm Long An Hoàng Anh Gia Lai
2008 Becamex Bình Dương (2) Đồng Tâm Long An Xi măng Hải Phòng
2009 SHB Đà Nẵng (2) Becamex Bình Dương Sông Lam Nghệ An
2010 Hà Nội T&T Xi măng Hải Phòng Tập đoàn Cao su Đồng Tháp
2011 Sông Lam Nghệ An (3) Hà Nội T&T SHB Đà Nẵng
2012 SHB Đà Nẵng (3) Hà Nội T&T Sài Gòn Xuân Thành
2013 Hà Nội T&T (2) SHB Đà Nẵng Hoàng Anh Gia Lai
2014 Becamex Bình Dương (3) Hà Nội T&T Thanh Hóa
2015 Becamex Bình Dương (4) Hà Nội T&T Thanh Hóa
2016 Hà Nội T&T (3) Hải Phòng SHB Đà Nẵng
2017 Quảng Nam FLC Thanh Hóa Hà Nội
2018 Hà Nội (4) FLC Thanh Hóa Sanna Khánh Hòa BVN
2019 Hà Nội (5) Thành phố Hồ Chí Minh Than Quảng Ninh
2020 Viettel (6) Hà Nội Sài Gòn

Tại các mùa giải A1 toàn quốc và các mùa giải hạng nhất quốc giaSửa đổi

Xếp hạng của các đội từng mùa giảiSửa đổi

Chú thích:

- Màu vàng = Vô địch

- Màu bạc = Á quân

- Màu đồng = Hạng ba

- Màu đỏ = XUỐNG HẠNG

Các mùa giải 1980 1981/82 1982/83 1984 1985 1986 1987 1989 1990-1996 1997 1998 1999/00
Câu lạc bộ 17 17 17 18 18 20 27 32 - 12 14 14
CLB Quân đội 1 1 2 5 2 1 2 - 4 1 10
Hải Quan 3 8 2 6 4 3 8 10 - 6 11
Cảng Sài Gòn 6 13 4 11 3 1 6 6 - 1 5 4
Công an Hà Nội 2 3 14 1 6 14 10 3 - 10 4 3
Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 8 4 5 3 2 4 7 32 -
Cảng Hải Phòng 9 11 3 8 7 11 20 25 -
Tổng cục Đường sắt 1 10 6 4 18 23 11 -
Phú Khánh/Khánh Hòa 14 12 12 16 14 12 4 21 - 9 9 9
Công nhân Nghĩa Bình/Bình Định 10 14 9 12 11 13 9 15 - 14
Quân khu Thủ đô 7 2 10 15 10 16 16 27 -
Than Quảng Ninh 5 11 14 13 7 17 22 -
Công nhân Xây dựng Hà Nội 15 7 9 17 13 13 -
Phòng không Không quân 5 7 8 7 12 9 27 -
Quân khu 3 4 6 16 10 9 20 25 23 -
Công nghiệp Hà Nam Ninh/Nam Định 13 5 1 5 22 - 10 6
An Giang 15 15 17 3 8 - 11
Quảng Nam Đà Nẵng/Đà Nẵng 13 15 8 2 Đặc cách - 11
Lâm Đồng 8 10 5 16 - 3 6 13
Công an Thành phố Hồ Chí Minh 6 12 20 - 5 3 2
Dệt Nam Định 18 14 7 -
Công an Hải Phòng 15 11 12 - 8 8 8
Công nghiệp Thực phẩm/Lương thực Thực phẩm 11 16 16 19 -
Công an Thanh Hóa 18 19 9 -
Tiền Giang 17 15 14 -
Điện Hải Phòng 24 4 -
Sông Lam Nghệ Tĩnh/Sông Lam Nghệ An 17 21 Đặc cách - 2 2 1
Tây Ninh 13 9 17 -
Đồng Tháp 16 1 - 7 7 5
Long An 26 5 - 12 12
Vĩnh Long - 12 14
Bình Dương - 13
Thừa Thiên-Huế - 7
Công an Quảng Nam Đà Nẵng 18 24 -
Công nhân Xây dựng Hải Phòng 12 17 -
Đồng Nai 19 -
Công an Hà Bắc 26 -
Quân khu 7 28 -
Gò Dầu 29 -
Hải Hưng 30 -
Công nghiệp Việt Trì Vĩnh Phú 31 -
Kí hiệu sử dụng trong bảng
Câu lạc bộ có tham gia V-League 1
Câu lạc bộ không tham gia V-League 1


Số mùa giải A1 toàn quốc từng đội tham gia, số trận đấu và kết quảSửa đổi

Tổng số trận đấu trong tám mùa giải A1 toàn quốc là 1225 trong đó có 851 trận phân thắng thua và 374 trận hòa.

Tổng số bàn thắng là 2855, số bàn thắng trung bình trong một trận đấu là: 2,33.

