Bức tranh Cung nhạc đồ (宮樂圖) mô tả các sĩ nữ thời Đường.

Nữ quan (女官), hay còn gọi Nội quan (内官), Cung quan (宮官) hoặc Sĩ nữ (仕女), tiếng AnhLady-in-waiting, Court Lady hoặc Palace Attendant, là những từ hay dùng để gọi các cung nữ cao cấp trong cung đình phong kiến.

Ở chốn quan trường dường như chỉ dành cho nam giới, vẫn có một số lượng ít ỏi phụ nữ xuất hiện, toàn bộ họ đều ở trong nội cung, phụ giúp xung quanh Hoàng đế hoặc Quốc vương. Họ có phẩm trật và lương bổng như mệnh nam quan, có nhiệm vụ quản lý hậu cung cung nữ, lại có thể chiếu cố giúp đỡ các Hoàng tử, Hoàng nữ hoặc Vương tử, Vương nữ hay thậm chí các phi tần trong việc giáo dục.

Phận sự của họ rất đặc biệt, có hai đặc tính: một là đảm nhiệm chức vụ nội quan thông thường, mặt khác giống như một phi tần, các vị Đế vương có thể sủng hạnh họ và họ trở thành một phi tần chính thức trong cấp bậc.

Lịch sử Đông ÁSửa đổi

Trung QuốcSửa đổi

 
Ban Chiêu, thầy dậy của Thái hậu Đặng Tuy, người được đương thời gọi là Tào Đạo cô.

Chế độ "Nữ quan" là cơ cấu rất đặc biệt trong các nước theo thể chế Hoa Hạ, đều bắt nguồn từ Trung Quốc. Từ đời nhà Chu, sự hình thành nữ quan đã có biểu hiện. Như sách Lễ ký, thiên “Hôn nghĩa” ghi rõ: [“Cổ giả Thiên tử Hậu, lập Lục cung, Tam phu nhân, Cửu tần, Nhị thập thất Thế phụ, Bát thập nhất Ngự thê, dĩ thính thiên hạ chi nội trị, dĩ minh chương phụ thuận”; 古者天子后立六宫、三夫人、九嫔、二十七世妇、八十一御妻,以听天下之内治,以明章妇顺。]. Lúc này, nữ quan và phi tần chồng lên nhau, nhất là trong Chu lễ, phần “Thiên quan, Trủng tể” có minh xác quy định hành vi của Tam phu nhân trở xuống, và từ Cửu tần trở xuống biểu hiện, thì họ có thể đều là nữ quan, không có quan hệ giường chiếu, mà không phải Thiên tử tần phi. Đây là nhằm mục đích ["Nội hòa nhi Gia lý"; 内和而家理], khiến bên ngoài triều và nội đình có trật tự như nhau. Ban đầu, nữ quan cùng phi tần (tức Nội mệnh phụ) rất lẫn lộn. Về sau, cụ thể là từ nhà Đường đến nhà Minh, nữ quan đã hoàn toàn tách ra khỏi thân phận phi tần, nhưng cũng có trường hợp vẫn còn chồng lên nhau.

Qua các chế độ, nữ quan có vị thế phẩm trật cao không kém các nam quan, cũng sở hữu quyền thế lớn, không chỉ có được sự tôn trọng trong nội cung, mà còn được nghênh đón ở tiền triều. Thậm chí có trường hợp nữ quan tham dự triều chính, dù kì thực không có quyền lợi này. Cựu Đường thư còn ghi nhận một chuyện: Con trai thứ của Đường Cao Tổ Lý Uyên, Thư vương Lý Nguyên Danh từng được sư phó khuyên đến thăm hỏi Thượng cung đương thời, do bà đang có phẩm trật cao. Nhưng Lý Nguyên Danh cự tuyệt, cho rằng Thượng cung chỉ là gia tì của Nhị Ca (Đường Thái Tông), sao bổn vương phải hành lễ[1].

Về phương diện học vấn, đại đa số nữ quan đều phải có văn tài, vài người chỉ là mệnh phụ nhưng được dùng lễ mời vào cung để phụ trách quản lý việc dạy dỗ trong nội cung. Ví dụ như Ban Chiêu đời Đông Hán vì vị thế gia đình họ Ban, được Đặng Thái hậu nhận làm sư phụ, đương thời gọi Tào đại cô (曹大家). Hàn Lan Anh đời Lưu Tống dâng lên bài "Trung Hưng phú", được chiêu nạp vào đảm nhiệm chức bác sĩ trong cung, dạy học cho cung nhân, nhân vì học vấn uyên bác, lại tuổi cao đức tốt, được kính gọi là Hàn công (韓公). Ngoài ra còn có năm chị em Tống Nhược Chiêu vào giữa nhà Đường nhờ có tài học thanh phỉ, được Đường Đức Tông triệu vào cấm cung, được xưng là ["Học sĩ"] cùng ["Tiên sinh"] như các nam nhân bên ngoài.

Nữ quan nói chung là thường không được xuất đầu lộ diện, nhưng vẫn có những người có tài năng được phá lệ. Như Thượng Quan Uyển Nhi đời Võ Tắc ThiênĐường Trung Tông, thường giữ vị trí quan trọng trong cung, địa vị cực kì cao quý. Ngoài ra còn có Lục Lệnh Huyên, dựa vào việc từng là nhũ mẫu cho Bắc Tề Hậu Chủ Cao Vĩ mà nắm quyền, vượt lên trên cả Hoàng thái hậu và Hoàng hậu.

