Apple Inc.

tập đoàn công nghệ đa quốc gia của Hoa Kỳ
(đổi hướng từ Apple Inc)

Apple Inc. là một tập đoàn công nghệ của Mỹ có trụ sở chính đặt tại Cupertino, California. Apple được thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1976 dưới tên Apple Computer, Inc., và đổi tên thành Apple Inc. vào đầu năm 2007. Với lượng sản phẩm bán ra toàn cầu hàng năm là 13,9 tỷ đô la Mỹ (2005), 74 triệu thiết bị iPhone được bán ra chỉ trong một quý 4 năm 2014 và có hơn 98.000 nhân viên ở nhiều quốc gia, sản phẩm là máy tính cá nhân, phần mềm, phần cứng, thiết bị nghe nhạc và nhiều thiết bị đa phương tiện khác. Sản phẩm nổi tiếng nhất là máy tính Apple Macintosh, máy nghe nhạc iPod (2001), chương trình nghe nhạc iTunes, điện thoại iPhone (2007), máy tính bảng iPad (2010) và đồng hồ thông minh Apple Watch (2014) hoạt động trên nhiều quốc gia trên thế giới.

Apple Inc.
Loại hình
Công ty đại chúng
Mã niêm yếtNASDAQAAPL, LSE:0HDZ, FWB: APC
Ngành nghềPhần cứng máy tính · Phần mềm máy tính, phụ kiện, thiết bị di động
Thành lập1 tháng 4 năm 1976; 44 năm trước (1976-04-01) (Cupertino, California, Mỹ)
Người sáng lậpSteve Jobs, Steve Wozniak, Ronald Wayne[1]
Trụ sở chínhCupertino, California, Mỹ
Số lượng trụ sở
511 cửa hàng bán lẻ (2018)
Khu vực hoạt độngToàn thế giới
Nhân viên chủ chốt
Tim Cook (CEO)
Sản phẩm
Dịch vụ
Doanh thuTăng 265,595 tỉ US$[2] (2018)
Tăng 70,89 tỉ US$[2] (2018)
Lợi nhuận ròngTăng 59,531 tỉ US$[2] (2018)
Tổng tài sảnGiảm 365,725 tỉ US$[2] (2018)
Tổng vốn chủ sở hữuGiảm 107,147 tỉ US$[2] (2018)
Số nhân viên
132,000[2] (2018)
Công ty conShazam, FileMaker Inc., Anobit, Braeburn Capital, Beats Electronics
Websiteapple.com

Theo bảng xếp hạng do hãng nghiên cứu thị trường toàn cầu Millward Brown thực hiện vào năm 2014, Apple đã bị Google soán ngôi thương hiệu đắt giá nhất thế giới sau 3 năm liên tiếp giữ ngôi quán quân. Theo bảng xếp hạng này, Google xếp vị trí đầu bảng, Apple đứng vị trí thứ hai, tiếp theo lần lượt là IBM, Microsoft, McDonald's, Coca-Cola, Visa,...[3]

Sáng lậpSửa đổi

Ba nhà sáng lập ra Apple là Steve Wozniak, Steve JobsRonald Wayne. Trước khi trở thành đồng sáng lập công ty Apple Computer Inc., Steve Wozniak đã từng là một kỹ sư điện tử và năm 1975, ông bắt đầu tham dự vào Homebrew Computer Club.

Vào thời điểm đó, tổng quát chỉ có hai hãng sản xuất microcomputer-CPU là Intels 8080 giá 179$ và Motorola 6800 giá 170$. Wozniak ưa chuộng phiên bản 6800, nhưng mà không có ý tưởng cho những sản phẩm của họ. Vì vậy ông tự thỏa mãn bằng cách xem xét, học hỏi và thiết kế máy vi tính trên giấy, đến khi ông được lời khuyên cho một cái CPU. Đó là một ý tưởng xuất sắc nhất xảy ra cho thị trường máy tính.

Khi MOS Technologies cho ra sản phẩm nổi tiếng 6502 giá 25$ năm 1976, Wozniak đồng thời bắt đầu phát triển một ấn hành BASIC cho con chip này. Khi ông hoàn thành xong, ông bắt đầu thiết kế một chiếc máy vi tính, cho BASIC có thể chạy được. Phiên bản 6502 đã được thiết kế bởi nhiều người, họ cũng là người thiết kế phiên bản 6800, khi rất nhiều người ở Silicon Valley rời khỏi chỗ làm việc để được độc lập. Wozniaks trước bản vẽ máy vi tính yêu cầu chỉ một chút thay đổi mới có thể chạy được con chip mới này.

Ông hoàn thành xong bộ máy và đem nó theo hội nghị Homebrew Computer Club để trình bày hệ thống của mình. Ở đó ông gặp người bạn cũ là Steve Jobs, người rất thích thú về cơ hội buôn bán trong tương lai của những chiếc máy nhỏ này.

Thời kỳ đầu: 1976–1980Sửa đổi

 
Apple I, sản phẩm đầu tiên của công ty, được bán dưới dạng một bản mạch lắp ráp và thiếu những bộ phận cơ bản như bàn phím, màn hình và vỏ case. Sản phẩm trong ảnh đã được gắn thêm bàn phím và vỏ case.

Apple đã được thành lập vào ngày 1 tháng 4 năm 1976 bởi Steve Jobs, Steve Wozniak, và Ronald Wayne,[1] để bán bộ sản phẩm máy vi tính cá nhân Apple I. Sản phẩm này được xây dựng bởi Wozniak[4][5] và lần đầu tiên được công bố tại Homebrew Computer Club.[6] Apple I được bán bao gồm bo mạch chủ (với CPU, RAM, và chip xử lý đồ họa cơ bản) ít hơn những gì mà chúng ta xem là một sản phẩm máy tính cá nhân hoàn thiện ngày nay.[7] Apple I bắt đầu bán vào tháng 7 năm 1976 với giá thị trường là $666,66 (thời giá 1976, đã điều chỉnh lạm phát).[8][9][10][11][12]

Apple đã hợp nhất vào ngày 3 tháng 1 năm 1977[13] mà không có Wayne, ông ta đã bán lại toàn bộ số cổ phần của mình cho Jobs và Wozniak với số tiền là $800. Một nhà triệu phú Mike Markkula đã giúp đỡ bằng những kinh nghiệm kinh doanh thiết yếu và một khoản đầu tư trị giá $250.000 trong suốt giai đoạn non trẻ của Apple.[14][15]

Những năm tiếp theoSửa đổi

Sau khi trải qua cuộc tranh đấu chức vị giám đốc điều hành với John Sculley giữa năm 1980, Jobs rời khỏi Apple và sáng lập NeXT Computer. Tiếp theo, trong cuộc thử nghiệm để cứu vãn hoạt động của hãng, Apple mua lại NeXT, và lúc này Jobs trở lại vị trí lãnh đạo Apple. Công việc đầu tiên của ông là phát triển iMac, đã cứu sống Apple khỏi cảnh phá sản.

Một dòng máy tính xách tay Macintosh, PowerBook được sản xuất bắt đầu vào năm 1990. Những sản phẩm khác của Apple là ProDOS, Mac OS og A/UX, kết nối sản phẩm AppleTalk và chương trình nghe nhạc QuickTime. Những sản phẩm không được trình bày nữa chẳng hạn như Apple Power Mac G4 CubeApple Newton.

Những sản phẩm mới kết hợp những cái khác Apple AirPort, sử dụng kết nối các loại máy tình khác nhau mà không sử dụng cổng cable. Ngoài ra iBookG5. Năm 1998, Apple thay đổi thiết kế iMac và phát triển đồng thời sản phẩm Mac OS X.

Apple Computer và sản phẩm PowerBook và sau này là iBook và iMac có thể xem phim và TV. Vào thời điểm đó Apple giới thiệu đoạn phim quảng cáo PowerBook, đoạn phim được lấy từ Mission Impossible. Các sản phẩm của Apple còn có các chương trình TV 24 Timer.

Tháng 10 năm 2001, Apple giới thiệu sản phẩm máy nghe nhạc iPod cầm tay. Phiên bản đầu tiên có ổ đĩa 5 GB, và chứa khoảng 1000 bài hát nhưng khá cồng kềnh và không được mọi người chú ý. Jonathan Ive là người thiết kế, và ông đã nâng cấp các thế hệ iPod nhiều lần. Năm 2002 Apple thỏa thuận với các hãng ghi âm về việc bán nhạc trên iTunes Music Store. Với gian hàng này mọi người có thể sử dụng để mà ghi đĩa CD, phân chia và chơi nhạc trên ba máy vi tính và tất nhiên chuyển bài hát lên máy nghe nhạc iPod.

Hơn hai triệu bài hát đầu tiên đã được bán trên iTunes Music Store trong vòng 16 ngày; mọi người mua qua máy Macintosh. Chương trình iTunes cũng hoạt động trên Windows.

Vào ngày 9 tháng 1 năm 2007, Apple chính thức giới thiệu chiếc iPhone đầu tiên của hãng với thiết kế đột phá bằng nhôm và có màn hình cảm ứng điện dung 3.5 inch và hệ điều hành (được gọi là iPhone chạy OS X) mượt mà dễ dùng cùng con chip lõi đơn nhưng chưa chạy được trên băng tần mạng 3G.

Ngày 9 tháng 6 năm 2008, Apple trình làng iPhone 3G, và đúng như cái tên, smartphone này chạy trên băng tần 3G.