Kết quả chi tiết của từng đội bóng như sau:

Câu lạc bộ Mùa giải tham gia Số mùa giải Số trận Thắng Hòa Thua Bàn Thắng Bàn Thua Điểm[6]
An Giang 1980, 1982/83-1984, 1987-1989 5 75 28 21 26 88 87 105
Quảng Nam Đà Nẵng 1984-1989 5 66 26 24 16 77 62 102
Công an Quảng Nam Đà Nẵng 1987-1989 2 26 6 12 8 25 30 30
Đồng Nai 1989 1 15 5 2 8 16 15 17
Đồng Tháp 1980, 1989 2 24 10 5 9 21 25 35
Công an Hà Bắc 1989 1 10 2 3 5 11 11 9
Hải Hưng 1989 1 10 0 3 7 1 20 3
Công an Hà Nội 1980-1989 8 126 53 43 30 175 127 202
Công nhân Xây dựng Hà Nội 1981/82-1985, 1987-1989 6 96 30 33 33 93 106 123
CLB Quân đội 1981/82-1989 7 130 83 27 20 211 107 276
Phòng không Không quân 1980-1987 7 104 29 33 42 106 148 120
Quân khu Thủ đô 1980-1989 8 105 30 37 38 107 118 127
Tổng cục Đường sắt 1980-1985, 1987-1989 7 110 35 38 37 123 117 143
Cảng Hải Phòng 1980-1989 8 115 34 44 37 121 122 146
Công an Hải Phòng 1986-1989 3 45 14 13 18 42 49 55
Công nhân Xây dựng Hải Phòng 1980-1981/82 2 22 6 6 10 13 22 24
Điện Hải Phòng 1987-1989 2 33 9 13 11 26 33 40
Quân khu 3 1980-1989 8 110 27 37 46 101 133 118
Long An 1987-1989 2 31 7 10 14 30 45 31
Lâm Đồng 1985-1989 4 62 19 19 24 75 74 76
Công nhân Nghĩa Bình 1980-1989 8 115 35 35 45 126 159 140
Công nghiêp Hà Nam Ninh 1982/83-1987 5 78 31 23 24 114 101 116
Dệt Nam Định 1984, 1987-1989 3 43 15 13 15 50 55 58
Sông Lam Nghệ Tĩnh 1986-1989 3 35 10 9 16 35 50 39
Phú Khánh 1980-1989 8 116 36 34 46 115 141 142
Than Quảng Ninh 1981/82-1989 7 99 30 37 32 111 101 127
Cảng Sài Gòn 1980-1989 8 127 62 34 31 200 123 220
Công an Thành phố Hồ Chí Minh 1986-1989 3 49 16 11 22 57 57 59
Công nghiệp Thực phẩm Công nghiệp Thực phẩm (1980)
Lương thực Thực phẩm (1981/82)
Công nghiệp Thực phẩm (1985-1986)
4 53 12 18 23 57 69 54
Hải Quan 1980-1989 8 132 64 33 35 200 125 225
Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 1980-1989 8 130 52 39 39 175 167 195
Quân khu 7 1989 1 10 2 3 5 10 14 9
Tiền Giang 1980, 1987-1989 3 41 10 11 20 43 68 41
Công an Thanh Hóa 1986-1989 3 44 13 10 21 47 64 49
Tây Ninh 1980-1982/83 3 43 8 12 23 41 71 36
Gò Dầu 1989 1 10 2 1 7 5 15 7
Công nghiệp Việt Trì Vĩnh Phú 1989 1 10 0 2 8 7 24 2

Tại các mùa giải V-LeagueSửa đổi

Xếp hạng của các đội từng mùa giảiSửa đổi

Chú thích:

- Màu vàng = Vô địch, AFC Champions League

- Màu bạc = Á quân, AFC Cup

- Màu đồng = Hạng ba, có khả năng tham dự AFC Cup

- Màu đỏ = XUỐNG HẠNG

Các mùa giải 2000-01 2001-02 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018 2019 2020 2021
Đội 10 10 12 12 12 13 14 14 14 14 14 14 11 12 14 14 14 14 14 14 14
Thể Công/Viettel[7] 3 7 6 11 8 9 6 1
Hà Nội 4 1 2 2 1 2 2 1 3 1 1 2
Sài Gòn 7 5 8 5 3
Than Quảng Ninh 6 4 4 4 5 3 4
Cảng Sài Gòn/Thành phố Hồ Chí Minh[8] 4 1 11 8 10 8 5 13 12 12 2 5
Becamex Bình Dương 6 3 2 1 1 2 8 6 6 8 1 1 10 11 7 4 6
Hoàng Anh Gia Lai 1 1 4 4 3 7 6 7 9 5 3 9 13 12 10 10 8 7
Hà Tĩnh 8
SHB Đà Nẵng 6 10 9 2 7 5 4 1 6 3 1 2 4 9 3 9 9 10 9
Sông Lam Nghệ An 1 2 5 4 5 5 7 9 3 9 1 4 4 5 7 9 8 4 7 10
Thanh Hóa[9] 10 10 14 12 7 11 5 3 3 6 2 2 13 11
Hải Phòng[10] 6 10 10 7 12 3 7 2 12 14 6 10 6 2 7 6 12 12
Nam Định 2 5 3 2 6 9 4 11 12 14 13 11 13
Bình Định 4 4 7 10 3 6 12
Quảng Nam 8 8 5 1 11 9 14
Khánh Hòa 10 6 9 6 8 4 11 12 5 8 6 3 14
Cần Thơ 11 11 13 14
Long An 2 3 1 1 2 2 10 5 13 9 11 10 13 14
An Giang 12
Huế 8 9 14
Đồng Tháp 9 7 8 12 13 5 3 5 13 12 14
Đồng Nai 7 7 14
Tiền Giang 13
Công an TP. Hồ Chí Minh/Ngân hàng Đông Á/Ninh Bình[11] 5 3 9 12 11 4 8 10 Bỏ giải
Kiên Giang 10 11
Sài Gòn Xuân Thành 3 Bỏ giải
Quân khu 4/Navibank Sài Gòn[12][13] 11 13 8 7
LG ACB/Hà Nội ACB/Bóng đá Hà Nội[14] 12 5 11 8 11 13 14 9
Hòa Phát Hà Nội[15] 9 11 12 14 10 10
Công an Hà Nội/Hàng không Việt Nam 7 8 8
Kí hiệu sử dụng trong bảng
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải vô địch quốc gia
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải hạng nhất quốc gia
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải hạng nhì quốc gia
Đội bóng hiện đang thi đấu tại Giải hạng ba quốc gia
Đội bóng không còn tham gia đời sống bóng đá