Ngoài quản lý cung nhân và hầu giá học vân, nữ quan còn có vai trò như phi tần, chỉ cần Đế vương để mắt, thì liền muốn giao hoan cùng họ. Thượng Quan Uyển Nhi vốn là "Nội xá nhân", nhưng được Đường Trung Tông lâm hạnh trở thành tần phi. Lý Thần phi thời nhà Tống sơ vào cung đảm nhiệm chức "Ti tẩm", lúc lo việc giường chiếu áo mền cho Tống Chân Tông mà được đưa vào màn trướng. Hiếu Mục Kỷ Thái hậu vốn là "Nữ sử" tiền triều, chủ quản Nội Tàng khố, Minh Hiến Tông ngẫu nhiên đi thị sát, thấy Kỷ thị ứng đối trôi chảy mà lâm hạnh. Đến thời nhà Thanh, nữ quan chỉ là các mệnh phụ được triệu vào giúp đỡ các loại lễ (xem Nữ quan nhà Thanh).

Các nước đồng vănSửa đổi

 
Murasaki Shikibu, là một Nữ phòng cho Hoàng hậu Fujiwara no Shōshi.

Tại Nhật Bản, từ thời Heian đã có chế độ Nữ quan, được gọi là Hậu cung Thập nhị ti, trong đó lại chia ra Nội thị ti chuyên gần gũi thị hầu Thiên hoàng, và 11 Ti khác lại có nhiệm vụ chưởng quản các vấn đề bên dưới. Họ thường là thành viên của các gia đình quý tộc đưa vào. Về cơ bản, các nữ quan đều phải là những người có học thức và xuất thân cao quý có thế lực[2].

Suốt thời kì Heian, các nữ quan giữ những chức danh quan trọng phục vụ nhu cầu của Thiên hoàng và các hậu cung. Một trong những điều kiện cần có để trở thành một nữ quan là họ phải biết những kiến thức về chữ Hán và được giáo dục tốt bởi các kinh thư Trung Hoa, như Tứ thư, Ngũ kinh[3]. Các nữ quan có nhiều cách gọi, trong đó có địa vị Nữ phòng (女房; Nyōbō) xuất hiện như một dạng Nhũ mẫu hay Phó mẫu, không chỉ có ở hoàng cung mà còn xuất hiện trong các tư dinh của quý tộc quyền thế khắc trong xã hội Nhật Bản. Những nữ phòng thời kì này phải kể đến Murasaki Shikibu, Sei Shōnagon, Izumi ShikibuAkazome Emon.

Trong thời kì Sengoku, vị trí nữ quan trở nên quan trọng hơn khi họ là người trung gian chủ yếu giữa Thiên hoàng và các triều thần, họ quản lý toàn bộ mọi việc trên dưới của nội cung, lên lịch làm việc, viếng thăm và nhận quà cáp cống phẩm. Khác với Trung Hoa, các nữ quan Nhật Bản trở thành người quản lý hậu cung chính thay các hoạn quan. Nữ quan phục vụ cơ bản chia làm hai loại. Một loại thì rất thân cận với Thiên hoàng, quản lý mọi việc nhu yếu phẩm của Thiên hoàng và có thể trở thành phi tần nếu được sủng hạnh. Còn loại thứ hai chỉ làm những việc bên ngoài, hoặc phục vụ cho các cung phi[4].

Sang thời Edo, Mạc phủ Tokugawa muốn thể hiện quyền thế của mình, cho xây dựng Ōoku với một cơ chế nữ quan không thua kém gì hoàng thất. Các nữ quan trong Ōoku đều tuân thủ thứ bậc nghiêm ngặt, cũng xuất thân từ tầng lớp samurai quyền quý và chịu sự giáo dục hoàn hảo để có thể phục vụ các Shogun. Cũng như nữ quan Hoàng thất, một nữ quan Ōoku nếu được sủng hạnh vẫn có thể trở thành ngự thiếp với những biệt đãi tương xứng. Họ được biết đến là [Áo nữ trung; 奧女中].

 
Nữ sử Đạm Phương.

Trong lịch sử Việt Nam, cũng có một số các nữ quan đi vào lịch sử. Nữ quan Phạm Thị Trân là một nữ nghệ sĩ thời Đinh và cũng là người phụ nữ đầu tiên được phong làm quan trong thời đại phong kiến ở Việt Nam.[5][6][7] Dựa theo câu chuyện về Huệ Chân công chúa, con gái của Nữ quan Vương thị và Trần Anh Tông, có thể hình dung nữ quan thời kì này có thể được Hoàng đế sủng hạnh.

Thời Hậu Lê, có bà Nguyễn Thị Lộ đời Lê Thái Tông vốn là thị thiếp của Nguyễn Trãi, sau do được Lê Thái Tông để ý cùng tài ăn nói, đã được giữ chức vụ Lễ nghi học sĩ, giúp đỡ giáo huấn các cung nhân. Sau đó, Ngô Chi Lan đời Lê Thánh Tông là chị em họ của Hoàng đế, hay vào cung hầu Hoàng đế mỗi dịp tiệc tùng và thi ca, thời bấy giờ bà rất có quyền thế. Vào thời nhà Mạc, có bà Nguyễn Thị Duệ cải nam trang mà đi thi, đỗ được tiến sĩ. Sau bà bị phát hiện, tuy vậy bà không bị trừng phạt mà còn giữ tước vị nữ quan cao cấp để dạy bảo cung nhân. Thời cuối Lê trung hưng, có Đoàn Thị Điểm nổi tiếng văn thơ, cũng từng được triều đình nhà Lê cho vời vào cung để dạy bảo cung nhân. Các nữ quan trong phủ chúa thì có Chính phủ Thị nội cung tần Thượng hòa Trương Thị Trong, Thị nội cung tần Trương Thị Viên, Giáo thụ Phan Thị Toán,... đều là những nữ quan kiệt xuất.

Sang thời nhà Nguyễn, chế độ triều nghi đủ đầy, có Bà Huyện Thanh Quan được Minh Mạng (có thuyết nói là Tự Đức) cho với vào cung, giữ chức "Cung trung Giáo tập" để dạy học cho các công chúa và cung phi. Sau đó thời Tự Đức, có Nguyễn Thị Bích nổi tiếng văn thơ, triệu vào cung làm chức "Thượng nghi viện", sau lên Tiệp dư, đương thời gọi bà là "Tiệp dư phu tử" vì bà hay giảng giải kinh sách cho Kiến PhúcĐồng Khánh. Cuối đời Nguyễn, có Đạm Phương xuất thân từ hoàng tộc giữ chức "Nữ sử" trong cung.

 
Các Thượng cung (상궁).

Còn tại lịch sử Hàn Quốc, nhà Triều Tiên cũng có chế độ nữ quan, khác với hầu hết các quốc gia thì nữ quan Triều Tiên đa phần không đòi hỏi học thức lắm, họ là các Lão nội nhân từ hàng cung nữ đề bạt lên. Nhiệm vụ chính của họ là hầu hạ Quốc vương, Vương phi và quản lý các công việc lớn nhỏ khác nhau, được chia ra làm các cơ quan lớn nhỏ khác nhau. Những nữ quan đứng đầu các bộ phận, được gọi chung là các ["Thượng cung"; 尙宮; 상궁].

Do quy định cố định, một cung nữ phục vụ tối thiểu 30 năm trong cung mới có thể trở thành Thượng cung, nên đa phần đều trên 40 tuổi, trẻ nhất cũng phải hơn 35 tuổi nếu họ là các cung nữ vào cung từ khoảng 5 tuổi. Theo quy định, họ không thể kết hôn và phục vụ cho vương thất đến khi chết. Xuất thân của họ rất đa dạng, đa phần là nữ tỳ trong phủ quan lại tiến cử đưa vào cung hoặc là tầng lớp trung lưu có truyền thống làm việc trong cung. Gần như không có một nữ quan nào tiêu biểu được biết đến ở Triều Tiên, vì họ phụng sự đến già và lặng lẽ. Các Thượng cung khi đến tuổi già, trở về nhà và tiến cử con cháu trong nhà của mình lên nối chức, có rất nhiều gia tộc đời đời vào cung. Những cung nữ ngẫu nhiên cũng có thể được sủng hạnh, lúc này bất chấp họ chưa đủ tuổi hay thâm niên lâu, đều được gọi là ["Thừa Ân Thượng cung"; 승은상궁; 承恩尙宮].

Chế độ Nội mệnh phụ hà khắc khiến tôn ti rất rạch ròi. Trương Hy tần nổi tiếng, vốn là con gái tội thần, sau vào làm cung nữ và chiếm trọn sự sủng ái của Triều Tiên Túc Tông, đi lên từ Thừa Ân Thượng cung rồi Tần. Về sau bà từng làm Vương phi và sinh ra Triều Tiên Cảnh Tông. Sự kì tích không dễ thấy này khiến Trương Hy tần trở thành hậu cung nổi tiếng nhất lịch sử Triều Tiên.

Lịch sử Châu ÂuSửa đổi

Trong các quốc gia Châu Âu, tương tự Nữ quan có thể kể đến [Lady-in-waiting] hay [Court lady], có thể dịch theo Hán Việt như là Thị tùng (侍從) hay Nữ thị (女侍), tức "những người hầu gái túc trực và hộ tống".

Vai trò của các Lady-in-waiting tại triều đình Châu Âu rất đặc thù, họ đều xuất thân từ tầng lớp quý tộc, ngoại quốc hoặc bản địa, chuyên phục vụ như một người bạn cho Nữ vương, Vương hậu và các Vương nữ xuất thân từ vương thất. Xuất thân của các Lady-in-waiting chỉ yêu cầu phải thấp hơn người mà mình phục vụ, và địa vị của họ khác kiểu hầu hạ như người hầu (cung nữ), mà thiên về kiểu thư ký riêng hơn. Chế độ Lady-in-waiting của Châu Âu phức tạp hay đơn giản cũng tùy quốc gia, điển hình như nước Anh thì chia ra một vài phân loại khác nhau, như:

  • Mistress of the Robes: đứng đầu các Lady-in-waiting. Phụ trách lưu giữ trang sức và quần áo của Nữ vương và Vương hậu. Công chúa không thể có Lady-in-waiting đạt danh vị này.
  • First Lady of the Bedchamber: đứng đầu nhóm Lady-in-waiting được gọi là Ladies of the Bedchamber. Xuất thân của họ đều phải là nữ quyến trong một gia đình đại quý tộc. Đây là những Lady-in-waiting cấp cao nhất mà công chúa có thể có được.
  • Woman of the bedchamber: một nhóm Lady-in-waiting. Xuất thân đều phải là con gái của quý tộc [Peer], tức những người có tước vị chính thức.
  • Maid of honour: danh từ "maid" đều chỉ đến các thiếu nữ trẻ và chưa chồng, do đó họ đa phần đều là tiểu thư mới vào. Xuất thân của họ thông thường không quá cao.

Chế độ cụ thểSửa đổi

Trung QuốcSửa đổi

Quy chế về nữ quan ở Trung Quốc rất rõ ràng, thời Lưu Tống đã đặt định rất cụ thể. Đến đời Tống-Minh phỏng lại chế độ quan chức, ngạch nội quan thì tạo lập chế độ nữ quan. Nhất phẩm là Hậu cung thông doãn: tử cực hộ chủ, quang hưng hộ chủ, tổng quản nội cung. Nhị phẩm là Hậu cung liệt tự: tử cực trung giám doãn đẳng, hệ phó thủ. Tam phẩm là Hậu cung tư nghi: tư chính đẳng. Tứ phẩm là các chức Hậu cung Đô chưởng.

Thời Bắc Ngụy, có Nội ti (內司); gồm Thượng thư lệnh (尚書令) và Thượng thư bộc (尚書僕); Tác ti (作司), Đại giám (大監), Nữ thị trung (女侍中) đều hàm Chính nhị phẩm; Giám (監), Nữ thượng thư (女尚書), Mỹ nhân (美人), Nữ sử (女史), Nữ hiền nhân (女賢人), Thư sử (書史), Thư nữ (書女), Tiểu thư nữ (小書女) đều vị Tam phẩm; Trung tài nhân (中才人), Cung nhân (供人), Trung sử (中使), Nữ sinh tài nhân (女生才人), Cung sử cung nhân (恭使宮人) vị Tứ phẩm; Xuân y (春衣), Nữ tửu (女酒), Nữ hưởng (女饗), Nữ thực (女食), Hề quan nữ nô (奚官女奴) đều vị Ngũ phẩm.

Nhà Đường thời kì, hậu cung phản chiếu Lục bộ mà thiết lập Lục cục (六局), về sau ảnh hưởng sau rộng, là hình mẫu chế độ Nữ quan mà Tống Minh noi theo. Trong Lục cục, đứng đầu là Lục thượng (六尚), tương tự Thượng thư, đều là Chính ngũ phẩm. Trong mỗi cục lại có 4 Ti (司), hàm Chánh lục phẩm; giúp mỗi Ti là Điển (典), hàm Chánh thất phẩm và Chưởng (掌), hàm Chánh bát phẩm; tên các Điển và Chưởng đều gọi theo tên của Ti, có tổng cộng 24 Ti (Nhị thập tứ Ti; 二十四司).

Lục cục Nữ quan:

  • Thượng cung cục (尚宮局): nắm giữ mọi việc chung trong cung. Cơ cấu gồm: Ti kí (司記); Ti ngôn (司言); Ti bộ (司簿); Ti vi (司闈); Lục cục xuất nạp văn tịch đều phải thông qua Thượng cung cục này.
  • Thượng nghi cục (尚儀局): nắm giữ lễ nghi trong cung. Cơ cấu gồm: Ti tịch (司籍); Ti nhạc (司樂); Ti tân (司賓); Ti tán (司贊); ngoài ra còn có hai Đồng sử (彤史) hàm Chánh lục phẩm và hai Nữ sử (女史) giúp việc.
  • Thượng phục cục (尚服局): quản lý các đồ đạc như lễ phục, lễ khí, thang mộc của hoàng gia và thị vệ. Cơ cấu gồm: Ti bảo (司寶); Ti y (司衣); Ti sức (司飾); Ti trượng (司仗);
  • Thượng thực cục (尚食局): quản lý vấn đề ăn uống trong cung, ngoài ra còn quản lý rượu và y dược. Cơ cấu gồm: Ti thiện (司膳); Ti uấn (司醞); Ti dược (司藥); Ti xí (司饎);
  • Thượng tẩm cục (尚寢局): quản lý long sàn, mành trướng, đèn đuốc, các món vật nội thất. Cơ cấu gồm: Ti thiết (司設); Ti dư (司輿); Ti uyển (司苑); Ti đăng (司燈);
  • Thượng công cục (尚功局): quản lý các vấn đề về nữ công, sửa chữa và tạo ra đồ đạc hoặc y phục. Cơ cấu gồm: Ti chế (司制); Ti thải (司彩); Ti trân (司珍); Ti kế (司計);

Ngoài ra còn có các chức ngoài Lục cục như: Cung chính (宮正) hàm Chính ngũ phẩm; Ti chánh (司正) hàm Chánh lục phẩm; Điển chánh (典正) hàm Chánh thất phẩm; có nhiệm vụ xử xét sai trái của Nữ quan và Cung nữ, phụ giúp có 4 Nữ sử (女史). Ngoài ra còn có A giám (阿監) và Phó giám (副監), trật Chánh thất phẩm. Bên cạnh đó triều Đường còn có Văn Học quán (文學館), do các Nữ quan có học thức đảm nhiệm, sẽ được thăng làm Học sĩ (學士), phụ trách giảng dạy phi tần và cung nhân kiến thức.

Triều đại nhà Minh, thiết lập [Lục cục nhất Ti; 六局一司], Lục cục có: Thượng cung, Thượng nghi, Thượng phục, Thượng thực, Thượng tẩm, Thượng công. Nhất ti tức Cung chính, đều vị Chính ngũ phẩm. Mỗi cục có 4 Ti, và đều do Thượng cung quản lý toàn bộ, ngoài ra còn thiết đặt Nữ sử gồm 18 người[8]. Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương xuất phát từ mục đích "cường hóa hoàng quyền", đối với chế độ Nữ quan cực kỳ coi trọng, tiến tới đem cái chế độ đồ sộ này nạp vào bên trong hệ thống quân chủ chuyên chế. Cơ cấu Nữ quan triều Minh, ngoại trừ tham khảo và hấp thu chế độ từ các triều trước, lại phỏng theo triều Đường mà tăng trí Cung chính ti, lại thêm thiết đặt các cấp Nữ sử, công năng càng kiện toàn cùng hệ thống càng đồ sộ.

Chế độ nhà Minh cũng theo nhà Đường, đều tuyển con nhà dân gian có học thức, gia cảnh trọng sạch để trực tiếp dùng lễ đưa vào cung. Gia đình của họ sẽ được miễn lao dịch, chi phí đi đường cũng do triều đình thu xếp. Ví dụ năm Hông Vũ thứ 5, tuyển phụ nữ hai phủ Tô Châu và Hàng Châu, được 44 người nguyện vào cung, thụ Nội chức, nên gia đình miễn lao dịch. Vào đời Hồng Vũ, đa phần tuyển chọn từ 30 tuổi trở lên, dưới 40 tuổi đều nhất thiết chưa chồng, nhưng nếu ở góa hay là ế thì vẫn được. Bên cạnh đó, tuyển Nữ quan và tuyển Cung nữ là hoàn toàn khác nhau, như Nữ quan cần thiết là phải biết đọc chữ cùng thông hiểu phép tính. Có thể nói, nhà họ có thể nghèo, nhưng đều phải có tri thức – yêu cầu tiên quyết để làm Nữ quan. Vào thời điểm nhà Minh cai trị, đa phần đều tuyển Nữ quan tại Giang Nam, do phụ nữ Hà Bắc phần nhiều đều không biết chữ nghĩa[9][10].

Sang thời nhà Thanh, xử lý nội vụ đều do Nội vụ phủ cai quản, hệ thống Nữ quan tuy từng được đề cập trên văn bản thời Thuận Trị, song lại không có tiến hành, hay tiến hành không rõ ràng. Dẫu vậy, khái niệm Nữ quan vẫn tồn tại để chỉ các Ngoại mệnh phụ tham gia trong các dịp đại lễ.

Nhật BảnSửa đổi

Cơ quan của các nữ quan gọi là Hậu cung thập nhị ti (後宮十二司; こうきゅうじゅうにし), có nhiệm vụ hầu hạ Thiên hoàng và hoàng thất Nhật Bản, phân biệt mười hai ty gồm: Nội thị ty (内侍司), Tàng ty (藏司), Thư ty (書司), Dược ty (藥司), Binh ty (兵司), Xiển ty (闡司), Điện ty (殿司), Tảo ty (掃司), Thủy ty (水司), Thiện ty (膳司), Tửu ty (酒司), Phùng ty (縫司).

Trong đó, Nội thị ty (内侍司), còn gọi Thượng thị sở (尚侍所) là cơ quan dành cho các nữ quan cao cấp, với nhiệm vụ gần như là một thư kí thân cận của Thiên hoàng. Do thân phận như vậy, đối với người đảm nhiệm đòi hỏi có trình độ cao về lễ nghĩa và kiến thức. Ngoài ra, chiếc gương Yata no Kagami (Bát Chỉ Kính; 八咫鏡), một trong Tam chủng thần khí do Nội thị ti phụ trách bảo quản. Nữ quan thuộc Nội thị ty gồm:

  • Thượng thị (ないしのかみ, 尚侍), hai người, hàm Tòng tam phẩm hoặc Tòng ngũ phẩm; trưởng quan phụ trách quản lý hậu cung thập nhị ty.
  • Điển thị (ないしのすけ, 典侍), bốn người, hàm Tòng tứ phẩm hoặc Tòng lục phẩm; nữ quan phụ tá giúp việc cho Thượng thị.
  • Chưởng thị (ないしのじょう, 掌侍), hai người, hàm Tòng ngũ phẩm đến Tòng thất phẩm.
  • Nữ nhụ (にょじゅ, 女孺), giúp việc trong Ti, vô hạn định.

Còn ngoài ra, các Ti còn lại đều có một Thượng, hàm Tòng lục phẩm; hai người Điển, hàm Tòng bát phẩmNữ nhụ vô hạn định. Ngoài ra, còn có một số chức vụ khác, như:

  • Ngự Hạp điện Biệt đương (みくしげとののべっとう, 御匣殿別当), trưởng quan của Ngự Hạp điện (みくしげどの), trông nom việc phục sức của Thiên hoàng, thường do những nàng hầu được Thiên hoàng ân sủng đảm nhiệm.
  • Nữ tàng nhân (にょくろうど, 女蔵人).
  • Thái nữ (うねめ, 采女), thị tỳ hầu hạ trong hậu cung.

Thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, nội cung thành Edo được biết đến với tên gọi Ōoku (Đại áo, おおおく, 大奥), một xã hội thu nhỏ tập hợp hơn một ngàn nữ nhân, được thành lập bởi Shōgun Hidetada. Từ người vợ chính thất tới các cung tần mỹ nữ, người hầu kẻ hạ trong Ōoku gọi chung là Áo nữ trung (おくじょちゅう, 奥女中), giữ nhiệm vụ phụng sự Tướng quân và gia tộc Tokugawa.

Những tổng quản hầu hạ gia đình Tướng quân có trách nhiệm quản lý các công việc lớn nhỏ trong Ōoku, giữa các tổng quản cũng phân chia thứ bậc:

  • Thượng lạp Ngự niên ký (上臈御年寄; じょうろうおとしよりJōrō Otoshiyori): xuất thân từ giới quý tộc tại kinh đô Kyoto, chịu trách nhiệm bảo trợ, cố vấn cũng như đảm nhiệm việc lễ nghi trong Ōoku. Mặc dù trên danh nghĩa, Tổng quản Thượng lạp Ngự niên ký có quyền lực rất cao nhưng trên thực tế không có thực quyền nhiều bằng Tổng quản Ngự niên ký.
  • Ngự niên ký (御年寄; おとしよりOtoshiyori): xuất thân từ tầng lớp Samurai thượng cấp, người có quyền lực tối cao tại Ōoku, quản lý mọi thứ trong Ōoku.

Một số tước vị khác:

  • Ngự trung lạp (御中臈; おちゅうろうOchūrō): nữ quan phục vụ Ngự đài sở và hay được tuyển chọn làm hầu thiếp cho Tướng quân.
  • Trung lạp (中臈; ちゅうろうChūrō): hầu cận Ngự đài sở, dự tuyển làm hầu thiếp của Shōgun.
  • Trung niên ký (中年寄; ちゅうどしよりChūdoshiyori): nữ quan phụ tá của Ngự niên ký.
  • Ngự khách ứng đáp (御客應答, おきゃくあしらいOkyakuashirai): phụ trách tiếp đãi các nữ quyến thuộc các dòng nhánh Tokugawa của Shogun.
  • Ngụ phường chủ (御坊主; おぼうずObōzu): nữ quan phụ trách chuẩn bị vật tùy thân cho Shogun, có thể đi lại giữa Đại Áo, Trung Áo và Biểu Gian.
  • Ngự đĩnh khẩu (御錠口; おじょうぐちOjōguchi): nữ quan canh giữ cửa Ngự Linh lang hạ, là chính môn tại Ōoku.
  • Ngự tiểu tính (御小姓; おこしょうOkoshō): các thiếu nữ độ tuổi từ 7 tới 16 tuổi hầu cận Ngự đài sở.
  • Ngự thứ (御次; おつぎOtsugi): phụ trách quét dọn, di chuyển lễ phẩm, chuẩn bị bữa ăn và lưu trữ đồ vật của Shogun. An bài các tiết mục du nghệ khánh điển.
  • Biểu sử (表使; おもてづかいOmotezukai): giúp việc cho Ngự niên ký, phụ trách sở nhu vật phẩm của Ōoku.
  • Ngự hữu bút (御右筆; ごゆうひつGoyūhitsu): phụ trách văn thư, kiểm tra cống phẩm.
  • Thiết thủ thư (切手書; きってがきKittegaki): phụ trách ghi chép tình hình ra vào Ōoku.
  • Ngô phục chi gian (吳服之間; ごふくのまGofukunoma): phụ trách làm y phục cho cả Ōoku.
  • Ngự tam chi gian (御三之間; おさんのまO-sannoma): tạp dịch cho Ngự niên kí.

