USS Herbert J. Thomas (DD-833/DDR-833) là một tàu khu trục lớp Gearing được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào giai đoạn cuối Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Trung sĩ Thủy quân Lục chiến Herbert Joseph Thomas Jr. (1918-1943), người đã tử trận trong Chiến dịch Bougainville và được truy tặng Huân chương Danh dự.[1] Hoàn tất khi chiến tranh đã sắp kết thúc, con tàu tiếp tục phục vụ trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, Chiến tranh Triều TiênChiến tranh Việt Nam cho đến năm 1970. Nó được chuyển cho Đài Loan năm 1974 và tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Trung Hoa dân quốc như là chiếc ROCS Han Yang (DD-15/DDG-915) cho đến năm 1999. Nó bị đánh chìm như một dãi san hô nhân tạo sau đó. Herbert J. Thomas được tặng thưởng danh hiệu sáu Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên, rồi thêm ba Ngôi sao Chiến trận khác khi hoạt động trong Chiến tranh Việt Nam.

USS Herbert J. Thomas (DDR-833) underway in San Francisco Bay on 13 June 1957 (NH 94309).jpg
Tàu khu trục USS Herbert J. Thomas (DDR-833) trên đường đi trong vịnh San Francisco, 13 tháng 6 năm 1957
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Herbert J. Thomas (DD-833)
Đặt tên theo: Herbert Joseph Thomas
Hãng đóng tàu: Bath Iron Works, Bath, Maine
Đặt lườn: 30 tháng 10 năm 1944
Hạ thủy: 25 tháng 3 năm 1945
Đỡ đầu bởi: cô Audrey Irene Thomas
Nhập biên chế: 29 tháng 5 năm 1945
Xuất biên chế: 4 tháng 12 năm 1970
Xếp lớp lại: DDR-833, 18 tháng 3 năm 1949;
DD-833, 1 tháng 4 năm 1964
Xóa đăng bạ: 1 tháng 2 năm 1974
Danh hiệu và
phong tặng:
9 × Ngôi sao Chiến trận
Số phận: Được chuyển cho Đài Loan, 1 tháng 6 năm 1974
Phục vụ (Đài Loan)
Tên gọi: ROCS Han Yang (DD-15)
Trưng dụng: 1 tháng 6 năm 1974
Xuất biên chế: 16 tháng 8 năm 1999
Xếp lớp lại: DDG-915
Số phận: Bị đánh chìm như dãi san hô nhân tạo,
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Gearing
Trọng tải choán nước: 2.616 tấn Anh (2.658 t) (tiêu chuẩn);
3.460 tấn Anh (3.520 t) (đầy tải)
Độ dài: 390,5 ft (119,0 m)
Sườn ngang: 40,9 ft (12,5 m)
Mớn nước: 14,3 ft (4,4 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số General Electric;
4 × nồi hơi;
2 × trục;
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Tốc độ: 36,8 hải lý một giờ (68,2 km/h; 42,3 mph)
Tầm xa: 4.500 nmi (8.300 km) ở tốc độ 20 kn (37 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
350
Vũ trang:

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

Herbert J. Thomas được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Bath Iron Works Corporation ở Bath, Maine vào ngày 30 tháng 10 năm 1944. Nó được hạ thủy vào ngày 25 tháng 3 năm 1945; được đỡ đầu bởi cô Audrey Irene Thomas, em gái Trung sĩ Thomas, và nhập biên chế vào ngày 29 tháng 5 năm 1945 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân T. S. Keith.[1]

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

1945 - 1949Sửa đổi

Sau khi hoàn tất việc chạy thử máy tại vùng bờ Đông Hoa Kỷ và vùng biển Caribe, Herbert J. Thomas băng qua kênh đào Panama để đi đến khu vực Tây Thái Bình Dương, gia nhập lực lượng chiếm đóng làm nhiệm vụ tại Nhật BảnTriều Tiên. Sau khi hoạt động cùng Đệ Thất hạm đội ngoài khơi Nhật Bản và tuần tra tại vùng biển Triều Tiên trong phần lớn thời gian của năm 1946, nó lên đường vào cuối tháng 11 để quay trở về Hoa Kỳ, đi ngang qua GuamTrân Châu Cảng trước khi về đến San Diego vào ngày 21 tháng 12.[1]