Số mùa giải từng đội tham gia, số trận đấu và kết quảSửa đổi

Phông chữ màu xanh là các đội đang tham gia V-League1 mùa giải 2021
Tính đến ngày 14.01.2021, nguồn chính: http://www.rsssf.com/tablesv/vietchamp.html


Tổng số trận đấu tại V-League 1 đến cuối mùa giải 2020 là 3110 trong đó có 2297 trận phân thắng thua và 813 trận hòa.

Tổng số bàn thắng đến cuối mùa giải 2020 là 8751, số bàn thắng trung bình trong một trận đấu là: 2,81.

Kết quả chi tiết của từng câu lạc bộ như sau:

Câu lạc bộ Tên chính thức của đội bóng Số mùa giải Số trận Thắng Hòa Thua Bàn Thắng Bàn Thua Điểm
An Giang Hùng Vương An Giang (2014) 1 22 3 3 16 22 44 12
Becamex Bình Dương Bình Dương (2004-2006),
Becamex Bình Dương (2007-2021)
18 416 177 113 126 653 517 644
Bình Định Bình Định (2001/02-2004),
Hoa Lâm Bình Định (2005),
Pisico Bình Định (2006-2007),
Boss Bình Định (2008),
Topenland Bình Định (2021)
8 160 54 51 55 176 190 213
Cần Thơ Xổ số Kiến thiết Cần Thơ (2015-2018) 4 104 25 27 52 127 181 102
SHB Đà Nẵng Đà Nẵng (2001/02-2007),
SHB Đà Nẵng (2008-2021)
20 454 189 120 145 695 584 687
Đồng Nai Đồng Nai (2013-2015) 3 68 18 17 33 101 128 71
Đồng Tháp Đồng Tháp (2000/01, 2003),
Delta Đồng Tháp (2004-2005),
Đồng Tháp (2007),
Tập đoàn Cao su Đồng Tháp (2009-2012),
Đồng Tháp (2015-2016)
11 266 73 71 122 325 430 290
Hoàng Anh Gia Lai Hoàng Anh Gia Lai (2003-2021) 19 438 172 99 167 650 637 615
Công An Hà Nội Công An Hà Nội (2000-2002)
Hàng không Việt Nam (2003)
3 58 19 17 22 64 66 74
Hòa Phát Hà Nội Hòa Phát Hà Nội (2005-2008, 2010-2011) 6 150 41 42 67 185 238 165
Bóng đá Hà Nội LG-ACB (2003),
LG Hà Nội ACB (2004-2005),
Hà Nội ACB (2006-2008, 2011),
Bóng đá Hà Nội (2012)
8 194 56 44 94 236 322 212
Hà Nội T&T Hà Nội (2009),
Hà Nội T&T (2010-2016),
Hà Nội (2017-2021)
13 296 163 72 61 604 355 561
Viettel Thể Công (2000/01-2004, 2008-2009),
Viettel (2019-2021)
9 178 71 41 66 213 228 254
Hà Tĩnh Hồng Lĩnh Hà Tĩnh (2020-2021) 2 20 4 8 8 19 24 20
Hải Phòng Công an Hải Phòng (2000/01-2001/02),
Thép Việt-Úc Hải Phòng (2004),
Mitsustar Hải Phòng (2005),
Mitsustar Haier Hải Phòng (2006),
Xi măng Hải Phòng (2008-2010),
Vicem Hải Phòng (2011-2012),
Xi măng Vicem Hải Phòng (2013),
Hải Phòng (2014-2021)
19 424 149 98 177 554 609 545
Huế Thừa Thiên-Huế (2000/01, 2001/02),
Huda Huế (2007)
3 62 16 16 30 58 89 64
Khánh Hòa Khánh Hòa (2000/01),
Khatoco Khánh Hòa (2006-2012),
Sanna Khánh Hòa Biển Việt Nam (2015-2019)
13 328 121 81 126 420 441 444
Kiên Giang Kienlongbank Kiên Giang (2012-2013) 2 46 12 10 24 54 91 46
Long An Gạch Đồng Tâm Long An (2003-2006),
Đồng Tâm Long An (2007-2011, 2013-2015),
Long An (2016-2017)
14 340 127 80 133 533 554 461
Nam Định Nam Định (2000/01-2003),
Sông Đà Nam Định (2004-2005),
Mikado Nam Định (2006),
Đạm Phú Mỹ Nam Định (2007-2008),
Gạch men Mikado Nam Định (2009),
Megastar Nam Định (2010),
Nam Định (2018),
Dược Nam Hà Nam Định (2019-2020),
Nam Định (2021)
14 300 104 72 124 338 400 384
Sông Lam Nghệ An Sông Lam Nghệ An (2000/01-2003),
PJICO Sông Lam Nghệ An (2004-2006),
Tài chính Dầu khí Sông Lam Nghệ An (2007-2008),
Sông Lam Nghệ An (2009-2021)
21 472 188 152 132 697 537 716
Ninh Bình Công an Thành phố Hồ Chí Minh (2000/01-2001/02),
Ngân hàng Đông Á (2001/02-2003),
Ngân hàng Đông Á - Thép Pomina (2004),
Xi măng The Vissai Ninh Bình (2010-2013)
8 178 59 45 74 228 255 222
Than Quảng Ninh Than Quảng Ninh (2014-2021) 8 172 75 38 59 271 238 263
Quảng Nam QNK Quảng Nam (2014-2016),
Quảng Nam (2017-2020)
7 170 60 54 56 283 284 234
Navibank Sài Gòn Quân khu 4 (2009),
Navibank Sài Gòn (2010-2012)
4 104 31 29 44 124 150 122
Sài Gòn Xuân Thành Sài Gòn Xuân Thành (2012) 1 26 12 10 4 43 23 46
Sài Gòn Sài Gòn (2016-2021) 6 124 48 36 40 179 162 180
Thành phố Hồ Chí Minh Cảng Sài Gòn (2000/01, 2001/02),
Thép Miền Nam - Cảng Sài Gòn (2003, 2005-2008),
Thành phố Hồ Chí Minh (2009, 2017-2021)
13 280 95 79 106 382 410 364
Thanh Hóa Halida Thanh Hóa (2007-2008),
Xi măng Công Thanh - Thanh Hóa (2008-2009),
Thanh Hóa (2009),
Lam Sơn Thanh Hóa (2010),
Thanh Hóa (2011-2015),
FLC Thanh Hóa (2016-2018),
Thanh Hóa (2019-2020),
Đông Á Thanh Hóa (2021)
15 346 130 93 123 500 538 483
Tiền Giang Thép Pomina Tiền Giang (2006) 1 24 5 8 11 17 26 23