Việt NamSửa đổi

Trước triều đại nhà Nguyễn, lịch sử Việt Nam không có ghi chép cụ thể và chi tiết chức vụ cũng như cấp bậc của các nữ quan, dù có ghi nhận một vài nữ quan ưu tú. Sang thời Nguyễn, cứ theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ mới có ghi chép cụ thể, cứ theo đó thì ta biết rằng hệ thống nữ quan và cung nữ được gọi là Lục thượng (六尚), tương đồng quy chế thời Đường. Người đứng đầu hệ thống này chính là các phi tần. Thời Thiệu Trị, Nghi Thiên Chương Hoàng hậu Phạm thị, khi ấy còn là Quý phi, đã được giao trọng trách cai quản viện Thượng nghi, cũng như Nhiếp quản lục thượng. Thời Tự Đức, Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên cai quản Lục thượng. Sau vì việc quản lý của bà chưa được chu toàn, cung nhân tiến cơm trưa chậm làm trái ý vua nên bị giáng làm Trung phi, tước bỏ quyền cai quản Lục thượng.

Thời Đồng Khánh, Hoàng quý phi Nguyễn Hữu Thị Nhàn được ban kim bài chiều ngang khắc chữ “Đồng Khánh sắc tứ”, chiều dọc khắc chữ “Kiêm nhiếp lục viện”. Giai phi Phăn Văn thị cũng được phong làm Quyền nhiếp lục viện, cai quản lục viện cùng Hoàng quý phi. Còn Quán phi Trần Đăng thị, Chính tần Hồ Văn thị, Nghi tần Nguyễn Văn thị, Dự tần Trần Văn thị cũng được phân ra cai quản Lục thượng viện. Sau vì cư xử không đúng mực, Quán phi, Chính tần và Nghi tần bị giáng xuống làm Tùy tần, Mỹ nhân và Tài nhân cũng như mất quyền cai quản Lục thượng.

Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), sau khi ban bố 9 bậc phi tần, Vua Thánh Tổ còn cho đặt Lục thượng ty (六尚司) do các phi tần kiêm chức nữ quan đảm nhiệm, định rõ chức phận giữ nội chính cho được tề chỉnh, lúc này thứ tự có:

  • Thượng nghi (尚儀), giữ nghi lễ tiết văn.
  • Thượng trân (尚珍), giữ châu ngọc quý báu.
  • Thượng khí (尚器), giữ những đồ đạc quý.
  • Thượng phục (尚服), giữ chầu, nệm, giường, màn.
  • Thượng thực (尚食), giữ các loại bánh trái quà mọn.
  • Thượng y (尚衣), giữ việc áo xiêm.

Quản lý Lục thượng ty này lại chia làm các bậc nữ quan, bao gồm:

  1. [Thủ đẳng; 首等], tức Bậc đầu, là chức Quản sự (管事) của Lục thượng, cùng Tư nghi (司儀) và Tư trân (司珍).
  2. [Thứ đẳng; 佽等], tức Bậc thứ, là chức Thống sự (統事) của Lục thượng, cùng Tư hương (司香) và Tư khí (司器).
  3. [Trung đẳng; 中等], tức Bậc giữa, là chức Thừa sự (承事) của Lục thượng, cùng Tư y (司衣) và Tư thảng (司帑).
  4. [Á đẳng; 亞等], tức Bậc á, là chức Tùy sự (隨事) của Lục thượng, cùng Quản ban (管班) của các ban.
  5. [Hạ đẳng; 下等], tức Bậc dưới, là chức Tòng sự (從事) của Lục thượng, cùng Lãnh ban (領班) của các ban.
  6. [Mạt đẳng; 末等], tức Bậc cuối, có chức Mục (目; tương đương Trưởng ban) của các ban và Cung nô Đầu mục (宮奴頭目).

Trong Hội điển cũng ghi lại, quản lý mọi việc là bậc Thủ đẳng, thâu tóm mọi việc là bậc Thứ đẳng, thừa hành mọi việc là bậc Trung đẳng, còn Á đẳng trở xuống là lệ thuộc trực tiếp trong phạm vi mỗi ban, các ban đều có lịch trình riêng phân biệt nhau, gồm 8 ban là: ban Thiều Quang, ban Thuỵ Nhật, ban Kim Hoa, ban Hương Cẩm, ban Tường Loan, ban Nghi Phượng, ban Tiên Quếban Ngọc Mai. Vào lúc này thì từ bậc Thủ đẳng đến bậc Hạ đẳng, khi sách phong đều ban cáo sắc bằng giấy Long tiên trục[11]. Bậc Mạt đẳng, do bộ Lễ tuyên sắc, và từ bậc Hạ đẳng trở lên nếu có thự hàm, thì cho các sắc chỉ tuyên phong đều dùng giấy Hội sao. Sau khi viết các trục cáo sắc cho nữ quan, đều để vào trong hòm gỗ màu đỏ son, các quan bộ Lễ giao cho Cung giám (tức các quan thái giám), rồi từ Cung giám truyền cho nữ quan ấy nhận lĩnh. Các nữ quan kính nhận, để trên hương án, làm lễ 3 lần quỳ, 6 lần vái. Về sau nếu có cáo sắc nhận ơn, đều đến trước mặt Hoàng đế làm lễ 3 lạy 6 vái như trên. Khi bị giáng chức, thì do Cung giám trực tiếp truyền chỉ.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Vua Hiến Tổ cho dụ đổi cách gọi Lục thượng ty thành Lục thượng viện (六尚院), lại cho đặt thêm các cơ quan nhỏ trong Lục thượng để cai quản tỉ mỉ và trực tiếp hơn so với khi trước. Hoàn thiện thêm chế độ Lục thượng gồm:

