M1 Garand là khẩu súng trường bán tự động lừng danh của Hoa Kỳ.

Súng trường M1 Garand
M1 Garand rifle - USA - 30-06 - Armémuseum.jpg
Góc nhìn phải và trái của súng trường M1 Garand
LoạiSúng trường, Súng trường chiến đấu
Nơi chế tạo Hoa Kỳ
 Ý (sản xuất tại nhà máy của hãng Beretta dưới tên gọi Beretta BM-59)
 Đế quốc Nhật Bản (sao chép bất hợp pháp những khẩu M1 Garand thu được từ quân Mỹ dưới tên gọi Type 5)
Lược sử hoạt động
Phục vụ1936 - 1958 (Hoa Kỳ)
1940 - nay (Nhiều quốc gia khác)
Sử dụng bởi Hoa Kỳ
 Ý
 Nhật Bản
 Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
 Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
 Việt Nam
 Canada
 Colombia
 Israel
 Jordan
 Hàn Quốc
 Trung Hoa Dân Quốc
 Trung Quốc
 Singapore
 Indonesia
 Malaysia
 Tây Đức
 Đức
 Pháp
 Brasil
 Uruguay
 Mexico
 Úc
 New Zealand
 Lào
 Cộng hòa Nhân dân Campuchia
 Campuchia
 Thái Lan
 Philippines
 Na Uy
 Đan Mạch
 Cuba
 Liberia
 Nam Phi
 Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland
Cuộc chiến tranhChiến tranh thế giới thứ hai
Chiến tranh Triều Tiên
Chiến tranh Việt Nam
Xung đột Ả Rập-Israel
Chiến tranh Đông Dương
Sự kiện Vịnh Con Lợn
Nội chiến Lào
Nội chiến Campuchia
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh biên giới Lào-Thái Lan
Chiến tranh Tây-Nam
Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979
Cách mạng Cuba
Lược sử chế tạo
Người thiết kếJohn Garand
Năm thiết kế1921
Nhà sản xuấtSpringfield
Winchester
Harrington & Richardson
International Harvester
Beretta (Ý)
Breda (Ý)
Springfield Armory, Inc. (Phiên bản thể thao, dân sự)
Giai đoạn sản xuất1937 - 1957 (Hoa Kỳ)
1959 - ? (Beretta BM 59 của Ý)
1945 (Type 5 Garand của Đế quốc Nhật Bản)
Số lượng chế tạo5,468,772 khẩu
Các biến thểM1C Garand
M1D Garand
Type 5 Garand
Beretta BM 59
Thông số
Khối lượng4.31 kg (Khi chưa nạp đạn)
5.38 kg (Khi đã nạp đầy đạn)
Chiều dài1,100mm (43.5 in)

Đạn.30-06 Springfield
7,62x51mm NATO (Được dùng bởi Hải quân Hoa Kỳ sau Thế chiến 2)
Cơ cấu hoạt độngTrích khí
Khóa nòng xoay
Tốc độ bắn40 - 50 viên/phút
Vận tốc mũi853 m/giây
Tầm bắn hiệu quả402 m
Tầm bắn xa nhấtKhoảng 600 m
Chế độ nạpKẹp đạn 8 viên
Ngắm bắnĐiểm ruồi hoặc kính ngắm M84
Tướng Charles M Wesson (người mặc quân phục, cầm súng, đứng ở giữa) đang thử nghiệm khẩu M1 ở tại trường bắn thử nghiệm của nhà máy vũ khí Winchester. Cha đẻ của súng, ông John Garand là người mặc com lê, đeo kính đứng bên phải tướng Wesson.

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

 
M1 Garand được trưng bày trong viện bảo tàng lịch sử ở Stockholm, Thụy Điển.

Thế chiến thứ hai (1939-1945)Sửa đổi

 
2 lính bộ binh Mỹ đang tập luyện với 2 khẩu M1 Garand tại Bastogne
 
Hai lính thủy đánh bộ Mỹ với 2 khẩu M1 ở Mặt trận Thái Bình Dương trong Thế chiến thứ hai

Trong Thế chiến 2, M1 Garand là súng trường tiêu chuẩn mới của Hoa Kỳ. Nó được sản xuất và sử dụng rất phổ biến. Lính bộ binh, lính thủy đánh bộ, lính đù, lính bắn tỉa,...đều khen ngợi khẩu súng này có tốc độ bắn khá cao nên giúp họ dành được ưu thế trước những khẩu súng trường bắn phát một Karabiner 98k của quân Đức hay Súng trường Arisaka kiểu 99 của quân Nhật. Trong cuộc chiến này, bên cạnh biến thể của bộ binh thì Hoa Kỳ còn phát triển thêm 2 biến thể khác nữa của khẩu M1 là biến thể bắn tỉa dùng kính ngắm M84 có tên là M1C Garand và biến thể phóng lựu đạn bằng loại ống phóng M7.