Kỉ lụcSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

  • Vô địch nhiều lần nhất: Thể Công/Viettel vô địch 6 lần
  • Vô địch liên tiếp: Thể Công (1981/82, 1982/83), Sông Lam Nghệ An (1999/00, 2000/01), Hoàng Anh Gia Lai (2003, 2004), Gạch Đồng Tâm Long An (2005, 2006), Becamex Bình Dương (2007, 2008), (2014, 2015), Hà Nội (2018, 2019) - đều vô địch liên tiếp 2 lần.
  • Vô địch sớm nhất: Hà Nội (2018), trước 5 vòng đấu.
  • Vô địch ngay khi lên hạng: Đồng Tháp (1989) và Hoàng Anh Gia Lai (2003).
  • Câu lạc bộ chưa từng chơi ở giải hạng dưới từ khi V-league ra đời năm 2000: Sông Lam Nghệ An.
  • Giành nhiều điểm nhất trong một mùa giải: Hà Nội (2018), 64 điểm/26 trận.
  • Đội vô địch giành điểm trung bình 1 trận cao nhất trong một mùa giải: Hà Nội (2018), 64 điểm/26 trận - Trung bình 2,46 điểm/trận.
  • Đội vô địch giành điểm trung bình 1 trận thấp nhất trong một mùa giải: Gạch Đồng Tâm Long An (2006), 40 điểm/24 trận - Trung bình 1,67 điểm/trận.
  • Thắng nhiều trận nhất trong một mùa giải: Hà Nội (2018), 20 trận/26 trận.
  • Đội vô địch có số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải: Hà Nội (2018), 72 bàn thắng/26 trận - Trung bình 2,77 bàn thắng/trận.
  • Đội vô địch có số bàn thua ít nhất trong một mùa giải: Viettel (2020), 16 bàn thua/20 trận - Trung bình 0,8 bàn thua/trận.
  • Đội vô địch có số bàn thua trung bình ít nhất trong một mùa giải: Becamex Bình Dương (2008), 18 bàn thua/26 trận - Trung bình 0,69 bàn thua/trận.
  • Đội vô địch có hiệu số bàn thắng/thua cao nhất trong lịch sử: Hà Nội (2018), hiệu số +42.
  • Đội vô địch có hiệu số bàn thắng/thua thấp nhất trong lịch sử: Cảng Sài Gòn (1997), hiệu số +3.
  • Nhiều trận thắng liên tiếp nhất trong một mùa giải: Sông Lam Nghệ An (2018), 8 trận.
  • Nhiều trận thua liên tiếp nhất trong một mùa giải: Đồng Tháp (2016) và Long An (2017), đều 10 trận.
  • Nhiều trận không thua liên tiếp nhất trong một mùa giải: Hà Nội (2019), 14 trận, gồm 9 trận thắng và 5 trận hòa.
  • Nhiều trận không thắng liên tiếp nhất trong một mùa giải: Đồng Tháp (2016), 23 trận, gồm 5 trận hòa và 18 trận thua.
  • Nhiều trận sạch lưới liên tiếp nhất trong một mùa giải: Pisico Bình Định (2006) và Viettel (2020), cùng 6 trận.
  • Câu lạc bộ vô địch nhưng xuống hạng nhanh nhất: Quảng Nam (2020), sau 1071 ngày kể từ khi vô địch (25/11/2017- 31/10/2020).
  • Câu lạc bộ có nhiều vua phá lưới nhất: SHB Đà Nẵng (trước là Quảng Nam-Đà Nẵng), 7 danh hiệu vua phá lưới (4 của Gaston Merlo).