Ngày 8 tháng 6 năm 2009, Apple ra mắt iPhone 3GS, chiếc smartphone được nâng cấp đáng kể về phần cứng lẫn phần mềm, nâng cấp camera lên đến 3MP, quay phim 480p và cùng với phần mềm iPhone OS 3 tích hợp chức năng Copy, Paste, chỉnh sửa văn bản dạng kính lúp thông minh, tích hợp La bàn số, Voice Control.

Ngày 27 tháng 1 năm 2010, Apple đã cho ra mắt dòng sản phẩm đột phá mới với những tính năng phục vụ như cầu giải trí: IPad. IPad có thể nói là "mô hình phóng lớn" của IPhone với những tính năng xem phim, nghe nhạc, đọc e-book, sao lưu hình ảnh được sử dụng với công nghệ cảm ứng siêu đặc biệt. iPad được cải tiến với hơn 150.000 ứng dụng cùng với các tính năng lướt web, dò đường, quản lý tài liệu cá nhân,...

Ngày 7 tháng 6 năm 2010, Apple cho ra mắt chiếc iPhone 4, chiếc smartphone thiết kế cao cấp với hai mặt kính và khung kim loại, màn hình độ phân giải cao nhất với độ phân giải 960x640 pixel được gọi là màn hình Retina, cùng với vi xử lý Apple A4 (ARM Cortex A8) mạnh mẽ và bộ nhớ RAM 512MB và camera nâng cấp lớn lên đến 5MP, quay phim 720p với 30 khung hình 1 giây và có đèn LED ở đằng sau, đây cũng là chiếc smartphone được trang bị camera trước với độ phân giải VGA và tính năng gọi video call lần đầu tiên có tên là Facetime độc quyền của Apple.

Ngày 2 tháng 3 năm 2011, Apple cho ra mắt iPad thế hệ thứ 2. So với iPad thế hệ đầu tiên, đây là thiết bị thứ hai trong dòng sản phẩm iPad. Nó có vi xử lý dual core A5 với tốc độ nhanh hơn, một cấu trúc nhẹ hơn, và là iPad đầu tiên có các máy quay mặt trước VGA và mặt sau với phân giải 720p được thiết kế cho cuộc gọi video FaceTime.

Ngày 4 tháng 10 năm 2011, Apple đã làm một sự kiện để cho ra mắt dòng iPhone 4S với chip lõi kép A5 và camera 8MP và tính năng trợ lý ảo Siri thông minh.

Ngày 12 tháng 9 năm 2012, chiếc iPhone 5 được ra đời, là chiếc iPhone có màn hình 4 inch đầu tiên chạy vi xử lý A6 và có 1GB RAM.

Ngày 16 tháng 3 năm 2012, Apple cho ra mắt iPad thế hệ thứ 3. Chiếc iPad 3 này được bổ sung thêm chế độ Retina, con chip A5X, chế độ màn hình HD 1080p, tương tác giọng nói và 4G

Ngày 23 tháng 10 năm 2012, Apple cho ra mắt iPad Mini. Nó biết đến như là thế hệ thứ năm của chuỗi sản phẩm iPad, và là thiết bị đầu tiên xuất hiện với kích thước 7,9 inch, nhỏ hơn so với cỡ 9,7 inch tiền nhiệm. iPad Mini sở hữu cấu hình tương tự iPad 2, kể cả độ phân giải màn hình. iPad mini dựa vào cổng kết nối Lightning của Apple. iPad mini trang bị 2 loa ở 2 bên viền dưới. iPad Mini được trang bị camera trước 1,2 mega pixel có khả năng quay video 720p cùng camera sau 5 megapixel có chức năng lấy nét tự động. Màn hình iPad Mini có độ phân giải 1024x768 pixel(162 ppi). Máy chạy trên hệ điều hành iOS 6.0. iPad Mini sử dụng bộ vi xử lý 2 nhân Apple A5 1 GHz với 512MB RAM. Máy có bộ nhớ trong 16GB, ngoài ra, iPad Mini còn có phiên bản 32GB và 64GB. Máy có kết nối wifi được hỗ trợ mạng 4G LTE. Ở mức độ sử dụng trung bình, liên tục kết nối Wi-Fi cùng với độ sáng ở cấu hình tự động, iPad Mini có thời lượng sử dụng 1,5 ngày sau một lần sạc đầy.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt iPad thế hệ thứ 4. Sản phẩm này bao gồm màn hình Retina, chip Apple A6X mới và cổng Lightning tương tự trên iPhone 5. iPad 4 chạy hệ điều hành iOS 6.0.

Ngày 20 tháng 9 năm 2013, iPhone 5S ra đời, là chiếc iPhone đầu tiên có vi xử lý Apple A7 cấu trúc 64-bit và công nghệ bảo mật cảm biến vân tay có tên là Touch ID cùng khả năng quay video 120 fps. Đồng thời iPhone 5C đa màu sắc ra đời thay thế cho thế hệ iPhone 5 với chip A6, nhưng vỏ nhựa. Nên trên phương diện nào đó thì iPhone 5C chưa thành công.

Ngày 22 tháng 10 năm 2013, Apple cho ra mắt iPad Air. iPad Air được thiết kế mỏng hơn, cùng với một bộ vi xử lý Apple A7 64-bit với bộ đồng xử lý M7.

Ngày 12 tháng 11 năm 2013, Apple lặng lẻ cho ra mắt iPad Mini thế hệ thứ 2. Nó được thiết kế gần giống như iPad Mini thế hệ đầu tiên nhưng có các sửa đổi nội bộ như việc bổ sung chip A7 và màn hình Retina với độ phân giải 2.048 x 1.536.[4] iPad Mini 2 có phần cứng tương tự như người anh em kích cỡ lớn hơn của nó là iPad Air. Apple lặng lẽ phát hành iPad Mini 2 với màu xám và màu bạc ngày 12 tháng 11 năm 2013

