Mở trình đơn chính

Nghĩa vụ quân sự hay còn gọi là quân dịch, theo định nghĩa đơn giản nhất là nghĩa vụ bắt buộc mà một cá nhân hay một nhóm người thực hiện trong quân đội hoặc lực lượng dân quân, cho dù họ đang làm một công việc khác trong xã hội.

Vài chục quốc gia (ví dụ México, Hàn Quốc) đòi hỏi mọi nam công dân đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự (trừ các trường hợp đặc biệt như người bị rối loạn tâm thần hoặc bị thương tật hoặc vì đức tin tôn giáo không thể thực hiện quân dịch). Có một số quốc gia thậm chí đòi hỏi cả nữ công dân cũng phải thực hiện nghĩa vụ quân sự (ví dụ Israel). Một quốc gia với chế độ tòng quân tình nguyện thường thì sẽ không yêu cầu nghĩa vụ quân sự bắt buộc với công dân của mình, trừ khi quốc gia đó đối mặt với tình trạng thiếu quân số trong chiến tranh.

  Không có quân đội
  Nghĩa vụ quân sự không bắt buộc
  Dự định bãi bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc trong tương lai gần
  Nghĩa vụ quân sự bắt buộc
  Không số liệu

Lịch sửSửa đổi

Trung Quốc cổ đại có lẽ là một trong những nước có chế độ nghĩa vụ quân sự sớm nhất. Việc tuyển quân tiến hành hàng loạt trong dân cư, những binh sĩ ra trận nếu lập được công lớn sẽ được thưởng nhiều bổng lộc, đất đai từ triều đình.

Phần lớn trang bị của quân đội Trung Quốc thời cổ đại (nhà Thương, nhà Chu) thường nghèo nàn (do kỹ thuật luyện kim thời đó chưa có quy mô lớn), binh sỹ thường chỉ có cung tên, khiên gỗ và giáo gỗ mũi bịt bằng đồng, áo giáp làm bằng da thuộc, chỉ huy cao cấp mới có áo giáp là các tấm lá đồng và được dùng ngựa chiến. Tuy nhiên, nhờ tuyển quân hàng loạt trong dân cư nên quy mô quân đội đã khá lớn. Theo sử sách ghi lại, trong trận Mục Dã (khoảng 1.046 trước công nguyên), Chu Vũ Vương đã huy động được 45.000 quân chính quy để đánh diệt nhà Thương. Trụ Vương của nhà Thương thì đã huy động tới 700.000 quân để chống lại (tuy nhiên phần lớn quân Thương là nô lệ, chỉ có một phần là quân chính quy)

 
Một mũ trụ bằng đồng của binh sĩ nước Yên thời Chiến quốc

Đến thời Xuân Thu (770-403 TCN), do chiến tranh liên miên và dân số tăng lên nên quân đội phát triển nhanh cả về quân số và trang bị. Việc mở rộng chế tác đồ sắt ở Trung Quốc thời kỳ này đã làm thay đổi chất lượng trang bị, khí giới bằng sắt bén hơn, sản xuất được nhiều hơn, mau hơn. Đến thời Chiến quốc (403-221 TCN), hầu hết các nước đã thực hiện nghĩa vụ quân sự, nam giới cả nước đều phải đăng lính, vũ khí trang bị cũng rất đa dạng. Bảy nước lớn là Tần, Sở, Triệu, Tề, Hàn, Ngụy, Yên, nước nào cũng có mấy trăm ngàn quân, quy mô quân đội còn vượt cả Đế quốc La Mã, Đế quốc Ba Tư cùng thời. Quy mô các chiến dịch cũng rất lớn, quân số các bên huy động vượt xa bất cứ nước nào ở vùng Trung đông và châu Âu thời trung cổ. Ví dụ như trận Y Khuyết (193 TCN), 120.000 quân Tần đánh với 240.000 quân Ngụy. Trận Hoa Dương (273TCN), liên quân Triệu-Ngụy huy động 150.000 quân đánh với trên 100.000 quân Tần. Trận Trường Bình còn lớn hơn nữa, nước Triệu huy động 450.000 quân còn nước Tần huy động khoảng mấy trăm nghìn quân. Quân Triệu đại bại, gần như toàn bộ quân số 450.000 đều bị giết, số nam giới nước Triệu sụt hẳn đi sau trận này.

Tại Nước Tần vào thế kỷ thứ IV TCN, tất cả đàn ông từ 15 hay 20 tuổi tới 60 tuổi đều phải nhập ngũ, như vậy là chỉ còn cụ già, đàn bà và con nít là không phải ra trận. Chính sách ngụ binh ư nông được phổ biến: nam giới thời bình thì ở nhà làm ruộng, tranh thủ tập võ nghệ, thời chiến thì nhập ngũ. Nước Tần đến năm 230 TCN đã có thể huy động gần 1 triệu quân để thôn tính 6 nước khác, thống nhất Trung Quốc.

Sau thời chiến quốc, những khi xảy ra chiến loạn thì các triều đình tại Trung Quốc đều thi hành nghĩa vụ quân sự. Tại Trận Phì Thủy (năm 383), nước Tiền Tần huy động 900.000 quân đánh 8 vạn quân của nước Đông Tấn, đây có lẽ là trận chiến giữ kỷ lục về quân số huy động lớn nhất trên thế giới trong suốt hơn 1.500 năm cho đến tận khi thế chiến thứ nhất xảy ra (năm 1914).