Cầu thủSửa đổi

Tại toàn bộ các mùa giảiSửa đổi

  • Ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử giải đấu: Hoàng Vũ Samson (188 bàn thắng tại các mùa giải 2008-2020)[16]
  • Nguyễn Văn DũngGaston Merlo nắm giữ các kỉ lục là vua phá lưới nhiều lần nhất: 4 lần, với Nguyễn Văn Dũng là các năm 1984, 1985, 1986 và 1998 còn Gaston Merlo là các năm 2009, 2010, 2011 và 2016. Nguyễn Văn Dũng là vua phá lưới nhiều tuổi nhất (35 tuổi năm 1998); đoạt lại được danh hiệu vua phá lưới với khoảng thời gian cách xa nhất (12 năm, từ 1986 tới 1998); chia sẻ kỷ lục vua phá lưới 3 năm liên tiếp (1984–1986) với Gaston Merlo (Argentina) (2009–2011).
  • Nguyễn Hồng Sơn là vua phá lưới trẻ nhất (20 tuổi năm 1990)
  • Nguyễn Công Long là vua phá lưới với tỉ lệ cao nhất (1,2 bàn/trận, 12 bàn/10 trận mùa bóng 1993/94). Tuy nhiên nếu xét tới số trận đấu thì các cầu thủ như Nguyễn Cao Cường (22 bàn/23 trận, 1982/83), Lê Huỳnh Đức (25 bàn/27 trận, 1996) và Kesley Alves (21 bàn/22 trận, 2005) mới là thành tích đáng kể.
  • Kể từ khi các cầu thủ nước ngoài được thi đấu ở Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (2003), vua phá lưới đều là cầu thủ nước ngoài, ngoại trừ duy nhất Nguyễn Anh Đức (2017). Almeida (Brasil) là cầu thủ nước ngoài đầu tiên bảo vệ được danh hiệu vua phá lưới (2008).

Tại các mùa giải V-LeagueSửa đổi

Trận đấuSửa đổi

Danh sách vua phá lướiSửa đổi

Mùa bóng Họ tên Câu lạc bộ Số bàn thắng Số trận Tỉ lệ (bàn/trận)
1980   Lê Văn Đặng Công an Hà Nội 10 12 0,83
1981/82   Võ Thành Sơn Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh 15 19 0,79
1982/83   Nguyễn Cao Cường CLB Quân đội 22 23 0,96
1984   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 15 1,00
1985   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 15 16 0,94
1986   Nguyễn Văn Dũng Công nghiệp Hà Nam Ninh 12 17 0,71
  Nguyễn Trung Hải Sở Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh
1987   Lưu Tấn Liêm Hải Quan 15 20 0,75
1989   Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1990   Nguyễn Hồng Sơn CLB Quân đội 10 15 0,67
1991   Hà Vương Ngầu Nại Cảng Sài Gòn 10 15 0,67
1992   Trần Minh Toàn Quảng Nam-Đà Nẵng 6 12 0,50
1993/94   Nguyễn Công Long Bình Định 12 10 1,20
  Bùi Sĩ Thành Long An 11 1,09
1995   Trần Minh Chiến Công an Thành phố Hồ Chí Minh 14 15 0,93
1996   Lê Huỳnh Đức Công an Thành phố Hồ Chí Minh 25 27 0,93
1997   Lê Huỳnh Đức Công an Thành phố Hồ Chí Minh 16 22 0,73
1998   Nguyễn Văn Dũng Nam Định 17 26 0,65
1999
tập huấn
  Vũ Minh Hiếu Công an Hà Nội 8 8 1,00
1999/00   Văn Sỹ Thủy Sông Lam Nghệ An 14 24 0,58
2000/01   Đặng Đạo Khánh Hòa 11 18 0,61
2001/02   Hồ Văn Lợi Cảng Sài Gòn 9 18 0,50
2003   Emeka Achilefu Nam Định 11 22 0,50
2004   Amaobi Uzowuru Sông Đà Nam Định 15 22 0,68
2005   Kesley Alves Bình Dương 21 22 0,95
2006   Elenildo De Jesus Thép Miền Nam-Cảng Sài Gòn 18 24 0,75
2007   Jose Emidio de Almeida Đà Nẵng 16 26 0,62
2008   Jose Emidio de Almeida SHB Đà Nẵng 23 26 0,89
2009   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 15 26 0,58
  Lazaro de Souza Quân khu 4
2010   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 19 26 0,76
2011   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 22 26 0,85
2012   Timothy Anzebe Hà Nội T&T 17 26 0,65
2013   Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 14 22 0,64
  Gonzalo Marronkle
2014   Hoàng Vũ Samson Hà Nội T&T 23 24 0,96
2015   Patiyo Tambwe QNK Quảng Nam 18 26 0,69
2016   Gaston Merlo SHB Đà Nẵng 24 26 0,92
2017   Nguyễn Anh Đức Becamex Bình Dương 17 26 0,65
2018   Ganiyu Oseni Hà Nội 17 26 0,65
2019   Pape Omar Faye Hà Nội 15 26 0,58
  Bruno Cantanhede Viettel
2020   Rimario Gordon Hà Nội 12 20 0,60
  Pedro Paulo Sài Gòn