Ngầy 9 tháng 9 năm 2014, Apple cho ra mắt iPhone 6 và iPhone 6 Plus. Thế hệ iPhone này được trang bị màn hình hiển thị lớn hơn, bộ xử lý nhanh hơn, camera được nâng cấp, mọi thứ được cải thiện và hỗ trợ dịch vụ thanh toán di động. iPhone 6 và 6 Plus khi mới công bố đã nhận được những đánh giá tích cực về thiết kế, thông số kỹ thuật, camera và thời lượng pin đã cải tiến so với iPhone trước. Đơn đặt hàng của iPhone 6 và 6 Plus đã đạt kỷ lục con số hơn 4 triệu trong vòng 24 giờ đầu tiên. Mười triệu thiết bị iPhone 6 và 6 Plus đã được bán trong ba ngày đầu mở bán chính thức, đánh dấu một kỷ lục khác của Apple. Trong suốt vòng đời của mình, iPhone 6 và iPhone 6 Plus đã bán được tổng cộng hơn 220 triệu chiếc, điều này khiến chúng trở thành mẫu iPhone bán chạy nhất trong lịch sử và luôn đứng trong bảng xếp hạng những chiếc điện thoại thành công nhất mọi thời đại. Thiết kế của iPhone 6 và 6 Plus được xem như là thừa hưởng từ iPad Air, với mặt trước được làm từ kính uốn quanh các cạnh của màn hình và mặt lưng làm từ nhôm có chứa dải nhựa ăng ten. Nhôm có trên mặt lưng máy là loại nhôm series 6000. Cả hai thiết bị đều có màu Gold, Silver và Space Gray. iPhone 6 có độ dày 6,9 mm, trong khi iPhone 6 Plus có độ dày 7,1 mm. Cả hai đều mỏng hơn iPhone 5CiPhone 5S. iPhone 6 là chiếc điện thoại mỏng nhất trên thế giới vào thời điểm ra mắt, và cũng là chiếc điện thoại mỏng nhất của Apple cho đến nay. Để phù hợp với kích thước lớn, nút nguồn của máy đã được chuyển về cạnh phải, thay vì cạnh trên ở các đời iPhone trước. Màn hình là điểm thay đổi lớn nhất trên bộ đôi sản phẩm này. Apple trang bị cho thiết bị màn hình mà hãng gọi là Retina HD Display. iPhone 6 có kích thước màn hình 4,7 inch, tỉ lệ 16:9 với độ phân giải 1334×750 và có mật độ điểm ảnh đạt 326 ppi. Trong khi đó, iPhone 6 Plus có kích thước màn hình 5,5 inch, cùng tỉ lệ 16:9 với độ phân giải 1920×1080 và có mật độ điểm ảnh đạt 401 ppi. Các màn hình đều sử dụng tấm nền LCD đa miền với tên gọi dual-domain pixels, các điểm ảnh RGB sẽ được đặt lệch trong một mẫu, sao cho mọi điểm ảnh đều được nhìn từ các góc khác nhau. Kĩ thuật này giúp cải thiện góc nhìn của màn hình. Cả hai mẫu máy này đều có chip Apple A8 và bộ xử lý chuyển động M8 có sự cải tiến nhỏ từ M7. Sự khác biệt chính giữa M8 và bộ xử lý M7 là M8 bao gồm thước đo để đo lường sự biến đổi độ cao. Phil Schiller đã cho biết rằng chip A8 sẽ đem lại hiệu suất CPU hơn 25%, hiệu suất đồ họa tăng 50% và tỏa nhiệt ít hơn so với chip A7 có trên iPhone 5S. Kết nối LTE trên iPhone 6 và iPhone 6 Plus được chuyển đổi sang LTE Advanced, hỗ trợ hơn 20 băng tần LTE, cho tốc độ tải xuống lên tới 150 Mb/s và hỗ trợ VoLTE. Trải nghiệm Wi-Fi đã được cải thiện với sự hỗ trợ của 802.11ac, cung cấp tốc độ lên tới 450 Mb/s, nhanh hơn gấp 3 lần so với 802.11n. iPhone 6 và 6 Plus được bổ sung thêm hỗ trợ kết nối gần (NFC) nhưng ban đầu nó được sử dụng riêng cho Apple Pay. Kể từ phiên bản iOS 11 đã cho phép sử dụng giao tiếp gần ngoài Apple Pay cho các ứng dụng của bên thứ ba. Camera chính trên hai máy đều có độ phân giải 8 MP, khẩu độ ƒ/2.2, đều là ống kính năm thành phần và đều lồi ra phía sau. Máy có tính năng tự động lấy nét với Auto Focus. Riêng trên chiếc iPhone 6, thiết bị này có khả năng chống rung quang học. Cả hai đều có đèn flash True Tone, HDR Tự động và tự động ổn định hình ảnh. Ống kính thiết bị đều được làm từ tinh thể shappire. Camera trước có độ phân giải 1,2 MP, khẩu độ ƒ/2.2, có thể quay video 720p HD. Nó được cải thiện nhiều về nhận dạng khuôn mặt, tính năng HDR tự động cho ảnh và video. Thiết bị này có thể quay video 1080p HD ở 30 fps hoặc 60 fps. Đối với video Slo-mo, nó có thể hỗ trợ quay ở 120 fps hoặc 240 fps. Có thể thu phóng 3x trong khi quay video. Dung lượng pin iPhone 6 là 1810 mAh, trong khi của iPhone 6 Plus là 2915 mAh. Vào thời điểm phát hành, mọi ứng dụng trên App Store đều phải được viết lại để tương thích với màn hình của bộ đôi này. Riêng iPhone 6 Plus, các nhà phát triển cũng sẽ dành thời gian để viết thêm khi thiết bị này có hỗ trợ hiển thị bố cục kép giống iPad khi xoay ngang. Apple cũng bổ sung các tính năng cho người dùng liên quan tới trải nghiệm dùng một tay.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt Apple Watch Series 1. Một điểm riêng của Apple Watch khiến chúng không bị chê là một phiên bản iPhone thu nhỏ. Thay vì phải thu phóng và vuốt trên một màn hình bé như một chiếc iPhone, người có thể dùng núm xoay kỹ thuật số và chẳng bao giờ lo tay của mình sẽ che hết nội dung hiển thị. Đối với các đồng hồ đeo tay thông minh cùng thời, chúng không rất bất tiện khi đeo không đúng tay. Apple đã giải quyết vấn đề này bằng cách cho chiếc đồng hồ của mình tự động xoay chiều tương ứng giống như chúng ta xoay chiều trên một chiếc iPhone. Một điểm yếu ở các đồng hồ khác cùng thời là ít có ứng dụng nổi bật. Do đó, Apple Watch cũng đã được trang bị hệ điều hành watchOS được xây dựng trên iOS và có kho ứng dụng App Store. Thật bất ngờ khi chúng ta có thể đăng nội dung hoặc xem tin tức trên các mạng xã hội. Thông thường khi nhập văn bản, một bàn phím ảo sẽ xuất hiện. Nhưng khi xuất hiện trên đồng hồ thông minh, chúng chiếm quá nhiều diện tích. Vì vậy, Apple cho người dùng nhập văn bản bằng giọng nói. Điều đáng chú ý ở đây là chiếc đồng hồ này nhận giọng nói cực kỳ chuẩn xác, tự động thêm cả dấu chấm, dấu phẩy một cách hợp lý. Trên chiếc Apple Watch này, nó sẽ có những ứng dụng tập thể dục thể thao chuyên dụng để theo dõi các chuyển động của người dùng và có cả ứng dụng giúp đặt ra mục tiêu luyện tập. Chiếc đồng có thể theo dõi nhịp tim, năng lượng tiêu thụ của người đeo và đưa ra lời khuyên về sức khỏe. Apple Watch có trợ lý ảo Siri. Nó vẫn có thể thực hiện các tác vụ như gọi đồ ăn, đặt vé xem phim, cài đặt báo thức,... Apple Watch mặc dù không tích hợp SIM nhưng nó vẫn có thể gọi thông qua một chiếc iPhone được ghép đôi với nó. Điều đó cần thiết trong trường hợp bạn rất vội và cần một cuộc gọi nhanh ngay trên cổ tay của chính mình. Apple Watch cũng được cá nhân hóa khi chúng ta gắn một dây đeo mới vào nó.

Ngày 16 tháng 10 năm 2014, Apple cho ra mắt iPad Air thế hệ thứ 2. iPad Air 2 mỏng hơn và nhanh hơn so với sản phẩm tiền nhiệm của nó, iPad Air, giới thiệu tính năng mới Touch ID. iPad Air 2 có thiết kế, chiều cao và kích thước màn hình tương tự như iPad Air. iPad Air 2 thừa hưởng phần cứng tương tự iPhone 6iPhone 6 Plus với sự thay đổi lớn về bộ xử lý so với Apple A8X, biến thể 3 nhân cao cấp của Apple A8. iPad Air 2 có 2 GB RAM (biến iPad Air 2 trở thành thiết bị iOS đầu tiên có RAM hơn 1 GB) và GPU PowerVR 8 nhân. Nó cũng sử dụng bộ đồng xử lý chuyển động Apple M8 có áp kế và là thế hệ đầu tiên của iPad thừa hưởng cảm biến vân tay Touch ID từ iPhone. Ngoài ra, so với iPad Air, nó bao gồm một camera phía sau 8 megapixel (3264 × 2448) được cải tiến với chế độ chụp liên tục 10 fps và video slow motion ở tốc độ 120 khung hình/giây, tương tự như camera của iPhone 5S. Camera FaceTime HD ở mặt trước cũng đã được cải tiến với khẩu độ ƒ/2.2 lớn hơn, cho phép thu được ánh sáng nhiều hơn 81%. Apple đã thêm tùy chọn màu vàng cho các lựa chọn màu xám không gian và bạc hiện có cho iPad Air 2, các màu hiện có trước đây đã được sử dụng trên iPad Air trước đó. Không giống như những người tiền nhiệm iPad của nó, cần gạt tắt tiếng/khóa xoay đã được loại bỏ để giảm độ mỏng. Thay vào đó, người dùng phải sử dụng đến Trung tâm điều khiển để truy cập các chức năng này. Nó có pin nhỏ hơn một chút so với iPad Air, mặc dù Apple tuyên bố thời lượng pin 10 giờ như trước đây. iPad Air 2 có sẵn trong các tùy chọn lưu trữ 16, 32, 64 hoặc 128  GB mà không có tùy chọn lưu trữ mở rộng. Apple đã phát hành một "bộ kết nối máy ảnh" với đầu đọc thẻ SD, nhưng nó chỉ có thể được sử dụng để chuyển ảnh và video sang iPad.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt iPad Mini thế hệ thứ 3. Nó sử dụng chủ yếu là các thiết kế tương tự và phần cứng như người tiền nhiệm, iPad Mini 2. Một tính năng mới được thêm vào là cảm biến Touch ID tương thích với Apple Pay, khác nhau về dung lượng và có sẵn màu vàng, cũng như các màu trước đó.

Ngày 9 tháng 9 năm 2015, bộ đôi iPhone 6SiPhone 6S Plus ra đời với kích thước màn hình giống với iPhone 6/6 Plus, cùng với chip A9 cùng với tốc độ đọc ghi dữ liệu nhanh hơn cả bộ nhớ UFs 2.0, camera được nâng lên 12MP với khả năng quay video 4K và chế độ Live Photos kèm tính năng Retina Flash khi chụp hình bằng camera FaceTime 5MP về đêm, lần đầu tiên iPhone 6S/6S Plus được trang bị cảm ứng lực mang tên 3D Touch và có thêm màu vàng hồng cùng với các màu còn lại như vàng, bạcxám không gian, và iPad Pro là sản phẩm vô cùng mạnh mẽ với vi xử lý A9X 64-bit cùng bộ nhớ RAM 4GB với kỳ vọng thay thế laptop = tablet. Cùng với đó, iPad Mini thế hệ thứ 4 ra mắt. Trong khi iPad Air 2 và iPad Mini 3 đều được phát hành vào tháng 10 năm 2014, Mini 3 chỉ được trang bị linh kiện của Mini 2 bao gồm vi xử lý A7 thay cho phần cứng của iPad Air 2. iPad Mini 4 có thông số kỹ thuật được nâng cấp gần hơn với iPad Air 2. Tuy nhiên Mini 4 có vi xử lý nhân kép A8 thay cho ba nhân trên A8X. Apple tuyên bố rằng vi xử lý "nhanh hơn 1,3 lần" ở các tác vụ CPU và "nhanh hơn 1,6 lần" ở các tác vụ đồ họa so với vi xử lý A7 trong các mẫu Mini trước đây. Cùng với iPad Air 2, Mini 4 có 2 GB RAM, cho phép thiết bị hỗ trợ các tính năng đa nhiệm nâng cao có sẵn với hệ điều hành iOS 9. Thiết bị này có chung cụm camera như iPad Air 2 với camera 8 megapixel với khẩu độ ƒ/2.4. Màn hình Retina giống với iPad Mini 2, được cán mỏng (giống iPad Air 2) và có lớp phủ chống chói, dẫn đến chất lượng hình ảnh được cải thiện đáng kể so với thế hệ trước. Màn hình iPad Mini 4 có độ chính xác màu được cải thiện hơn nhiều do tăng Gam màu lên 101% sRGB so với kém ~62% trên các mẫu trước đó.