  • Thượng nghi (尚儀), coi việc giữ giấy tờ trong nội cung. Trong đó chia ra các bậc quản lý:
Bậc đầu gọi là Chưởng nghi (掌儀), Chưởng lễ (掌禮). Bậc thứ gọi là Tư hương (司香), Tư chương (司章). Bậc trung gọi là Điển thư (典事), Điển hàn (典翰).
  • Thượng diên (尚筵), đổi từ Thượng thực, hầu ngự thiện và phụng tiến các thức ăn. Trong đó chia ra các bậc quản lý:
Bậc đầu gọi là Chưởng diên (掌筵), Chưởng yến (掌宴). Bậc thứ gọi là Tư trà (司茶), Tư thiện (司膳). Bậc trung gọi là Điển soạn (典僎), Điển dao (典醪).
  • Thượng trân (尚珍), coi giữ ngọc châu, trân bảo. Trong đó chia ra các bậc quản lý:
Bậc đầu gọi là Chưởng châu (掌珠), Chưởng ngọc (掌玉). Bậc thứ gọi là Tư kim (司金), Tư ngân (司銀). Bậc trung gọi là Điển hoàn (典鍰), Điển mân (典緡).
  • Thượng y (尚衣), phụng hầu mũ áo và coi giữ xiêm y bốn mùa. Trong đó chia ra các bậc quản lý:
Bậc đầu gọi là Chưởng bào (掌袍), Chưởng cừu (掌裘). Bậc thứ gọi là Tư y (司衣), Tư phi (司緋). Bậc trung gọi là Điển nhu (典襦), Điển chẩn (典袗).
  • Thượng phục (尚服), coi việc màn trướng. Trong đó chia ra các bậc quản lý:
Bậc đầu gọi là Chưởng duy (掌帷), Chưởng vi (掌幃). Bậc thứ gọi là Chưởng thường (掌裳), Chưởng đới (掌帶). Bậc trung gọi là Điển khâm (典衾), Điển nhục (典褥).
  • Thượng thảng (尚帑), vốn là Thượng khí, coi giữ nội khố. Trong đó chia ra các bậc quản lý:
Bậc đầu gọi là Chưởng trân (掌珍), Chưởng ngoạn (掌玩). Bậc thứ gọi là Tư thảng (司帑), Tư khí (司器). Bậc trung gọi là Điển cẩm (典錦), Điển thái (典采).

Cũng trong năm Thiệu Trị thứ 3, cũng xuống dụ cho đổi tên một số cơ quan: Điển soạn của Thượng diên thành Điển tư (典司); Tư kimTư ngân của Thượng trân đổi thành Tư cung (司供), Tư trân (司珍); Điển hoàn cùng Điển mân cũng đổi thành Điển kim (典金), Điển ngân (典銀).

Triều TiênSửa đổi

Các nữ quan đều phục vụ gọi chung là Nội mệnh phụ. Đối với các hậu cung, được Quốc vương sủng hạnh và hạ sinh con cái sẽ được gọi là Nội quan, còn các cung tì phục vụ mọi việc sẽ được gọi là Cung quan. Các cấp bậc cung quan được quy định rất chặt chẽ.

Hai vị trí cao nhất, thuộc hàm Chính ngũ phẩmThượng cung (尙宮, 상궁) và Thượng nghi (尙儀, 상의), họ là các nữ quan phục vụ trực tiếp cho vương thất. Một cung nữ ở lâu trong cung, giàu kinh nghiệm sẽ được phong làm Thượng cung. Tuỳ theo vị trí và nhiệm vụ, giữa các Thượng cung với nhau sẽ có phân chia thứ bậc, ví dụ như:

Tên gọi Phiên âm Chữ Hangul Chữ Hán Vai trò
Đề điều Thượng cung Jejo sanggung 제조상궁 提調尙宮[12] Là Thượng cung có địa vị cao nhất trong số các Thượng cung, quản lý các Thượng cung cùng các cung nữ, có ảnh hưởng trong hậu cung. Họ phục vụ nhà vua với nhiều nội quan khác trong cung, nhận lệnh của nhà vua và có quyền lực chính trị.

Đề điều thượng cung chỉ có một người nhưng điều kiện để có thể trở thành Đề điều thượng cung phải là người xuất chúng nhất và thuộc nhóm những cung nữ thâm niên, có học vấn (thường là người thông thạo kinh thư) cũng như phải có năng lực lãnh đạo xứng tầm để có thể thống lĩnh chúng cung nữ. Nhiệm vụ của Đề điều thượng cung là nhận Ngự mệnh (어명,御命) của Đại điện và quản lý tài sản lớn nhỏ của Nội điện.

Có thể xem Đề điều thượng cung tương đương với Tể tướng ở tiền triều.