Loại bóng thi đấu và trang phục chính thức của trọng tàiSửa đổi

Bóng thi đấu và trang phục chính thức của trọng tài được Tập đoàn Thể thao Động lực (Việt Nam) tài trợ.[17]

Nhà tài trợ chính của giải đấuSửa đổi

V-League đã trải qua những nhà tài trợ khác nhau với những cái tên như Strata, Sting, Kinh Đô, Petro Vietnam Gas hay Eximbank…

Kể từ mùa giải 2000/01, giải vô địch quốc gia gắn mình với tên và logo của nhà tài trợ chính và mở đầu là Công ty Tiếp thị thể thao Strata. Phía Strata đề nghị mua tên giải V-League không có ngực áo, cộng 12 biển quảng cáo trên sân với giá khoảng 400.000 USD và cả Cup quốc gia với giá 100.000 USD. Sau hai mùa giải, Strata rút lui khỏi V-League.

Sau Strata, V-League 2003 có tên là Sting V-League. Công ty nước giải khát Pepsi tài trợ tên giải và Công ty Cổ phần Kinh Đô là nhà tài trợ chính thức. "Sting" là tên gọi một sản phẩm mới của Pepsi, sắp ra thị trường Việt Nam trong thời gian đó. Dù vậy mùa giải này tiền thưởng cũng bị cắt giảm khi đội vô địch chỉ nhận được khoản tiền thưởng bằng một nửa mùa trước là 500 triệu đồng. Cái tên Sting V-League cũng chỉ tồn tại sau một mùa giải và tới mùa giải 2004, Kinh Đô V-League xuất hiện. Theo một số nguồn tin, Liên đoàn bóng đá Việt Nam nhận khoảng 9 tỷ đồng từ Kinh Đô trong mùa giải này. Dù vậy lời hứa từ Kinh Đô sẽ độc quyền tài trợ cho V-League trong 3 mùa không trở thành hiện thực khi ở những mùa giải tiếp theo, V-League gắn với cái tên Number One V-LeagueEurowindow V-League.

Sự xuất hiện của Tổng Công ty khí thuộc tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã giúp V-League có khoảng thời gian dài nhất gắn với tên nhà tài trợ. Tên giải đấu Petro Vietnam Gas V-League kéo dài 4 mùa giải và giúp cho giải đấu có nguồn tài chính ổn định. Đó là một dấu ấn trước khi Petro Vietnam Gas không còn xuất hiện và Eximbank vào thay. Từ trước tới nay, Eximbank là đơn vị tài trợ chi nhiều nhất cho V-League. Đến mùa giải 2014, số tiền mà Eximbank tài trợ cho một mùa bóng của V-League đã lên tới hơn 40 tỷ đồng. Tuy nhiên, trường hợp của Eximbank cũng là ngoại lệ bởi gói tài trợ của đơn vị này bao gồm hậu thuẫn từ Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Việt Nam Lê Hùng Dũng, người cũng là Chủ tịch Hội đồng quản trị Eximbank và là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị VPF. Mùa giải 2015, nhà tài trợ chính thức cho giải đấu là Toyota. Kết thúc mùa giải 2017, Toyota nói lời chia tay sau 3 năm tài trợ với số tiền 120 tỉ đồng.[18]