Ngày 21 tháng 3 năm 2016, Apple ra mắt chiếc iPhone SE có màn hình 4 inch với thiết kế như iPhone 5S nhưng cấu hình lại giống hệt như iPhone 6S nhưng không được trang bị màn hình cảm ứng lực 3D Touch, iPhone SE được thêm màu vàng hồng, iPad Pro 9.7 inch được ra mắt và nâng cấp về camera lên 12MP có tính năng Live Photos như trên iPhone 6S và khả năng quay video 4K và có đèn Flash ở đằng sau, cùng với camera FaceTime 5MP với tính năng Retina Flash, iPad Pro 9.7 inch ra mắt nhằm vào những người không thích Tablet màn hình to như iPad Pro 12.9 inch và được thêm màu Vàng Hồng.

Ngày 7 tháng 9 năm 2016, Apple trình làng iPhone 7iPhone 7 Plus cùng thay đổi cải tiến như bổ sung màu Jet Black và loại bỏ màu Space Gray và thay thế bằng màu Black, chống nước chống bụi IP67, vi xử lí A10 Fusion mạnh mẽ hơn, iPhone 7 vẫn là camera đơn nhưng module camera to hơn và có chống rung hình ảnh quang học OIS, còn iPhone 7 Plus được tích hợp hai camera, chức năng của hai camera của iPhone 7 Plus là zoom quang học 2× và chụp xoá phông ở chế độ Chân dung, cả hai đều có khẩu độ ƒ/1.8 để chụp thiếu sáng tốt hơn và trang bị 4 đèn flash led True Tone, phím Home vật lí bị loại bỏ và thay thế bằng nút Home cảm ứng lực được giả lập tác lực các nấc ấn của người dùng bằng Tapic Engine, đồng thời máy bị loại bỏ cổng tai nghe 3.5mm, iPhone 7 và 7 Plus lần lượt các màu sắc như Jet Black, Black, Sliver, Gold, Rose Gold và kèm theo Apple Watch Series 2 ra mắt với vi xử lí S2 mạnh hơn, chống nước tận 50 mét và có GPS.

Ngày 21 tháng 3 năm 2017, Apple cho ra mắt iPhone 7 và 7 Plus màu đỏ để gây quỹ ủng hộ cho người nhiễm HIV AIDS, máy bán ra bắt đầu phiên bản 128GB trở lên, cùng với đó Apple ra mắt iPad 2017 nhằm thay thế iPad Air 2 với cấu hình vi xử lí A9, iPad 2017 dày lên 7.5mm. Cùng với đó, Apple cho ra mắt iPad thế hệ thứ 5. iPad thế hệ thứ 5 có màn hình 9.7", tỉ lệ 4:3, tấm nền IPS LCD, độ phân giải Retina 2048×1536 pixel (264 ppi). Vi xử lí Apple A9 (64-bit), 2 nhân 1.85 GHz; bộ đồng xử lí chuyển động Apple M9; GPU: PowerVR GT7600. Máy có 2GB RAM, bộ nhớ trong: 32 GB hoặc 128 GB. Camera trước: 1.2 MP, khẩu độ ƒ/2.2, camera sau: 8 MP, chống rung quang học, nhận diện khuôn mặt, khẩu độ ƒ/2.4. Pin Li-Po, 8827 mAh

Ngày 6 tháng 6 năm 2017, Apple cho ra mắt iPad Pro thế hệ thứ 2. Có màn hình 10,5 inch và 12.9 inch True Tone HDR chất lượng cao với tần số quét 120 Hz, viền siêu mỏng. Máy chỉ nặng 453 gram. Sản phẩm mới được trang bị vi xử lý A10X Fusion mạnh nhất của Apple hiện nay với 6 nhân xử lý cùng GPU 12 nhân. iPad Pro 10,5 sở hữu camera sau 12MP, khẩu độ f/1.8 hỗ trợ chống rung quang học như iPhone 7. Camera trước có độ phân giải 7MP. Máy hỗ trợ sạc nhanh với thời lượng pin 10 tiếng cho mỗi lần sạc đầy. Ngoài ra, iPad Pro mới cũng có thêm bàn phím gắn ngoài Smart Keyboard, hỗ trợ hơn 30 ngôn ngữ. Apple cũng công bố Apple Pencil với nhiều cải tiến. Phản hồi tín hiệu từ bút cảm ứng Apple Pencil với độ trễ chỉ là 20 mili-giây.

Ngày 31 tháng 8 năm 2017, giới truyền thông và báo chí nhận được thiệp mời tham dự sự kiện ngày 12 tháng 9 năm 2017 của họ tại nhà hát Steve Jobs. Đây là sự kiện ra mắt iPhone 8, iPhone 8 Plus và iPhone X (chiếc iPhone kỷ niệm 10 năm dòng iPhone của họ). iPhone 8 và 8 Plus có sự kế thừa kiểu dáng thiết kế từ iPhone 77 Plus. Điểm thay đổi lớn nhất về thiết kế là mặt lưng của máy được làm từ kính cường lực, thay vì được làm từ nhôm như đời trước, điều này giúp máy có khả năng hỗ trợ sạc không dây. Ngoài ra, các dòng chữ chứa thông tin về số series, IMEI, nhà sản xuất hay giấy phép đều được loại bỏ. iPhone 8 có màn hình Retina HD, với tấm nền LCD cảm ứng chạm đa điểm, công nghệ IPS và 3D Touch. Kích thước màn hình là 4,7 inch, độ phân giải 1334×750 pixel, với mật độ điểm ảnh 326 ppi. Độ tương phản của máy là 1400:1, là màn hình True Tone, có dải màu rộng P3. Hệ thống miền pixel kép cho góc nhìn rộng và độ sáng tối đa lên tới 625 cd/m2. Màn hình có lớp phủ eleophobic có nhiệm vụ chống bám vân tay. iPhone 8 Plus có màn hình Retina HD, với tấm nền LCD cảm ứng chạm đa điểm, công nghệ IPS và 3D Touch. Kích thước màn hình là 5,5 inch, độ phân giải 1920×1080 pixel, với mật độ điểm ảnh 401 ppi. Độ tương phản của máy là 1300:1, là màn hình True Tone, có dải màu rộng P3. Hệ thống miền pixel kép cho góc nhìn rộng và độ sáng tối đa lên tới 625 cd/m2. Màn hình có lớp phủ eleophobic có nhiệm vụ chống bám vân tay. iPhone 8 và iPhone 8 Plus sử dụng con chip Apple A11 Bionic. Hãng thông báo rằng khi sử dụng 4 lõi hiệu suất trong tất cả các CPU sẽ cho ra kết quả nhanh hơn 70% và khi sử dụng 2 lõi CPU, kết quả cho ra nhanh hơn 25% khi so sánh với A10 Fusion. GPU ba lõi do Apple thiết kế cũng nhanh hơn tới 30% so với A10 Fusion. A11 Bionic sẽ mang lại trải nghiệm thực tế ảo tăng cường tốt hơn trong các trò chơi và ứng dụng. iPhone 8 có một ống kính có độ phân giải 12 MP, khẩu độ ƒ/1.8, có thể phóng đại kĩ thuật số lên tới 5×, tính năng chống rung quang học, ống kính trang bị 6 thành phần, đèn bốn flash LED True Tone,chế độ chụp toàn cảnh cho ra bức ảnh lên tới 63MP, ống kính làm từ đá Shappire, lấy nét tự động và thủ công, các chế độ chụp, hẹn giờ và giảm tiếng ồn. iPhone 8 Plus có hai ống kính cùng độ phân giải 12MP: Ống kính Tele và góc rộng, ống kính Tele có khẩu độ ƒ/2.8, ống kính góc rộng có khẩu độ ƒ/1.8, có thể phóng đại quang học, kĩ thuật số lên tới 10×, chế độ chụp chân dung và hiệu ứng chụp chân dung lần đầu xuất hiện, tính năng chống rung quang học, ống kính trang bị 6 thành phần, đèn bốn flash LED True Tone, chế độ chụp toàn cảnh cho ra bức ảnh lên tới 63MP, ống kính làm từ đá Shappire, lấy nét tự động và thủ công, các chế độ chụp, hẹn giờ và giảm tiếng ồn. iPhone 8 và iPhone 8 Plus có camera trước có độ phân giải 7 MP, khẩu độ ƒ/2.2, có khả năng quay video 1080p HD, cảm biến phát hiện khuôn mặt, chụp HDR tự động, các chế độ chụp và hẹn giờ. iPhone 8 và iPhone 8 Plus có khả năng quay video 4K ở 24 fps, 30 fps hoặc 60 fps, quay video 1080p HD ở 30 fps hoặc 60 fps, tính năng chống rung hình ảnh quang học cho video, phóng đại quang học, kĩ thuật số lên 6× trên iPhone 8 Plus, đèn bốn flash LED True Tone, giảm nhiễu tiếng ồn khi quay video, hỗ trợ video Slo-mo cho 1080p ở 120 fps hoặc 240 fps, có thể chụp ảnh có độ phân giải 8MP trong khi quay video 4K, có thể thu phóng âm thanh và thu phóng video phát lại. iPhone 8 và iPhone 8 Plus có khả năng kháng nước và kháng bụi chuẩn IP67. Dung lượng pin của iPhone 8 và 8 Plus lần lượt là 1821 mAh và 2675 mAh. iPhone 8 và iPhone 8 Plus được trang bị bảo mật sinh trắc học vân tay Touch ID đặt dưới nút Home. iPhone X sở hữu màn hình OLED 5,8 inch (do Samsung sản xuất), tỷ lệ màn hình 18:9, hỗ trợ dải màu rộng DCI-P3, sRGB, và HDR10, và có tỷ lệ tương phản đạt 1,000,000:1. Màn hình OLED này được Apple thương mại hóa dưới tên Super Retina đi kèm công nghệ True Tone được tích hợp trước đó trên iPad Pro, sử dụng cảm biến ánh sáng để điều chỉnh cân bằng trắng trên màn hình hiển thị sao cho thích hợp với mắt người sử dụng trong ánh sáng môi trường đó. Mặc dù iPhone X không có công nghệ "ProMotion" tương tự màn hình của iPad Pro với tần số quét 120 Hz, nhưng cho tần số quét cảm ứng đạt 120 Hz. Tuy nhiên, người dùng e ngại công nghệ màn hình OLED với nhược điểm cố hữu là hiện tượng "bóng ma" - "burn-in", nếu các hình ảnh xuất hiện liên tục trên màn hình OLED trong thời gian dài thì sẽ để lại dấu vết mờ nhạt ngay cả sau khi hình ảnh mới xuất hiện (nhược điểm thường thấy trên các máy Samsung Galaxy hay LG). Face ID sẽ thay thế hoàn toàn hệ thống Touch ID, mang lại màn hình lớn không viền, thay đổi hoàn toàn thiết kế của iPhone từ trước đến nay. Hệ thống camera TrueDepth được đưa vào 1 vị trí khoét phía trên màn hình ("Notch" hay "tai thỏ") bao gồm máy ảnh hồng ngoại, cảm biến đo chiều sâu, giúp chụp ảnh hồng ngoại, sau đó gửi dữ liệu gương mặt 3D đến SoC A11 Bionic (có chứa công nghệ học máy AI chuyên dụng) để xác nhận bản đồ gương mặt chủ nhân, đồng thời học hỏi nhiều hình ảnh khác nhau của người sỡ hữu về sau này. Công nghệ FaceID cho phép mở khóa gương mặt kể cả trong bóng tối, sử dụng hơn 30,000 điểm để tạo bản đồ khuôn mặt 3 chiều. Face ID sẽ không hoạt động khi chủ nhân nhắm mắt, chống tình trạng trộm mở máy khi chủ nhân đang ngủ. Animoji là một tính năng mới sử dụng cụm camera TrueDepth, người dùng có thể lồng ghép những icon Memoji ngộ nghĩnh trong tin nhắn bằng cách ghi lại giọng nói và biểu cảm gương mặt của mình.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt Apple Watch Series 3. Có thiết kế hầu như không đổi so với các phiên bản tiền nhiệm, điểm đáng chú ý nhất chính là vòng xoay có màu sắc đỏ nổi bật và chạy hệ điều hành WatchOS 4 mới nhất. Về phần cứng, Apple Watch mới được trang bị chip xử lý 2 nhân cho tốc độ nhanh hơn 70%, chip xử lý mạng không dây W2 mới và đặc biệt đây sẽ là chiếc đồng hồ thông minh đầu tiên của Táo Khuyết hỗ trợ sóng di động cho phép người dùng dễ dàng thực hiện cuộc gọi mà không cần đến smartphone. Cụ thể hơn, Apple Watch Series 3 sẽ không có các vạch nhựa để đặt ăng ten bắt sóng mà màn hình của thiết bị sẽ đảm nhận vai trò này. Từ đó, người dùng chỉ cần đưa Apple Watch lên và gọi.

Ngày 18 tháng 3 năm 2018, Apple cho ra mắt iPad Air thế hệ thứ 3. Thiết bị này tương tự iPad Air 2 và iPad Pro 10,5 inch và có chip A12 Bionic, dung lượng lưu trữ 64GB hoặc 256 GB, màn hình Retina 10,5 inch nâng cấp có hỗ trợ Apple Pencil (thế hệ 1), Bluetooth 5.0 và bộ nhớ nhanh hơn: LPDDR4X, thay vì LPDDR3 của iPad Air 2. Trong khi iPad Air 3 có hệ thống camera trước được nâng cấp từ camera 7MP (1080p) được sử dụng từ năm 2016 bắt đầu với iPhone 7 và tiếp tục với iPhone XS, nó vẫn tiếp tục với hệ thống camera sau 8MP (1080p) cũ hơn được sử dụng kể từ khi iPad Air 2 vào năm 2014, vì vậy dòng iPad này không thể ghi hình 4K. iPad Air này vẫn giữ cổng Lightning và giữ giắc cắm tai nghe. iPad Air 3 có bộ xử lý sáu nhân 2,49 GHz, chip Apple A12 Bionic. Con chip đó có tốc độ xung nhịp nhanh hơn 66% so với Apple A8X ba nhân 1,5 GHz trong thế hệ tiền nhiệm của iPad Air 3, iPad Air 2. iPad Air 3 có màn hình True Tone, cho phép màn hình LCD thích ứng với ánh sáng xung quanh để thay đổi màu sắc và cường độ trong các môi trường khác nhau. Nó nhanh hơn gấp 3 lần so với iPad Air 2 và pin có thể kéo dài tới 10 giờ.

Ngày 27 tháng 3 năm 2018, Apple cho ra mắt iPad thế hệ thứ 6. Phần cứng của iPad không có nhiều thay đổi so với thế hệ trước, ngoài việc nâng cấp về vi xử lý là Apple A10 Fusion và hỗ trợ bút Apple Pencil. Nó có 3 màu: Bạc, Xám và màu Vàng mới để phù hợp với màu giống iPhone 8. Nó được trang bị 2GB RAM, dày 7,5mm và tùy chọn dung lượng khả dụng là 32 hoặc 128GB. Không giống với iPad Pro, iPad (2018) không được trang bị màn hình cán mỏng.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt iPad Mini thế hệ thứ 5. Nó có chung thiết kế với iPad Mini 4 và có chip Apple A12 Bionic, dung lượng lưu trữ 64 hoặc 256GB, màn hình Retina 7.9 inch được nâng cấp hiện đại hơn hỗ trợ Apple Pencil (Thế hệ 1), màn hình True Tone và Bluetooth 5.0. Thông tin chi tiết của iFixit cho thấy iPad mini này được trang bị RAM 3 GB LPDDR4X nâng cấp, giống như iPhone XR. iPad Mini (2019) có hệ thống camera trước được nâng cấp của camera 7MP (1080p) được sử dụng từ năm 2016 bắt đầu với iPhone 7 và tiếp tục với iPhone XS, trong khi hệ thống camera phía sau tiếp tục với 8MP (1080p) cũ hơn được sử dụng kể từ khi iPad Air 2 vào năm 2014, vì vậy nó không thể ghi hình ở độ phân giải 4K. iPad Mini sử dụng cổng Lightning và có giắc cắm tai nghe. Nó có màn hình True Tone, cho phép màn hình thích ứng với ánh sáng xung quanh để thay đổi màu sắc và cường độ của nó trong các môi trường khác nhau. Chip Apple A12 Bionic cung cấp năng lượng cho iPad Mini (2019) có tốc độ xung nhịp cao hơn 66% so với người tiền nhiệm có bộ xử lý nhân kép 1,5 GHz; (Apple A8 ở thế hệ trước, có xung nhịp cao hơn so với iPhone 6). Chip Apple A12 Bionic có bộ xử lý sáu nhân 2,49 GHz. iPad Mini (thế hệ thứ 5) nhanh hơn gấp 3 lần so với iPad Mini 4 và có hỗ trợ Apple Pencil (Thế hệ 1).