Anh và các nước trong Khối Thịnh vượng chung (Canada, Úc New Zealand,...), Liên Xô, Pháp Tự do, Trung Quốc (Quốc dân Cách mệnh Quân cùng với Bát lộ quânTân Tứ quân) đều nhận được một vài lô súng M1 Garand do Mỹ viện trợ thông qua chương trình Lend - Lease với tư cách là đồng minh chống phát xít của Mỹ trong Thế chiến 2 nhưng quân đội các nước này lại ít sử dụng đến nó (hoặc thậm chí là không sử dụng) vì họ cũng có riêng cho mình những mẫu súng trường chiến đấu khác không thua kém gì khẩu M1 Garand. M1 Garand tuy là một khẩu súng tốt (uy lực mạnh, tầm bắn xa, độ chính xác cao,...) nhưng cỡ đạn .30-06 của nó lại quá khác biệt so với quân đội các nước đồng minh khác. Anh có Lee-Enfield bắn đạn .303 (7,7x56mm), Liên Xô có Mosin-Nagant bắn đạn 7,62x54mmR, PhápMAS-36 bắn đạn 7,5x54mm. Thậm chí, Hồng quân Liên Xô còn có riêng cho mình khẩu súng trường bán tự động SVT-40 (dùng chung đạn 7,62x54mm với khẩu Mosin-Nagant) tốt hơn khẩu M1 Garand nhiều. Quân đội Trung Quốc (Quốc dân Cách mệnh Quân cùng với Bát lộ quânTân Tứ quân) thì lại dùng nhiều những khẩu Mosin-Nagant (được Liên Xô viện trợ) hay những khẩu súng trường Type 24 "Trung Chính" dùng đạn 7,92x57mm Mauser do Nhà máy quân khí Hán Dương (Hanyang Arsenal) sao chép theo mẫu Mauser "Standardmodell" 1924 mà Trung Quốc mua của Đức trong những năm đầu thập niên 30. Ngoài 2 mẫu súng trường chiến đấu bắn phát một này ra thì Trung Quốc còn dùng khẩu M1941 Johnson nữa.

M1 Garand cùng với những mẫu súng khác như Mosin-Nagant, SVT-40, Karabiner 98k, Gewehr 43, Lee-Enfield, Arisaka Type 38, Arisaka Type 99, M1903 Springfield, MAS-36,...đã trở thành những mẫu súng trường chiến đấu (tiếng Anh: Battle rifle) thành công nhất trong Thế chiến 2.

Chiến tranh Triều Tiên (1950-1953)Sửa đổi

Trong thời gian Chiến tranh Triều Tiên diễn ra, Quốc quân Đại Hàn Dân QuốcQuân đội Hoa Kỳ sử dụng 2 khẩu súng trường bán tự động M1 Garand và M1 Carbine hết sức rộng rãi. Đối chọi với họ là Quân đội Nhân dân Triều TiênChí nguyện quân Trung Quốc sử dụng những khẩu Mosin-Nagant (đời 1891/30 và 1891/44) do Liên Xô viện trợ.Qua 2 đợt viện trợ, đợt một từ năm 1950 đến năm 1953 và đợt hai từ năm 1964 đến năm 1974 thì Hàn Quốc đã nhận được tổng cộng tới 296,450 khẩu M1 Garand từ Mỹ. Sau khi cuộc chiến ở Triều Tiên "tạm thời" kết thúc vào tháng 6 năm 1953, giới quân sự Hoa Kỳ đã khẩn trương phát triển một mẫu súng trường tiến công mới để thay thế cho khẩu M1 và đồng thời cũng để tạo ra một "đối trọng" với khẩu AK-47 của Liên Xô. Vào năm 1957, khẩu M14 ra đời. M14 áp dụng khoảng 45% thiết kế của khẩu M1.

Sự kiện Vịnh Con Lợn (17/4-19/4 năm 1961)Sửa đổi

Trong Sự kiện Vịnh Con Lợn, những người Cuba của chính quyền Fulgencio Batista sau khi bị Fidel Castro lật đổ nên đã chuyển qua Mỹ sống lưu vong tại các bang ở miền nam nước Mỹ với lòng thù hận chính quyền Fidel đã được CIA đào tạo sử dụng nhiều loại vũ khí Mỹ, trong số đó có rất nhiều là khẩu M1 Garand nhưng cuộc đổ bộ đã bị thất bại. Chính quyền Fidel Castro đã bắt giữ toàn bộ những kẻ thâm nhập trái phép và thu toàn bộ vũ khí.

Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954)Sửa đổi

 
Ông John Garand (người mặc Com lê, đeo kính đứng ở bên trái) đang chỉ cách sử dụng khẩu M1 cho trung tướng Charles M. Wesson (người mặc quân phục đứng ở giữa) và thiếu tướng Gilbert H. Stewart (người mặc quân phục đứng ở bên phải).