Sau Toyota, NutiFood với thương hiệu NutiCafe là cái tên tiếp theo gắn liền với giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (V-League) trong mùa giải 2018.[19] Năm 2019, Masan với thương hiệu Wake-up 247 đã trở thành nhà tài trợ chính giải Vô địch Quốc gia mùa bóng 2019.[20][21] Masan đã đồng ý tài trợ cho V.League trong 5 năm[22] nhưng cuối cùng chỉ tài trợ cho V-League được 1 mùa giải vì ngày 6 tháng 2 năm 2020, Tập đoàn LS Holdings ký kết hợp tác tài chính tại Giải bóng đá LS V.League 1 và LS V.League 2 và tập đoàn này chính thức là nhà tài trợ trong bốn mùa giải từ 2020 đến 2023.[23][24][25]

Một số vấn đề gây tranh cãiSửa đổi

Vấn đề trọng tàiSửa đổi

Vấn đề trọng tài mắc sai lầm ở giải đã diễn ra trong nhiều năm và gây nhiều bức xúc trong dư luận. Một số trọng tài không đủ thể lực và trình độ chuyên môn tham gia điều hành trận đấu.[26] Một trong những giải pháp tạm thời được đưa ra là thuê trọng tài nước ngoài điều khiền một số trận đấu của giải.[27]

Bản quyền truyền hìnhSửa đổi

Bạo lực sân cỏSửa đổi

Vấn nạn bạo lực ở V-League không phải là mới khi các cầu thủ thi đấu quyết liệt trên mức cần thiết. Tuy nhiên các nhà tổ chức vẫn chưa có giải pháp triệt để cho vấn đề này. Một số pha phạm lỗi đã khiến cầu thủ bị chấn thương nặng, thậm chí dẫn để từ giã sự nghiệp.[28]

Một ông chủ nhiều đội bóngSửa đổi

Ngày 05/7/2019, ông Đoàn Nguyên Đức, Chủ tịch câu lạc bộ Hoàng Anh Gia Lai đã có bình luận về tình trạng một ông chủ nhiều đội bóng ở V-league. Phát biểu của ông Đoàn Nguyên Đức khiến người đọc liên tưởng tới ông Đỗ Quang Hiển, chủ của câu lạc bộ Hà Nội và SHB Đà Nẵng, đồng thời là nhà tài trợ đặc biệt của câu lạc bộ Quảng Nam và Sài Gòn.[29] Trước đó vào năm 2018, ông Đoàn Nguyên Đức cũng cho rằng tình trạng một ông chủ nhiều đội bóng sẽ làm giảm động lực đầu tư vào bóng đá Việt Nam.[30] Dư luận nhận định trong 10 năm từ 2009-2019,chỉ hai năm vô địch liên tiếp 2018 và 2019 là CLB Hà Nội thể hiện sức mạnh rõ ràng, nhờ dàn tuyển thủ quốc gia có lúc lên tới 10 người nhưng các chức vô địch còn lại đều có "dấu ấn" của các mối quan hệ điểm số giữa Hà Nội – Đà Nẵng – Quảng Nam.[31]

Một số nhận địnhSửa đổi

[32]

[33]