Ngày 12 tháng 9 năm 2018, Apple cho ra mắt iPhone XS, iPhone XS Max và iPhone XR. Thiết kế của iPhone Xs tương tự như thế hệ tiền nhiệm iPhone X (ra mắt cuối năm 2017), 2 mặt kính cường lực kết hợp khung thép không gỉ. Điểm khác biệt nằm ở phần bố trí thêm 2 dải ăng-ten, số lượng lỗ loa dưới đáy máy, cụm camera kép đặt lệch một chút so với iPhone X và màu sắc mới (thêm màu Gold thay vì chỉ 2 màu như iPhone X). iPhone Xs Max là phiên bản phóng to với màn hình lớn hơn và thời lượng pin mạnh mẽ. Có RAM 4GB, ROM tối đa 512GB, chuẩn chống nước, chống bụi IP68, trang bị tính năng Dual-Sim (2 SIM nano vật lý dành riêng cho thị trường Trung Quốc, Hồng Kông, Macao. 1 SIM nano vật lý và 1 eSIM với các thị trường còn lại), chip A12 Bionic trên tiến trình 7 nm, chụp ảnh smart HDR, âm lượng phát ra to hơn, dung lượng pin là 3174 mAh (đối với iPhone XS Max), công nghệ FaceID được cải tiến. Màn hình: 5,8” hoặc 6,5”; Super Retina HD; độ phân giải màn hình 2436 x 1125 px hoặc 2688 x 1242px đạt mật độ điểm ảnh 458ppi, có cảm ứng lực 3D Touch toàn màn hình và True Tone Display. Tần số quét 60 Hz và tần số quét cảm ứng 120 Hz. ROM: 64GB; 256GB hoặc 512GB. Camera trước: camera TrueDepth; 7MP; khẩu độ ƒ/2.2; Animoji và Memoji. Camera chính: camera kép gồm 1 ống kính góc rộng 12MP khẩu độ f/1.8 và 1 ống kính tele 12MP khẩu độ ƒ/2.4; 5 chế độ chụp chân dung; Smart HDR. Dung lượng pin: 2658 mAh hoặc 3174 mAh. Âm thanh ba chiều. iPhone XR bị loại bỏ cảm ứng lực 3D Touch mà thay vào đó là Haptic Touch nơi người dùng nhấn lâu vào màn hình cho đến khi họ cảm thấy rung từ Taptic Engine. XR sử dụng màn hình LCD được gọi là "Liquid Retina" thay vì màn hình OLED được sử dụng trên X, XS và XS Max. Màn hình trên XR có độ phân giải 1792 × 828 pixel và mật độ điểm ảnh là 326 ppi, so với 458 ppi trên các iPhone mang nhãn hiệu X khác. Tỷ lệ màn hình so với thân máy của XR là 79,3%, cao hơn nhiều so với 67,5% của iPhone 8 Plus nhưng vẫn thấp hơn so với hầu hết các đối thủ Android trong cùng mức giá với nó. Không giống như hầu hết các iPhone khác trong dòng X, XR chỉ có một camera đơn ở phía sau, cảm biến camera chính giống như trên XS và XS Max, sử dụng kích thước cảm biến 1/2.55, kích thước pixel là 1,4μm. Vì là camera đơn nên iPhone XR chỉ có thể zoom số. Camera được cải tiến đáng kể và vẫn cho khả năng chụp xóa phông, iPhone XR được nhiều nhà phê bình và nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp khen ngợi về chất lượng ảnh so với các đối thủ. Mặc dù chỉ có camera đơn, XR vẫn sử dụng được Chế độ Portrait (Chân dung xóa phông), XR cũng cho khả năng chụp xóa phông với camera TrueDepth phía trước. Nhưng với camera sau, nó tính toán độ sâu bằng cách sử dụng kết hợp các pixel lấy nét trên cảm biến hình ảnh và máy học AI, dẫn đến nhiều hạn chế hơn so với cụm camera kép, bao gồm dữ liệu độ sâu độ phân giải thấp hơn và ống kính góc rộng được sử dụng thay vì ống kính tele như các điện thoại khác trong dòng X. Giống như iPhone XS và XS Max, iPhone XR cũng cung cấp độ sâu trường ảnh có thể điều chỉnh thông qua phần mềm, cho phép bạn điều chỉnh mức độ hiệu ứng xóa phông sau khi chụp ảnh.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt Apple Watch Series 4. Cụ thể, viền màn hình mỏng với các cạnh bo tròn giúp kích thước màn tăng 30% so với trước đó, cho phép watchOS 5 hiển thị nhiều thông tin hơn. Giao diện người dùng (UI) cũng được làm mới với 8 complication (hiển thị thông tin của app trên giao diện xem giờ của đồng hồ). Dù với màn hình lớn hơn, thiết bị lại có trọng lượng nhẹ, mỏng hơn so với Apple Watch Series 3. Nút Digital Crown cũng được tích hợp bộ rung phản hồi haptic, bên cạnh bộ vi xử lý hai nhân 64-bit S4. Apple tuyên bố con chip này sẽ tăng gấp đôi hiệu suất so với thiết bị tiền nhiệm. Gia tốc kế và con quay hồi chuyển cũng được cải tiến. Ngoài ra, thiết bị có thể phát hiện người dùng té ngã và tự động gọi cấp cứu nếu họ không cử động sau một phút. Bên cạnh việc thường xuyên theo dõi nhịp tim, người dùng chỉ cần mở ứng dụng, chạm ngón tay vào Digital Crown để sử dụng tính năng điện tâm đồ EKG. Apple cho hay họ đã được chứng nhận từ Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ để sử dụng Apple Watch như một thiết bị y tế. Phần loa cũng được Táo khuyết chăm chút lại cho âm thanh lớn hơn 50%, song vẫn tách biệt với micro để tránh bị vang. Mặt sau thiết bị sử dụng chất liệu gốm đen giúp truyền gửi dữ liệu nhanh hơn, trong khi mặt trước được làm bằng sapphire. Tuy nhiên, không hề có nâng cấp về dung lượng pin. Vẫn là thời gian 18 tiếng sử dụng mỗi ngày, có thể kéo dài gần hai ngày với những tác vụ đơn giản. Ngoài ra, tất cả dây đeo hiện tại đều sẽ tương thích với thiết bị mới, bên cạnh dây thép không gỉ trắng vàng mới được giới thiệu.

Ngày 30 tháng 10 năm 2018, Apple cho ra mắt iPad Pro thế hệ thứ 3. Các cỡ màn hình iPad Pro thế hệ thứ 3 là 11 inch và 12.9 inch. Phiên bản màn 11 inch có kích thước bằng với iPad 10.5 inch, nhờ đó viền bezel được thiết kế theo một phong cách thiết kế mới. iPad Pro thế hệ thứ 3 chính thức trở thành mẫu máy tính bảng đầu tiên của Apple không có nút Home. Không còn nút Home, màn hình iPad được mở rộng không gian theo chiều dọc mang tới cho người dùng nhiều trải nghiệm hơn. Sau tất cả thì chúng ta có iPad Pro viền bezel mỏng, rất mỏng ở cả 4 cạnh. iPad Pro thế hệ thứ 3 không còn jack tai nghe 3.5 mm, nghĩa là người dùng cần thêm một cổng chuyển từ USB-C qua 3.5 mm để có thể thưởng thức âm nhạc từ tai nghe có dây. Hai phiên bản iPad Pro đều trang bị Face ID và camera TrueDepth. Trên iPad Pro thế hệ thứ 3, tính năng Face ID có  thể hoạt động cả khi để máy nằm dọc hay nằm ngang. Khi sở hữu tính năng này, đồng nghĩa với việc iPad Pro thế hệ thứ 3 sẽ có Animoji và Memoji. Sức mạnh của iPad Pro đặt trọn vào chip A12X Bionic, con chip A12X mạnh mẽ với 8 lõi CPU và 7 lõi GPU. Đây là chi tiết giúp tăng hiệu năng đơn lõi cao hơn 35% và tăng hiệu năng đa lõi cao hơn 90% so với trước kia. Máy ở hữu bộ nhớ trong tối đa 1TB. iPad Pro thế hệ thứ 3 không có cổng kết nối Lightning mà chuyển hẳn qua sử dụng chuẩn USB-C. Thiết kế này mở thêm cho phiên bản này thêm một khả năng mới là: Sạc cho thiêt bị khác. Nghĩa là, chúng ta có thể dùng nó để sạc pin cho cho điện thoại chẳng hạn. Chưa hết, cổng sạc này còn giúp iPad có thể kết nối với nhiều thiết bị ngoại vi khác, độ phân giải lớn nhất là 5k.Trải nghiệm âm thanh trên iPad được phục vụ bởi 4 loa ngoài mới, đem đến dải âm thanh stereo rộng hơn. iPad Pro thế hệ thứ 3 có camera 12 MP, có thể kết nối mạng LTE gigabit và kết nối Wifi. Trong màn ra mắt, đại diện Apple còn cho biết pin của máy có thể hoạt động liên tục bình thường trong 10 giờ đồng hồ. Một điều nữa, iPad Pro thế hệ thứ 3 cũng đi kèm với một chiếc bút Apple Pencil và người dùng có thể sạc nó bằng cách gắn lên thân máy qua cổng nam châm.

Ngày 18 tháng 3 năm 2019, Apple cho ra mắt iPad Air thế hệ thứ 3. Trong khi iPad Air 3 có hệ thống camera trước được nâng cấp từ camera 7MP (1080p) được sử dụng từ năm 2016 bắt đầu với iPhone 7 và tiếp tục với iPhone XS, nó vẫn tiếp tục với hệ thống camera sau 8MP (1080p) cũ hơn được sử dụng kể từ khi iPad Air 2 vào năm 2014, vì vậy dòng iPad này không thể ghi hình 4K. iPad Air này vẫn giữ cổng Lightning và giữ giắc cắm tai nghe. iPad Air 3 có bộ xử lý sáu nhân 2,49 GHz, chip Apple A12 Bionic. Con chip đó có tốc độ xung nhịp nhanh hơn 66% so với Apple A8X ba nhân 1,5 GHz trong thế hệ tiền nhiệm của iPad Air 3, iPad Air 2. iPad Air 3 có màn hình True Tone, cho phép màn hình LCD thích ứng với ánh sáng xung quanh để thay đổi màu sắc và cường độ trong các môi trường khác nhau. Nó nhanh hơn gấp 3 lần so với iPad Air 2 và pin có thể kéo dài tới 10 giờ.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt iPad Mini thế hệ thứ 5. iPad Mini (2019) có hệ thống camera trước được nâng cấp của camera 7MP (1080p) được sử dụng từ năm 2016 bắt đầu với iPhone 7 và tiếp tục với iPhone XS, trong khi hệ thống camera phía sau tiếp tục với 8MP (1080p) cũ hơn được sử dụng kể từ khi iPad Air 2 vào năm 2014, vì vậy nó không thể ghi hình ở độ phân giải 4K. iPad Mini sử dụng cổng Lightning và có giắc cắm tai nghe. Nó có màn hình True Tone, cho phép màn hình thích ứng với ánh sáng xung quanh để thay đổi màu sắc và cường độ của nó trong các môi trường khác nhau. Chip Apple A12 Bionic cung cấp năng lượng cho iPad Mini (2019) có tốc độ xung nhịp cao hơn 66% so với người tiền nhiệm có bộ xử lý nhân kép 1,5 GHz; (Apple A8 ở thế hệ trước, có xung nhịp cao hơn so với iPhone 6). Chip Apple A12 Bionic có bộ xử lý sáu nhân 2,49 GHz. iPad Mini (thế hệ thứ 5) nhanh hơn gấp 3 lần so với iPad Mini 4 và có hỗ trợ Apple Pencil (Thế hệ 1).

Ngày 10 tháng 9 năm 2019, Apple cho ra mắt iPhone 11, iPhone 11 Pro và iPhone 11 Pro Max. iPhone 11, cùng với iPhone 11 Pro và 11 Pro Max, được trang bị bộ xử lý mới A13 Bionic (tiến trình 7 nm) với Neural Engine thế hệ thứ 3 tân tiến nhất của Apple. iPhone 11 có 3 tùy chọn dung lượng lưu trữ: 64, 128 và 256 GB cùng với 4 GB RAM. Nó còn được trang bị tiêu chuẩn chống nước, chống bụi IP68 (chịu được tối đa 2 mét trong vòng 30 phút). Ngoài ra, giống các đời iPhone gần đây, cả hai mẫu đều không có giắc cắm tai nghe và đi kèm với EarPods với đầu nối Lightning. iPhone 11 có màn hình IPS LCD 6.1 inch Liquid Retina, trong khi 11Pro/11 Pro Max sở hữu màn hình OLED với viền màn hình cực mỏng. Độ phân giải màn hình này là 1792×828 pixels (326 ppi), độ tương phản 1400:1 và độ sáng tối đa 625 nits, hỗ trợ Dolby Vision, HDR10, True-Tone cùng dải màu rộng cho màu sắc trung thực. Cũng như thế hệ iPhone X, màn hình iPhone 11 có khoét "tai thỏ" ở phía trên cho hệ thống camera TrueDepth và loa thoại. Apple đã công bố vào tháng 9 năm 2019 rằng cả iPhone 11 và iPhone 11 Pro sẽ hiển thị thông báo cảnh báo nếu màn hình được thay thế trái phép bởi bên thứ 3. Apple cảnh báo rằng các vấn đề với điện thoại có thể phát sinh nếu có các thành phần hoặc quy trình sai trong quá trình sửa chữa. iPhone 11 có camera kép 12MP gồm 1 camera góc siêu rộng 120 độ khẩu độ ƒ/2.4 cho khả năng zoom out 2× và một camera góc rộng khẩu độ ƒ/1.8. Có thể quay phim 4K lên tới 60 fps và quay slow-motion 1080p 240fps. Ngoài ra nó còn có tính năng zoom audio giống như 11 Pro. IPhone 11 cũng sở hữu chế độ chụp chân dung xóa phông và chế độ chụp đêm để cho ra những bức ảnh sáng hơn, nhiều chi tiết hơn và ít nhiễu hơn trong điều kiện thiếu sáng. Apple còn giới thiệu tính năng Deep Fusion mới ứng dụng sức mạnh của máy học AI và machine learning để xử lý hình ảnh.  Camera trước TrueDepth được nâng lên 12MP khẩu độ ƒ/2.2 hỗ trợ Face ID (cảm biển gương mặt 3D) với nhiều cải tiến về tốc độ. iPhone 11 Pro và 11 Pro Max có sự kế thừa kiểu dáng thiết kế từ iPhone XSXS Max. Điểm thay đổi lớn nhất là phần camera khi được trang bị 3 camera, nhiều hơn một so với trước. Trên phiên bản này, mặt lưng của thiết bị vẫn được làm từ kính cường lực nhưng được làm nhám, riêng phần kính cụm camera vẫn được làm bóng. Biểu trưng của Apple được di chuyển vào vị trí trung tâm tại mặt lưng thiết bị tạo cảm giác cân đối cho máy. Kích thước màn hình của iPhone 11 Pro và 11 Pro Max lần lượt là 5,8 inch và 6,5 inch. Cả hai đều được trang bị màn hình Super Retina XDR, một điểm cải tiến so với màn hình Super Retina HD có trên iPhone XS và XS Max, với mật độ điểm ảnh là 458 ppi. Máy có độ tương phản là 2.000.000:1, tăng gấp đôi so với người tiền nhiệm. Màn hình thiết bị cũng có tính năng True Tone, có dải màu rộng P3 và độ sáng tối đa lên tới 800 nits. Tính năng 3D Touch đã được Apple loại bỏ trên phiên bản này và được thay thế bởi Haptic Touch. Thiết bị sử dụng con chip Apple A13 Bionic, là con chip chạy trên tiến trình 7 nm đưa vào sử dụng đầu tiên trên thế giới. Hãng thông báo rằng con chip mới này, CPU có hai lõi cho hiệu năng nhanh hơn 20% và tiết kiệm pin hơn tới 30%. Với bốn lõi, hiệu quả của nó nhanh hơn tới 20% và tiết kiệm năng lượng lên tới 40%. GPU do Apple thiết kế cũng nhanh hơn 20% và sử dụng ít năng lượng hơn 40%, phù hợp với các trò chơi đồ họa cao và trải nghiệm thực tế tăng cường. Có 3 ống kính cùng độ phân giải 12MP: Ống kính Tele, Rộng và Siêu rộng. Ống kính Tele có khẩu độ ƒ/2.0, ống kính góc rộng có khẩu độ ƒ/1.8. Ống kính góc siêu rộng có khẩu độ ƒ/2.4 và góc chụp toàn cảnh 120°Có thể phóng đại và thu nhỏ quang học 2×. Có thể phóng đại kĩ thuật số lên tới 10×. Chế độ chụp chân với hiệu ứng xóa phông và điều chỉnh khẩu độ nâng cao. Trang bị 6 hiệu ứng chụp chân dung từng có iPhone 8 Plus trở đi. Trang bị tính năng chống rung quang học kép, có trên ống kinh Tele và góc rộng. Chụp năm thành phần đối với ống kính góc siêu rộng. Chụp sáu thành phần đối với ống kính Tele và góc rộng. Đèn flash True Tone sáng hơn, thời gian phơi sáng thấp. Có chế độ chụp đêm. Chế độ chụp toàn cảnh cho ra bức ảnh lên tới 63MP. Ống kính làm từ đá Shappire. Có 1 ống kính với độ phân giải 12MP, cùng khẩu độ ƒ/2.2. Chế độ chụp chân với hiệu ứng xóa phông và điều chỉnh khẩu độ nâng cao. Trang bị 6 hiệu ứng chụp chân dung từng có iPhone 8 Plus trở đi. Hỗ cho việc sử dụng Face ID và các hiệu ứng Animoji và Memoji. Quay video 4K ở 24 fps, 30 fps hoặc 60 fps. Quay video HD 1080p ở 30 fps hoặc 60 fps. Hỗ trợ video Slo-mo cho 1080p ở tốc độ 120 fps. Máy có thể quay video 4K ở 24 fps, 30 fps hoặc 60 fps. Quay video 1080p HD ở 30 fps hoặc 60 fps. Quay video 720p HD ở 30 fps. Chống rung quang học cho video tại ống kinh Tele và góc rộng. Có thể phóng đại và thu nhỏ quang học 2×. Có thể phóng đại kĩ thuật số lên tới 6×. Đèn flash True Tone sáng hơn. Hỗ trợ video Slo-mo cho 1080p ở 120 fps hoặc 240 fps. Có thể chụp ảnh có độ phân giải 8MP trong khi quay video 4K. Có thể thu phóng âm thanh và thu phóng video phát lại. Máy có kháng nước và kháng bụi chuẩn IP68, nhưng được thông báo là có sức chịu đựng tốt hơn so với phiên bản trước. Dung lượng pin được tăng đáng kể, trải nghiệm thời lượng pin được cho là khác biệt rõ rệt một cách tích cực. Được trang bị bảo mật sinh trắc học khuôn mặt Face ID nằm hoàn toàn trong camera TrueDepth. Hộp của chiếc iPhone 11 Pro và 11 Pro Max đi kèm với một chiếc tai nghe, cáp sạc và một củ sạc nhanh 18W.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt iPad thế hệ thứ 7. Máy có màn hình Retina 10,2 inch, được trang bị con chip Apple A10 Fusion và là sản phẩm kế thừa cho iPad thế hệ thứ 6 9,7 inch. iPad giờ đã hỗ trợ Apple Pencil thế hệ 1 và có cổng kết nối Smart Connector, hướng tới ngân sách và giáo dục. Không giống như các mẫu iPad trước đây có màn hình 9,7 inch, thiết bị này là thiết bị đầu tiên trong dòng sản phẩm iPad cơ bản có kích thước màn hình lớn hơn 10,2 inch.

Cùng với đó, Apple cho ra mắt Apple Watch Series 5. Apple cho biết Apple Watch Series 5 vẫn có thời lượng sử dụng lên đến 18 giờ giống những người tiền nhiệm dù sử dụng màn hình luôn hiển thị mới. Các mặt đồng hồ và chế độ luyện tập cũng được thiết kế lại để tận dụng lợi thế từ loại màn hình mới này. Bên cạnh tính năng màn hình luôn hiển thị mới, Apple Watch Series 5 cũng được bổ sung các tùy chọn vỏ bằng nhôm tái chế hoặc titan. Tùy chọn thép không gỉ và gốm như các thế hệ trước cũng vẫn sẽ được duy trì. Apple cho hay, đây là lần đầu tiên họ cung cấp nhiều loại vỏ như vậy dành cho Apple Watch. Đây là lần đầu tiên Apple đưa màn hình luôn hiển thị Always-On lên dòng Apple Watch. Thế nên, bạn sẽ không cần di chuyển cổ tay để xem giờ.

Ngày 18 tháng 3 năm 2020, Apple cho ra mắt iPad Pro thế hệ thứ 4. iPad Pro thế hệ thứ 4 vẫn giữ thiết kế “na ná” phiên bản thế hệ thứ 3 với sự xuất hiện của cổng USB-C. Tuy nhiên, Apple đã mang tới hai phiên bản màn hình là 11-inch và một chiếc 12.9-inch. Chiếc máy tính bảng mới mang trên mình công nghệ màn hình Liquid Retina với tần số quét 120 Hz mượt mà. Apple quảng cáo màn hình của mình đang dẫn đầu về độ chuẩn màu sắc. Cùng với đó là độ sáng 600 nit và công nghệ Ultralow Reflection cho trải nghiệm ngoài trời tốt hơn. Điểm nổi bật trên chiếc iPad mới nhà Táo là cụm camera kép lần đầu tiên xuất hiện trên thế giới máy tính bảng. Bên cạnh đó là một máy quét LiDAR (Light Detection and Raging) học hỏi từ NASA. Công nghệ này giúp iPad Pro trở thành “thiết bị tốt nhất cho trải nghiệm AR (augmented reality)”. Mỗi đời iPad mới ra cũng được Apple cải tiến vượt bậc về hiệu năng. Chiếc máy tính bảng của năm 2020 cũng không phải ngoại lệ khi được trang bị chip Apple A12Z Bionic, cho tốc độ “vượt trội hơn cả một chiếc PC”. Thêm vào đó là xử lý đồ hoạ 8 nhân, giúp người dùng xử lý game, thiết kế đồ hoạ 3D và sử dung tính năng AR tốt hơn. iPad Pro 2020 có 4 phiên bản bộ nhớ từ 128GB cho tới 1TB. Cùng với iPad Pro thế hệ thứ 4, Apple cũng đã ra mắt một chiếc bàn phím với tên “Magic Keyboard”. Chiếc bàn phím này được tối ưu hoá riêng cho iPadOS và có cổng USB-C để sạc cho iPad. Điểm nhấn của chiếc của bàn phím này là tích hợp sẵn Trackpad. Với iPadOS 13.4, con trỏ chuột đã xuất hiện và bạn có thể dùng iPad như một chiếc laptop thực thụ.

Ngày 15 tháng 4 năm 2020, Apple lặng lẻ ra mắt iPhone SE thế hệ thứ 2. Về tổng quan, iPhone SE thế hệ thứ 2 mang kiểu dáng thiết kế của iPhone 8, một chút thay đổi về cách đặt biểu trưng Apple trên lưng máy, với phần cứng được nâng cấp lên tương đương với chiếc iPhone 11. iPhone SE thế hệ thứ 2 sử dụng màn hình Retina HD Display 4,7 inch với tấm nền LCD, công nghệ IPS cảm ứng đa điểm. Màn hình có độ phân giải 1334×750 pixel, với mật độ điểm ảnh 326 ppi. Tỷ lệ tương phản là 1400:1, công nghệ màn hình True Tone, dài màu rộng P3, độ sáng màn hình đạt tối đa 625 nits. Dolby Vision và HDR10 cũng được hỗ trợ trên màn hình thiết bị. Khác với iPhone 8, thiết bị này không được trang bị 3D Touch mà chỉ trang bị Haptic Touch. Thế hệ iPhone SE này được trang bị chip A13 Bionic, giống với iPhone 11iPhone 11 Pro. Thiết bị có CPU nhanh gấp 2,4 lần và GPU nhanh gấp 4 lần so với chip A9 trang bị trên iPhone SE thế hệ tiền nhiệm. Điều đó giúp tăng tốc độ mở ứng dụng, sử dụng thực tế ảo tăng cường với trò chơi trên Apple Arcade. Khác với iPhone 11iPhone 11 Pro, chiếc điện thoại này không được trang bị chip Apple U1. Camera có độ phân giải 12 MP, khẩu độ ƒ/1.8. Có thể phóng đại kĩ thuật số tới 5×. Có khả năng chụp chân dung với hiệu ứng xóa phông, điều chỉnh khẩu độ nâng cao. Trang bị 6 hiệu ứng chân dung từng có iPhone 8 Plus trở đi. Được trang bị thêm tính năng chống rung quang học. Đèn flash LED True Tone. Chế độ chụp toàn cảnh cho ra bức ảnh lên tới 63 MP. Camera có độ phân giải 7 MP, khẩu độ ƒ/2.2. Có khả năng chụp chân dung với hiệu ứng xóa phông, điều chỉnh khẩu độ nâng cao. Trang bị 6 hiệu ứng chụp chân dung có trên camera chính. Khả năng quay video 4K ở 30 fps. Tính năng Retina Flash, video QuickTake. Máy có thể quay video 4K ở 24 fps, 30 fps hoặc 60 fps. Quay video 1080p HD ở 30 fps hoặc 60 fps. Quay video 720p HD ở 30 fps. Chống rung quang học, ổn định hình ảnh khi quay video. Có thể zoom kĩ thuật số 3×. Hỗ trợ video Slo-mo cho 1080p ở 120 fps hoặc 240 fps. Có thể chụp ảnh có độ phân giải 8 MP trong khi quay video. Tính năng tự động lấy nét liên tục khi quay. Hỗ trợ video QuickTake. Người dùng có thể sử dụng 2 sim trên phiên bản này (nano-SIMe-SIM), với thêm tùy chọn cuộc gọi như “Sử dụng đường truyền cá nhân” hay “Sử dụng đường truyền doanh nghiệp”. Họ cũng thông báo rằng phiên bản mới này sẽ có tốc độ truy cập mạng di động nhanh gấp 6,5 lần và tốc độ truy cập mạng Wi-Fi nhanh gấp 2,7 lần so với thế hệ thứ nhất. Con số này so với iPhone 8 lần lượt là hơn 60% và 38%. Được trang bị thêm tính năng kháng nước chuẩn IP67 so với tiền nhiệm. Dung lượng pin tương đương với iPhone, với khả năng chơi nhạc 40 tiếng liên tục. Được trang bị bảo mật sinh trắc học Touch ID đặt dưới nút Home.

Sản phẩm do Apple sản xuấtSửa đổi


Windows VistaDebianNeXTMicrosoft WindowsIBM PCTRS-80Altair 8800iWorkiLifeiTunesFinal CutFileMaker ProClarisWorksAppleShareMacPaintMacWriteAppleWorksTime Capsule (Apple)AirPort#AirPort Extreme (802.11n)iSight CameraAirPortGeoPortApple USB ModemLocalTalkApple USB ModemApple displays#LCD displaysApple displays#LCD displaysTrinitronApple displaysApple displaysApple displaysApple Magic MouseApple Mighty MouseApple Wireless MouseApple Mouse#Apple USB Mouse (M4848)Apple Adjustable KeyboardApple Desktop BusApple MouseApple KeyboardColor LaserWriter 12/600 PSStyleWriterLaserWriterBản mẫu:Apple printersSuperdriveSuperDrive#Floppy disk driveAppleCDHard Disk 20SCMacintosh External Disk DriveApple ProFileDisk IIApple TVBandai PippinApple Interactive Television BoxApple QuickTakePowerCD#AppleDesign Powered SpeakersApple iPod TouchApple iPodPowerCDApple iPhoneApple iPadApple NewtonMac ProApple Intel transitionPower Macintosh G5OS XPower Macintosh G4iMacPower Macintosh G3Power MacintoshPowerBookMacintosh LCMacintosh IICompact MacintoshiMacApple Network ServerMacintosh XLApple LisaXServeMacBook familyApple IIe CardApple IIe#The Platinum IIeApple IIc PlusGS/OSApple IIcApple IIGSApple IIeIII PlusApple II PlusApple IIIApple IIApple I

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă Linzmayer, Ronald W. (1999). Apple Confidential: The Real Story of Apple Computer, Inc. No Starch Press. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018. 
  2. ^ a ă â b c d “Apple Form 10-K Annual Report” (PDF). 3 tháng 11 năm 2017. 
  3. ^ “Top 10 thương hiệu đắt giá nhất thế giới năm 2014”. [[Dân trí (báo)|]]. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014. 
  4. ^ “IOL Technology – Co-founder tells his side of Apple story”. 
  5. ^ “NPR: A Chat with Computing Pioneer Steve Wozniak”. 
  6. ^ Wozniak, Stephen. Homebrew and How the Apple Came to Be, Digital Deli. Truy cập 2 tháng 3 năm 2007.
  7. ^ Kahney, Leander. Rebuilding an Apple From the Past, Wired, 19 tháng 11 năm 2002.
  8. ^ “BBC News: History of Technology”. 15 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2008. 
  9. ^ “Computer History Museum (ComputerHistory.org)”. Truy cập January 19 năm 2008.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  10. ^ Game Makers (TV Show): Apple II. Originally aired 6 tháng 1 năm 2005.
  11. ^ “Picture of original ad featuring US666.66 price”. 
  12. ^ Wozniak, Steven: "iWoz", trang 180. W. W. Norton, 2006. ISBN 978-0-393-06143-7
  13. ^ Apple Investor Relations FAQ[liên kết hỏng], và trở thành Apple Inc - tên chính thức vào thời điểm 2 tháng 3 năm 2007.
  14. ^ “Apple Chronology”. Fortune (CNN). 6 tháng 1 năm 1998. Truy cập 11 tháng 9 năm 2008. 
  15. ^ "Apple Inc.[liên kết hỏng]" MSN Encarta. Truy cập 2 tháng 3 năm 2007. Lưu trữ 31 tháng 10 năm 2009.

Liên kết ngoàiSửa đổi