Từ năm 1950 đến năm 1964, Quân đội Pháp đã nhận được 232,500 khẩu M1 Garand do Hoa Kỳ cung cấp. Quân đội Pháp gọi khẩu súng này là: Fusil semi-automatique 7 mm 62 (C. 30) M. 1. Trong những ngày tháng đầu tiên của cuộc Chiến tranh Đông Dương, Pháp và Quốc gia Việt Nam sử dụng khẩu M1 Garand với số lượng không nhỏ để thay cho những khẩu súng trường bắn phát một MAS-36 đã lạc hậu và xuống cấp. Từ sau năm 1951 trở đi thì quân Pháp thay nó bằng MAS-49, một mẫu súng trường bán tự động do công ty Manufacture d'armes de Saint-Étienne, một công ty quốc doanh chuyên chế tạo và sản xuất vũ khí của Pháp, thiết kế và sản xuất hàng loạt. Còn Quân đội Quốc gia Việt Nam thì vẫn tiếp tục sử dụng nó đến khi thua trận vào ngày 7 tháng 5 năm 1954. Đối thủ của họ, Quân đội nhân dân Việt Nam cũng thu được khá nhiều súng này từ tù binh Pháp và Quốc gia Việt Nam nhưng bộ đội Việt Minh lại ít sử dụng khẩu súng này.

Tại chiến trường Nam Bộ, tuy không được cung cấp trực tiếp từ trung ương nhưng các đơn vị chủ lực của Việt Minh đóng tại đây lại trang bị M1 Garand như là một chiến lợi phẩm thu được từ quân Pháp và Quốc gia Việt Nam. Người dân miền Nam Việt Nam thường gọi loài súng này là súng trường M1 Ga-răng (đọc phiên âm từ "Garand" theo tiếng Pháp).

Chiến tranh Việt Nam (1955-1975)Sửa đổi

Trong giai đoạn 1955-1975 thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã nhận được một lượng lớn súng ống từ thời thế chiến 2 do Hoa Kỳ viện trợ, trong đó có khoảng 220.300 khẩu M1 Garand. Bên cạnh được Mỹ viện trợ thì quân Việt Nam Cộng Hòa cũng được trực tiếp kế thừa những khẩu M1 Garand mà quân Pháp để lại ở miền Nam Việt Nam sau năm 1954. Chúng được trang bị cho các lực lượng bán quân sự của Việt Nam Cộng hòa. Không chỉ có Việt Nam Cộng Hòa mà ngay cả đối thủ chính của họ ở chiến trường miền Nam - Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng sử dụng khẩu súng này khá là phổ biến. Trong cuộc chiến này, lính của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam thu được khá nhiều súng này từ lính Việt Nam Cộng hòa, lính Hàn Quốc và có cả lính Mỹ nữa nên họ quyết định mang nó ra sử dụng tiếp để bù đắp cho sự thiếu thốn của những khẩu súng như AK-47 hay CKC trong biên chế của mình. Cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến lớn cuối cùng mà khẩu M1 Garand vẫn còn được nhìn thấy sử dụng với số lượng lớn mặc dù cho nó đã trở nên chậm chạp trước những khẩu súng trường tấn công (như AK-47 của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam hay M16 của Quân đội Hoa Kỳ). Sau khi chiến tranh kết thúc, Quân đội Nhân dân Việt Nam đưa khẩu súng này vào phục vụ trong biên chế của lực lượng Dân quân tự vệ.

Nội chiến Lào và Nội chiến CampuchiaSửa đổi

Tương tự như Việt Nam Cộng hòa, chính phủ Cộng hòa KhmerChính phủ Hoàng gia Lào cũng nhận được súng M1 Garand từ Hoa Kỳ thông qua các gói viện trợ quân sự.

Ưu điểm và nhược điểmSửa đổi

 
Kẹp đạn "en-bloc" 8 viên của M1 Garand.

Súng có nhiều ưu điểm như tốc độ bắn nhanh hơn nhiều so với súng trường bắn phát một (vì là súng trường bán tự động). M1 Garand có thể bắn 40 - 50 phát/phút, trong khi súng trường bắn phát một như M1903 Springfield, Karabiner 98k, Mosin-Nagant, MAS-36, Arisaka Type 99... chỉ có thể bắn được 10 - 15 phát/phút. Lượng đạn dự trữ của M1 cũng nhiều hơn (M1 sử dụng một kẹp đạn 8 viên dạng en-bloc cho mỗi lần nạp đạn, nhiều hơn so với những khẩu súng trường bắn phát một thường sử dụng kẹp đạn 5 viên cho mỗi lần nạp). Độ chính xác khá cao, tầm bắn hiệu quả khá xa (hơn 450 m với thước ngắm và xa hơn nếu dùng kính ngắm).

Nhược điểm mà súng tồn tại là khá dài (1,1 m khi chưa gắn lưỡi lê) và tương đối nặng nề (khi chưa nạp đạn thì súng đã nặng tới 4,31 kg). Thiết kế bộ nạp đạn của súng khiến nó không gắn được ống ngắm để bắn tỉa như các kiểu súng trường M1903 Springfield, Karabiner 98k, Mosin-Nagant... Nếu muốn gắn kính ngắm thì phải sử dụng phiên bản M1 được sửa đổi đặc biệt và phải nạp đạn từng viên đạn một nên bắn rất chậm, vì vậy các xạ thủ bắn tỉa Mỹ thường không thích M1 Garand mà chuyển sang dùng súng M1903 Springfield.

Các quốc gia sử dụngSửa đổi

Chú thích và tham khảoSửa đổi

Tham khảoSửa đổi