  • Ông Trần Anh Tú, Chủ tịch VPF phát biểu năm 2020

[34]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam công bố Nhà tài trợ chính Giải bóng đá Ngoại hạng-Eximbank 2012.
  2. ^ Công văn 81 VPF về việc Tên giải Vô địch Quốc gia chuyên nghiệp 2012
  3. ^ Thông báo: Đổi tên Super League trở lại thành V.League
  4. ^ Quyết định Ban hành Điều lệ giải bóng đá VĐQG - Eximbank 2013 (V.League 1)
  5. ^ “Lịch sử Giải bóng đá VĐQG, V- League”. http://thethaovanhoa.vn/. ngày 30 tháng 11 năm 2013. Liên kết ngoài trong |work= (trợ giúp)
  6. ^ được quy theo cách tính điểm từ mùa giải 1997: 3-1-0
  7. ^ Sau khi xuống hạng ở mùa giải 2009, và sau khi Thanh Hóa được Viettel chuyển giao đội 1 cho đội Thể Công, ngày 18 tháng 1 năm 2010, Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa quyết định vĩnh viễn giải tán đội bóng thi đấu ở Giải hạng Nhất vì lý do thiếu kinh phí. Khánh Ngọc. “Thanh Hóa "khai tử" đội hạng Nhất: Nhà nghèo không thể chơi sang”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010. Sau đó, CLB Viettel được thành lập dựa trên nền tảng của CLB Thể Công
  8. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh từng tham dự V-League là đội Cảng Sài Gòn, sau đổi tên thành Thép Miền Nam - Cảng Sài Gòn.
  9. ^ Kết thúc mùa giải 2009, Bộ Quốc Phòng đã giao Thể Công cho Viettel quản lý, Tổng công ty Viễn thông Quân đội đã lập tức chuyển giao đội 1 cho Thanh Hóa nhưng vẫn giữ toàn bộ hệ thống câu lạc bộ.Vĩnh Xuân. “Thanh Hóa mua Thể Công: Coi như đã xong!”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2009. Đội bóng mới mang tên Lam Sơn Thanh Hóa.Phong Vũ. “15h30 ngày 23/1, Lam Sơn Thanh Hóa – SHB.ĐN: Lam Sơn có phất cao cờ ?”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2010.
  10. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Xi măng Hải Phòng từng tham dự V-League là đội Công an Hải Phòng, sau được chuyển giao về sở Văn hóa-Du Lich-Thể thao Hải Phòng, đội từng mang các tên Thép Việt Úc - Hải Phòng, Mitsustar Haier - Hải Phòng rồi Vạn Hoa Hải Phòng.
  11. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Ngân hàng Đông Á từng tham dự V-League là đội Công an Thành phố Hồ Chí Minh, sau khi Ngân hàng Đông Á giải thể đội được chuyển giao cho Sơn Đồng Tâm Long An, tiếp đó được chuyển nhượng cho Xi măng The Vissai Ninh Bình cùng với suất chơi ở hạng nhất. P.T. “V.Ninh Bình: Tiền mua tiên cũng được”. Thể thao & Văn hóa Online. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2009.
  12. ^ Navibank Sài Gòn có tiền thân là đội bóng Quân khu 4. Kết thúc mùa giải 2009, Bộ tư lệnh Quân khu 4 đã chuyển giao đội bóng cho Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt(Navibank). Đội bóng mới mang tên Navibank Sài Gòn.
  13. ^ Hoàng Hảo - Đại Nghĩa. “Xoá tên đội bóng Quân khu 4”. Thể thao & Văn hóa Online. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2020.
  14. ^ Tiền thân của Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội ACB từng tham dự V-League là đội Tổng cục Đường sắt. Sau khi Ngân hàng Á Châu (ACB) tiếp quản, có thời gian dùng tên LG-ACB, LG-Hà Nội-ACB, Hà Nội-ACB, Bóng đá Hà Nội. Sau khi người sáng lập ra Ngân hàng Á Châu đồng thời là chủ câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội (bầu Kiên) bị bắt, câu lạc bộ bị giải thể. Xin tham khảo lịch sử câu lạc bộ Bóng đá Hà Nội.
  15. ^ Câu lạc bộ bóng đá Hòa Phát Hà Nội thành lập từ năm 2003, trên cơ sở nòng cốt 26 cầu thủ và 8 nhân viên bị loại ra từ 2 đội là Câu lạc bộ bóng đá Hàng không Việt Nam (trước là Công an Hà Nội) và câu lạc bộ bóng đá LG-ACB. Xin tham khảo lịch sử câu lạc bộ Hòa Phát Hà Nội.
  16. ^ “Thành tích của cầu thủ Hoàng Vũ Samson tại V-League”.
  17. ^ dantri.com.vn. “Động lực tiếp tục tài trợ cho V-League 2018”. Báo điện tử Dân Trí.
  18. ^ “Đối tác”. http://www.vnleague.com/. ngày 1 tháng 11 năm 2015. Liên kết ngoài trong |work= (trợ giúp)
  19. ^ “Nutifood trở thành nhà tài trợ chính cho V.League 2018”.
  20. ^ “Công ty CP hàng tiêu dùng Masan là nhà tài trợ chính Wake-up 247 V.League 2019”.
  21. ^ “Wake-up 247 trở thành Nhà tài trợ chính giải VĐQG mùa bóng 2019”. vpf.vn. ngày 20 tháng 2 năm 2019.
  22. ^ “V.League có nhà tài trợ mới: 'Chúng tôi chỉ cần không tiêu cực'.
  23. ^ “LS Hàn Quốc tài trợ V.League và hạng Nhất vì HLV Park Hang Seo”. bongdaplus.vn. ngày 6 tháng 2 năm 2020.
  24. ^ “LS là Nhà tài trợ chính tại Giải VĐQG và HNQG 2020”. vpf.vn. ngày 6 tháng 2 năm 2020.
  25. ^ “VPF lo xong nhà tài trợ 3 năm cho V.League”. vtv.vn. ngày 24 tháng 12 năm 2020.
  26. ^ dantri.com.vn. “VFF có giải quyết được vấn nạn trọng tài ở V-League?”. Báo điện tử Dân Trí.
  27. ^ News, VietNamNet. “Mời trọng tài ngoại thổi V-League: Trưởng ban trọng tài có đau?”. VietNamNet.
  28. ^ “Bóng đá nào, trọng tài nấy”. Báo Nhân Dân.
  29. ^ “Bỗng dưng bầu Đức ám chỉ 5 đội bóng của 1 ông bầu”. laodong.vn.
  30. ^ http://nghean24h.vn. “Bầu Đức: 'Tôi không trở lại VFF, mong bóng đá Việt Nam trong sạch'. Nghệ An 24h.
  31. ^ “Bầu Hiển sở hữu bao nhiêu đội bóng ở Việt Nam?”. thethaovanhoa.vn. 2 tháng 6 năm 2020.
  32. ^ V-League vẫn chỉ là nghiệp dư lãnh lương cao mà thôi
  33. ^ “Bầu Kiên và các phát ngôn gây "sốc". Báo Điện tử An ninh Thủ đô. 21 tháng 8 năm 2012.
  34. ^ “Chuyển động 24h - Kênh VTV1,”. https://vtvgo.vn/. Liên kết ngoài trong |website= (trợ giúp)

Xem thêmSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

(tiếng Việt)