Herbert J. Thomas lại khởi hành vào ngày 6 tháng 1 năm 1947 để chuyển sang vùng bờ Đông, vượt kênh đào Panama và đi đến Newport, Rhode Island, cảng nhà mới của nó, vào ngày 6 tháng 2. Từ tháng 2 năm 1947 đến tháng 5 năm 1950, nó hoạt động dọc theo vùng bờ Đông và vùng biển Caribe đồng thời ba lần được phái sang phục vụ cùng Đệ Lục hạm đội tại Địa Trung Hải. Ngoài ra vào cuối năm 1948 nó còn đảm nhiệm vai trò tàu thực hành cho Học viện Hải quân Hoa Kỳ, tiến hành những chuyến đi thực tập chống tàu ngầm kéo dài sáu ngày. Nó được xếp lại lớp như một tàu khu trục cột mốc radar với ký hiệu lườn mới DDR-833 vào ngày 18 tháng 3 năm 1949.[1]

Chiến tranh Triều Tiên 1950 - 1953Sửa đổi

Herbert J. Thomas vừa mới quay về từ Địa Trung Hải và đang viếng thăm, khi lực lượng Bắc Triều Tiên đã vượt vĩ tuyến 38 tấn công xuống lãnh thổ Nam Triều Tiên vào ngày 25 tháng 6 năm 1950, khiến Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ. Nó lập tức đi sang Trân Châu Cảng để gia nhập Hạm đội Thái Bình Dương, rồi đến tháng 7 đã gia nhập Lực lượng Đặc nhiệm 77 hoạt động trong biển Hoàng Hải ngoài khơi bờ biển Triều Tiên. Một tháng sau đó, nó được điều sang lực lượng phong tỏa dọc bờ biển phía Đông, và đã hỗ trợ hải pháo cho lực lượng trên bộ của Liên Hiệp Quốc ở vùng phụ cận Pohang đang phòng thủ trong Trận Vành đai Pusan. Nó bắn pháo can thiệp suốt dọc bờ biển phía Đông, và đã tấn công nghi binh nhằm hỗ trợ cho cuộc đổ bộ của lực lượng Commando Anh từ tàu ngầm Perch (SS-176) để phá hủy một hầm đường sắt quan trọng của đối phương.[1]

Lúc 13 giờ 29 phút ngày 4 tháng 9, Herbert J. Thomas đang làm nhiệm vụ cột mốc radar canh phòng ờ vị trí cách khoảng 60 mi (97 km) về phía Bắc thành phần chủ lực của hạm đội, khi nó phát hiện máy bay không rõ nhận dạng trên màn hình radar. Nó chuyển thông tin đến những máy bay tuần tra chiến đấu trên không (CAP) xuất phát từ tàu sân bay Valley Forge (CV-45), và một phi đội đang tuần tra về phía Đông Bắc hạm đội được dẫn đường để đối phó. Đối thủ được ước lượng bay đến từ hướng 160°, tốc độ 180 kn (330 km/h), và sau khi thấy bị ngăn chặn chúng đã tách thành hai tốp, hạ thấp độ cao và rút lui về phía Triều Tiên thay vì Trung Quốc. Đối thủ được nhận dạng là những máy bay ném bom hai động cơ mang phù hiệu ngôi sao đỏ; một máy bay đối phương đã nổ súng tấn công và bị bắn hạ. Chiếc tàu khu trục đã đi đến địa điểm máy bay rơi, thu được xác viên phi công là một người Châu Á, và đã chuyển thi thể đến Valley Forge.[1]

Trong ba tháng tiếp theo Herbert J. Thomas tiếp tục hoạt động tuần tra và phục vụ cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77. Nó lên đường quay trở về nhà vào ngày 24 tháng 1 năm 1951, và về đến San Diego vào ngày 12 tháng 2, trải qua thời gian còn lại của năm cho những hoạt động tại chỗ. Nó quay trở lại vùng biển Triều Tiên vào ngày 25 tháng 1 năm 1952, phục vụ cùng Lực lượng Đặc nhiệm 77 trong một tháng rồi trải qua hai tuần lễ làm nhiệm vụ hỗ trợ hải pháo và hộ tống. Đến cuối tháng 2, nó được điều sang hoạt động tuần tra tại eo biển Đài Loan, rồi sang tháng 4 đã hoạt động tại khu vực Sŏngjin, Bắc Triều Tiên. Nó hoạt động phối hợp cùng nhiều tàu chiến khác tại suốt khu vực Sŏngjin-Chongjin.[1]

Phần thưởngSửa đổi

Herbert J. Thomas được tặng thưởng danh hiệu sáu Ngôi sao Chiến trận do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên, rồi thêm ba Ngôi sao Chiến trận khác khi hoạt động trong Chiến tranh Việt Nam.

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ “Herbert J. Thomas (DD-833)”. Naval History and Heritage Command. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2020. 

Thư mụcSửa đổi