Phó Đề điều Thượng cung Bujejo sanggung 부제조상궁 副提調尙宮 Cũng được gọi là A lý khố Thượng cung (Arigo sanggung, 阿里庫尙宮), phụ trách quản lý công khố của hậu cung, là người chỉ xếp sau Đề điều thượng cung. A lí khố là khố phòng ở Nội điện, ở trong đây có chứa những tài sản quý giá được ghi vào danh mục tài sản cá nhân của Đại vương. Những tài sản quý giá gắn liền với ăn – mặc – ở như chén bạc, vật dụng bằng sắt và đồ đồng cùng với các loại vải nhiều màu có khảm đá quý. Tất cả những vật dụng này khi lấy ra và trả lại đều phải qua tay của A lí khố thượng cung.
Chí mật Thượng cung Jimil sanggung 지밀상궁 至密尙宮 Cũng được gọi là Đãi lệnh Thượng cung (Daeryeong sanggung, 待令尙宮), phụ trách việc hầu hạ thân cận với nhà vua và Vương phi cùng Vương đại phi, không bao giờ rời bước, cho nên họ mới được gọi là "Đãi lệnh", có nghĩa là chờ đọi mệnh lệnh.
Bảo mẫu Thượng cung Bomo sanggung 보모상궁 保姆尙宮 Họ có nhiệm vụ chăm sóc các Vương tử và Vương nữ. Theo đó ở Đông cung sẽ có hai người, còn Vương tử và Vương nữ ở những nơi khác thì mỗi nơi một người. Vương tử và Vương nữ khi còn nhỏ sẽ gọi những Bảo mẫu thượng cung này là A chỉ (아지,阿只).
Thị nữ Thượng cung Sinyeo sanggung 시녀상궁 侍女尙宮 Họ có nhiều nhiệm vụ rải rác trong khắp Nội viện, nhưng nhìn chung thường ngày sẽ làm việc ở những nơi phòng Chí mật.

Thị nữ thượng cung đảm nhiệm việc quản lý thư tịch, tuyên đọc các loại sách quan trọng trong các ngày lễ tiết. Những người viết chữ đẹp thì đảm nhận viết sách và phụ trách tấu thỉnh những việc khác. Còn trong các buổi tiệc lớn nhỏ sẽ được chia ra làm Thị nữ thượng cung phục vụ yến tiệc, Thị nữ thượng cung dâng thiện thực và Thị nữ thượng cung dâng rượu. Ngoài việc quản lý những vật dụng khác như chén bát thì Thị nữ thượng cung còn quản lý các từ đường và cũng chịu trách nhiệm khóc tang.

Cuối cùng, Thị nữ thượng cung như là một Đặc sứ của Đại vương và Vương phi khi nhà mẹ của Vương phi có chuyện lớn thì nhận ngự mệnh rồi đến đó giải quyết.

Giám sát Thượng cung Gamchal sanggung 감찰상궁 監察尙宮[13] Họ có nhiệm vụ đánh giá và trừng phạt các cung nữ. Đối tượng giám sát thường là những cung nữ trẻ tuổi và các cung nữ tập sự mà không tính những Thượng cung thâm niên.

Các hình phạt nhẹ thì có thể bị xử bóp chân và nặng có thể bị lưu đày. Những người sống trong cung đều là các gia đình độc lập nên ở mỗi cung điện đều được bố trí hai Giám sát.

Nhất ban Thượng cung Ilban sanggung 일반상궁 一般尙宮 Đây là những người chưa được ban chức danh như những Thượng cung trên. Thường thì ở mỗi bộ phận sẽ có 7 đến 8 người nên họ có trách nhiệm quản lý những Nội nhân thuộc cấp và đảm nhiệm tất cả công nhận ở bộ phận sở thuộc.

Cũng có trường hợp một cung nữ trẻ tuổi được vua sủng ái nhưng chưa sinh dục con cái, đều được sắc phong làm Thượng cung. Khi đó họ đứng hàng cao nhất trong Chính ngũ phẩm, được gọi là Thừa ân Thượng cung (承恩尙宮, 승은상궁). Tuy nhiên, Thừa Ân thượng cung không được tính vào Vương thất hay Nội quan. Mỗi Thừa ân Thượng cung sẽ được ban cho một Thượng cung khác để hầu hạ. Do tính chất này, họ còn được gọi là Đặc biệt Thượng cung (특별상궁; 特別尙宮).

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《舊唐書·列傳第十四》:「(李)元名保傅等謂元名曰:『尚宮品秩高者,見宜拜之。』元名曰:『此我二哥家婢也,何用拜為?』」
  2. ^ Lillehoj, tr. [cần số trang]
  3. ^ Rowley, tr. [cần số trang]
  4. ^ Lebra, tr. [cần số trang]
  5. ^ Lê Thái Dũng (8 tháng 5 năm 2012). “Người phụ nữ đầu tiên được phong làm quan”. Chuyên trang Phụ nữ & Đời sống (phunutoday.vn) của báo điện tử nguoiduatin.vn. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2013. 
  6. ^ Lịch sử và đặc điểm nghề hát Chèo Việt Nam
  7. ^ Xem cuốn Non Nước Việt Nam, mục Nghệ thuật sân khấu truyền thống
  8. ^ 明太祖洪武五年,立六局一司。六局為;尚宮、尚儀、尚服、尚食、尚寢、尚功,一司為;宮正,皆位正六品。每一局管領四司,其屬二十有四,而尚宮總行六局之事。官七十五人,女史十八人。
  9. ^ 沈德符:《万历野获编·补遗》卷1: 明朝的女官多从民间女子中选拔,被选入宫的女官,宫廷将减免其家庭的徭役,并由朝廷承担她们在路上的费用。“洪武五年(1372年),选苏杭二府妇女,愿入宫者四十四人,授内职,捐其家徭役。其三十人年未二十,各赐白金遣还,任其适人。”“洪武十四年(1381年),敕谕苏松嘉湖及浙江江西有司,民间女子年十三岁以上、十九岁以下,妇人年三十岁以上,四十岁以下,无夫者,愿入宫备使,令各给钞为道里费,送赴京师。盖女子以备后宫,而妇人则充六尚也。”
  10. ^ 《古今图书集成》宫闱典第1卷《宫女部汇考》: 永乐元年,为“补六尚女官,令礼部出榜,不分军民之家,但有识字妇人年三十至四十,愿来者有司起送。若女子识字虽容貌丑陋年十七八以上愿来者听,一体应付脚力,赴京选用,俱父母亲自送来,给与赏赐。照依所授品级给俸,以厚其家,仍免其家杂泛差役”。
  11. ^ Loại giấy có hoa văn rồng, có trục.
  12. ^ “상궁 (尙宮)” (bằng tiếng Triều Tiên). Doosan Encyclopedia. 
  13. ^ http://100.nate.com/dicsearch/pentry.html?s=K&i=255134&v=42