Tại châu Âu thì nghĩa vụ quân sự xuất hiện khá muộn. Các nước châu Âu thời trung cổ chủ yếu giao chiến bằng tầng lớp hiệp sĩ và lính đánh thuê, dân số châu Âu thời đó cũng khá ít, nên quy mô quân đội khá nhỏ, trận đánh lớn cũng chỉ có vài chục nghìn quân mỗi bên. Nước Pháp thời kỳ Cách mạng tư sản 1789 và Napoleon I (cuối thế kỷ 18) là nước châu Âu đầu tiên áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự, cho phép quy mô quân đội gia tăng lên tới mấy trăm nghìn quân.

Sơ lược một số quốc giaSửa đổi

Bản sơ lược này bao gồm 195 quốc gia.[1][2][3][4]

Các quốc gia không có quân độiSửa đổi

19 quốc gia sau được xác định là không có quân đội hoặc không có quân thường trực mà chỉ có một lực lượng quân sự rất hạn chế:

*Các quốc gia không có quân thường trực mà chỉ có một lực lượng quân sự rất hạn chế.

Chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự không bắt buộcSửa đổi

Các quốc gia này có chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự không bắt buộc (tuy nhiên nhiều quốc gia vẫn yêu cầu các nam công dân bắt buộc phải trải qua một khóa học quân sự ngắn, phục vụ quân sự bán thời gian hoặc các hoạt động nghĩa vụ thay thế khác, và phải cam kết phục vụ quân đội khi được lệnh nhập ngũ). Ví dụ:

  • Trung Quốc không có nghĩa vụ quân sự bắt buộc, tuy nhiên mọi nam công dân bắt buộc phải trải qua 1 tháng huấn luyện quân sự cơ bản và được xếp vào loại hình quân dự bị loại 2, mọi quân nhân dự bị bắt buộc phải nhập ngũ nếu nhận được lệnh gọi. Hiện quân đội Trung Quốc có hơn 2 triệu quân chủ lực, nhưng nếu có chiến tranh, họ có thể ngay lập tức gọi nhập ngũ bắt buộc đối với 200 triệu quân từ lực lượng dự bị.
  • Nước Mỹ từng có năm lần ban hành luật nghĩa vụ quân sự bắt buộc với công dân nam của nước này: thời kỳ Cách mạnh Mỹ, Nội chiến Mỹ, Chiến tranh thế giới thứ nhất, Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh Lạnh (bao gồm cả Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam). Sau năm 1973, Mỹ không còn duy trì luật nghĩa vụ quân sự bắt buộc, tuy nhiên Hệ thống Tuyển chọn Quân dịch (Selective Service System hay SSS) của Mỹ hiện vẫn hoạt động. Hàng năm, mọi công dân nam trong độ tuổi từ 18 tới 25 đều phải trình diện để đăng ký với cơ quan này. Trong trường hợp chiến tranh bùng nổ trên quy mô lớn, việc tổng động viên và luật nghĩa vụ quân sự sẽ được tái khởi động, quân đội Mỹ sẽ căn cứ theo dữ liệu của SSS để gửi giấy gọi nhập ngũ với những công dân nam trong độ tuổi thực hiện luật nghĩa vụ quân sự.
  • Nước Anh không có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc, nhưng trong lịch sử, khi Thế chiến 1Thế chiến 2 xảy ra, nước này đã nhanh chóng chuyển sang áp dụng chế độ quân sự bắt buộc dựa trên danh sách nam công dân được lập sẵn trong thời bình.

Có 102 quốc gia nằm trong số này:

Chế độ quân sự vừa bắt buộc vừa tự nguyệnSửa đổi

Có 8 quốc gia trong danh sách này:

Chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc và có tuyển chọnSửa đổi

Các quốc gia này có chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Tuy nhiên chỉ có một phần nam công dân được gọi nhập ngũ, số còn lại chỉ trải qua một khóa học quân sự ngắn. Ví dụ như các quốc gia:

Nghĩa vụ quân sự bắt buộc nhưng cho lựa chọn hình thức nghĩa vụSửa đổi

Các quốc gia này cho phép công dân quyền lựa chọn khi tham gia nghĩa vụ quân sự: dân sự, binh sĩ không vũ trang hoặc có vũ trang:

Thời gian nghĩa vụ quân sự bắt buộcSửa đổi

Nghĩa vụ quân sự bắt buộc không quá một nămSửa đổi

Danh sách gồm có 20 quốc gia:

Nghĩa vụ quân sự bắt buộc tối đa 18 thángSửa đổi

Danh sách này có 9 quốc gia:

Nghĩa vụ quân sự bắt buộc lâu hơn 18 thángSửa đổi

Có 34 quốc gia:

Quốc gia sẽ bãi bỏ chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc trong tương lai gầnSửa đổi

Vào năm 2012, một quốc gia có dự định bãi bỏ chế độ quân dịch cưỡng bức trong tương lai gần: