Phi tần của Đường Thái Tông

Đường Thái Tông phi tần (chữ Hán: 唐太宗妃嬪) là tập hợp ghi chép về các phi tần của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, vị Hoàng đế thứ hai của nhà Đường trong lịch sử Trung Quốc.

Tranh vẽ của hậu thế về Đường Thái Tông Lý Thế Dân.

Tổng quanSửa đổi

Hậu cung thời Đường, theo Cựu Đường thư cùng Tân Đường thư, từ năm Vũ Đức triều Đường Cao Tổ Lý Uyên đã thiết đặt thứ bậc hậu cung dựa theo nhà Tùy, chia hai dạng thức rõ rệt là "Hạng có phẩm trật""Hạng không phẩm trật", trong đó Tứ phi (四妃) đứng đầu hàng ngũ có phẩm trật, dưới vị trí Hoàng hậu. Theo hệ thống triều Đường thì hàng "Tứ phi" bao gồm 4 danh hiệu: Quý phi (貴妃), Thục phi (淑妃), Đức phi (德妃) và Hiền phi (賢妃). Dưới có Chiêu nghi đứng đầu nhóm Cửu tần (九嬪), rồi ba vị hạng Tiệp dư, Mỹ nhân, Tài nhân gọi là nhóm Thế phụ (世婦), dưới nữa là nhóm Ngự thê (御妻)[1][2].

Tuy rằng hậu cung nhà Đường định rõ nhiều cấp thứ bậc, nhưng trong lịch sử luôn có những người không rõ phong hiệu hay đãi ngộ được gọi chung là Thứ phi, hoặc dạng Tỳ thiếp Cung nhân, hay thậm chí chỉ là Nữ quan cũng được xem như vào hàng ngũ Hậu cung phi tần. Tình trạng này diễn ra mạnh đặc biệt là ở thời gian đầu triều Đường Cao Tổ và Đường Thái Tông.

Đường Thái Tông Lý Thế Dân khi còn sống có 1 chính thê là Văn Đức Thuận Thánh hoàng hậu Trưởng Tôn thị và khoảng 15 phi tần khác có, hoặc không có danh phận. Phần lớn các phi tần của Thái Tông đều có xuất thân đặc thù, không xuất thân từ hoàng tộc nhà Tùy thì cũng là Cung nhân, Nữ quan hoặc Tiểu thiếp của người khác. Trong đó, đặc biệt nhất là các tình nhân - tức là những người phụ nữ tuy có quan hệ tình dục với Thái Tông, thậm chí có thể đã được đãi ngộ "Có phẩm trật" dựa theo hàng Hậu cung phi tần và sinh ra Hoàng tử Công chúa, thế nhưng không bao giờ được xem là Hậu phi chính thức.

Các vị PhiSửa đổi

Danh sách những vị hậu cung được gọi là "Phi" dưới thời Đường Thái Tông.

Trong hai sách Đường thư đều không có truyện của bà, hành trạng của bà về sau chỉ được viết qua bia mộ của bà và trong mộ bia của A Sử Na Trung (阿史那忠). Theo đó, Vi thị trước từng hạ giá lấy Lý Hiếu Mân (李孝珉), con trai của Hộ bộ Thượng thư nhà TùyLý Tử Hùng (李子雄), sinh một con gái. Sau khi cả nhà họ Lý bị diệt, Vi Khuê liền thành thiếp của Thái Tông. Năm Vũ Đức thứ 7 (624), Vi Khuê sinh ra con gái tên Lý Mạnh Khương. Năm thứ 9 (626), Thái Tông đăng cơ, sang năm sau, tức Trinh Quán nguyên niên (627), Thái Tông liền phong Vi Khuê làm Quý phi, Mạnh Khương được phong Lâm Xuyên công chúa, còn con gái riêng của Quý phi với Lý Hiếu Mân được phong làm Định Tương Huyện chúa, lấy thân phận Tông thất nữ hạ giá A Sử Na Trung. Năm thứ 2 (628), Vi Quý phi sinh hạ Kỷ vương Lý Thận. Khi Đường Cao Tông Lý Trị lên ngôi, Vi Quý phi do sinh hạ Kỷ vương nên được đổi gọi làm Kỷ Quốc Thái phi (紀國太妃).
Năm Lân Đức thứ 2 (665), khi tùy hầu Cao Tông và Võ Tắc Thiên lên Thái Sơn phong thiện, Vi Thái phi qua đời ở huyện Hà Nam, được bồi táng ở Chiêu lăng.
Bà chỉ được biết đến vì sinh ra Triệu vương Lý Phúc (李福) - con trai thứ 13 của Đường Thái Tông[4], thời Cao Tông được phong làm Triệu Quốc Thái phi (趙國太妃), khi qua đời thì được bồi táng tại Chiêu lăng. Cả hai sách Đường thư đều gọi bà là "Dương phi", không rõ phong hiệu khi còn sống, vì khi đó phong hiệu "Quý phi" là của Vi Khuê, không rõ phong hiệu "Quý phi" của Dương phi được xác nhận từ lúc nào, bia mộ của Triệu vương là tài liệu duy nhất đề cập danh xưng "Quý phi" của bà, có lẽ là một dạng phong tặng sau khi qua đời mà thôi.
Khi Yến thị được khoảng 13 tuổi, nức tiếng hiền đức, nên khoảng năm Vũ Đức thứ 4 (621) được nạp cho Lý Thế Dân làm thiếp, khi đó ông còn là Tần vương. Năm Trinh Quán nguyên niên (627), Yến thị được phong "Hiền phi", cùng năm sinh Hoàng bát tử Việt vương Lý Trinh. Không lâu sau, bà sinh ra Hoàng thập nhất tử Lý Hiêu (李囂) nhưng Hoàng tử chết non vào năm Trinh Quán thứ 6 (632), nên truy phong Giang Thương vương. Năm Trinh Quán thứ 18 (644), Yến thị lại được tấn phong "Đức phi". Lúc ấy, Yến thị có quan hệ họ hàng với 3 phi tần khác của Đường Thái Tông là Sào Vương phi Dương thị, Dương Tiệp dư và Tài nhân Võ Mị. Ngoại tổ phụ Dương Đạt của Võ Mị là em trai của Quan vương. Thời Đường Cao Tông, Yến Đức phi được tôn làm Việt Quốc Thái phi (越國太妃), cùng con là Việt vương Trinh dời đến sống ở phong quốc.
Năm Càn Phong nguyên niên (666), Yến phi hầu Cao Tông và Võ hậu lên Thái Sơn, đảm nhận tế Chung hiến. Đến năm Hàm Hanh thứ 2 (671), Yến phi qua đời ở Trịnh Châu (nay thuộc khu vực Hà Nam, Trung Quốc), thọ 63 tuổi. Bà được phụ táng vào Chiêu lăng.
Trong lịch sử ghi lại, Từ thị là tài nữ nổi danh đương thời, trở thành một trong những Phi tần được sủng ái bậc nhất những năm cuối đời Thái Tông, nhập cung làm Tài nhân rồi dần phong đến bậc "Sung dung" (充容). Mất ít lâu sau khi Thái Tông băng hà, được truy tặng "Hiền phi" và an táng tại Chiêu lăng. Bà là phi tần duy nhất của Đường Thái Tông có truyện riêng trong phần "Hậu phi truyện" của hai sách Đường thư.
  • Phi Dương thị (妃杨氏), con gái của Tùy Dạng Đế Dương Quảng, sinh ra Ngô vương Lý Khác - con trai thứ 3 của Đường Thái Tông; và Thục Điệu vương Lý Âm (李愔) - con trai thứ 6 của Đường Thái Tông.
Đương thời, cả hai sách Đường thư đều không ghi rõ hành trạng của bà, sinh mẫu là ai. Năm Đại Nghiệp thứ 14 (618), Tùy Dạng Đế bị giết ở Giang Đô, và căn cứ theo năm sinh của Ngô vương Khác (năm 619, tức Vũ Đức năm thứ 2), Dương thị trở thành phi tần của Đường Thái Tông trong thời gian trước đó vài năm. Năm Vũ Đức thứ 9 (626), Đường Thái Tông đăng cơ. Căn cứ vào việc Dương thị về sau được gọi là "Phi", thì hẳn bà đã đạt được vị trí trong Tứ phi, nhưng cả hai sách Đường thư này lại không rõ danh hiệu. Khi đó "Quý phi" là Vi Khuê và "Hiền phi" là Yến thị còn đang tại vị, nên danh hiệu của bà nhiều khả năng là "Thục phi" hoặc "Đức phi", tuy nhiên điều này không có xác minh, có khả năng bà chỉ nhận đãi ngộ là hàng Phi mà không có danh xưng chính thức[note 1]. Không rõ hành trạng của Dương phi sau đó thế nào. Chỉ biết về sau, bà cũng được chôn phụ vào Chiêu lăng.
  • Phi Âm thị (妃陰氏), người Vũ Uy thuộc Lương Châu, sinh ra Tề vương Lý Hựu (李祐) - con trai thứ 5 của Đường Thái Tông. Bà là cháu nội của khai quốc công thần nhà TùyÂm Thọ (陰壽), con gái Âm Thế Sư (陰世師). Năm Đại Nghiệp thứ 13 (617), Đường Cao Tổ Lý Uyên khởi nghĩa chống nhà Tùy tại Thái Nguyên, Âm Thế Sư trung thành với nhà Tùy, để đáp trả đã sát hại Lý Trí Vân (李智云) - con trai thứ 5 của Đường Cao Tổ, phá hủy nhiều mộ phần của họ Lý. Sau này nhà họ Âm bị tru sát, chỉ còn lại Âm thị và anh trai là Âm Hoằng Trí (阴弘智). Theo như biểu hiện, Âm thị được Thái Tông nạp làm thiếp từ trước khi ông lên ngôi.
Khoảng đầu năm Vũ Đức (618 hoặc 619), Âm thị đã sinh ra Lý Hựu. Sau khi Lý Thế Dân đăng cơ, bà được phong "Phi", không rõ danh hiệu, nhưng do khi đó "Quý phi" là Vi Khuê và "Hiền phi" là Yến thị còn đang tại vị, nên danh hiệu của bà nhiều khả năng là "Thục phi" hay "Đức phi", nhưng cũng không loại trừ khả năng bà cũng giống như Dương phi: chỉ có đãi ngộ hàng Phi mà không có danh xưng. Năm Trinh Quán thứ 17 (643), con trai là Tề vương Hựu mắc tội mưu phản, hùa theo cậu là Hoằng Trí gây loạn. Không lâu sau, Lý Hựu bị giải về Trường An, ban chết. Sách sử không ghi thêm hành trạng và số phận về sau của bà. Bà được táng tại Chiêu lăng, nhưng mộ được ghi Âm tần mộ (陰嬪墓), có lẽ là vì bị con trai liên lụy mà bị giáng tước[5].

Các phi tần khácSửa đổi

Tần và Ngự thê
  1. Hiền phi Trịnh thị (賢妃鄭氏), chỉ được đề cập trong Đường hội yếu (唐会要) khi nói về các phụ nữ được táng tại Chiêu lăng[6]. Có ý kiến rằng "Đường hội yếu" ghi nhầm, nên là 「"Hiền phi Từ thị, Tài nhân Trịnh thị"」, bởi vì ngay sau Trịnh thị là Từ Huệ nhưng lại chỉ là "Tài nhân", hoàn toàn không khớp với lịch sử.
  2. Chiêu dung Vi thị (昭容韋氏, 607 - 656), tên thật là Ni Tử (尼子), con gái Vi Khuông Bá (韦匡伯), em họ của Quý phi Vi Khuê, Vi thị được Thái Tông nạp làm thiếp từ trước khi ông lên ngôi, sau đó nâng làm Chiêu dung[7][note 2].
  3. Chiêu nghi Mỗ thị (昭儀某氏, 601 - 682), không rõ danh tính, an táng tại Chiêu lăng. Hiện tại chỉ còn một bài bia mộ, chữ "Mỗ" trong Hán ngữ có nghĩa là "không rõ ràng", ý nói vị Chiêu nghi này không rõ họ gì, từ đây trở xuống khi ghi "Mỗ" thì đều cùng ý nghĩa này.
  4. Hạ tần Mỗ thị (下嫔某氏), sinh ra Dự Chương công chúa[8][note 3].
  5. Tiệp dư Mỗ thị (婕妤某氏), không rõ danh tính, an táng tại Chiêu lăng. Hiện tại chỉ còn một bài bia mộ[9].
  6. Tiệp dư Dương thị (婕妤楊氏), con gái thứ ba của Dương Cung Đạo (楊恭道), không rõ nơi táng[10].
  7. Mỹ nhân Tiêu thị (美人蕭氏), con gái Tiêu Thước (蕭鑠), không rõ nơi táng[11].
  8. Tài nhân Thôi thị (才人崔氏), con gái của Thôi Hoành Đạo (崔宏道), không rõ nơi táng[12].
  9. Tài nhân Tiêu thị (才人 蕭氏), con gái Tiêu Khanh (蕭鏗), không rõ nơi táng[13].
  10. Tài nhân Võ Mị, con gái Võ Sĩ Hoạch. Vào cung làm Tài nhân, sau khi Thái Tông qua đời thì ra Cảm Nghiệp tự, rồi lại quay về làm Chiêu nghi của Đường Cao Tông Lý Trị.
Nữ quan và Cung nhân
  1. Tam phẩm Cung nhân Chu thị (三品宮人周氏), bồi táng Chiêu lăng.
  2. Tam phẩm Vong cung Kim thị (三品亡宮金氏; 625 - 688), bồi táng Chiêu lăng[14].
  3. Vong cung Ngũ phẩm Mỗ thị (亡宮五品某氏; ? - 657), bồi táng Chiêu lăng.
  4. Tam phẩm Vong ni Mỗ thị (三品亡尼某氏), xuất gia làm ni sư, bồi táng Chiêu lăng.
  5. Thất phẩm Điển đăng (七品典燈), bồi táng Chiêu lăng.
Tình phụ không được công nhận
  1. Sào Lạt vương phi Dương thị (巢剌王妃楊氏), vợ của Sào Lạt vương (nguyên là Tề vương) Lý Nguyên Cát. Sinh ra Tào Cung vương Lý Minh.
  2. Đao nhân Cao Huệ Thông (高惠通; 597 - 626), người Bột Hải, cháu gái của Cao Thành Tịnh (高成并), con gái của Cao Thế Đạt (高世达) thời nhà Tùy[15].
  3. Vương thị (王氏), sinh Tương vương Lý Uẩn, không rõ truyện, chỉ biết sinh ra Lý Uẩn.
  4. Cung nhân không rõ họ, vốn là thiếp của Lư Giang vương Lý Viện[16].

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Tình trạng này xảy ra khá nhiều ở các chế độ cung đình chưa hoàn bị, như Hậu cung nhà Thanh thời Khang Hi cũng như vậy.
  2. ^ Những chỗ □ trong trích bia đều là những chỗ bị khuyết trên văn bản, không rõ chữ gì nên phải thay dấu như vậy.
  3. ^ Cách gọi "Hạ tần" ở đây không rõ nghĩa, có ý cho rằng đây là cách gọi chung của hàng Ngự thiếp của hậu cung nhà Đường.

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ 《舊唐書·后妃上》: 唐因隋制,皇后之下,有貴妃、淑妃、德妃、賢妃各一人,為夫人,正一品;昭儀、昭容、昭媛、修儀、修容、修媛、充儀、充容、充媛各一人,為九嬪,正二品;婕妤九人,正三品;美人九人,正四品;才人九人,正五品;寶林二十七人,正六品;御女二十七人,正七品;采女二十七人,正八品;其餘六尚諸司,分典乘輿服御。
  2. ^ 《新唐書·后妃上》: 唐制:皇后而下,有貴妃、淑妃、德妃、賢妃,是為夫人。昭儀、昭容、昭媛、修儀、修容、修媛、充儀、充容、充媛,是為九嬪。婕妤、美人、才人各九,合二十七,是代世婦。寶林、御女、采女各二十七,合八十一,是代御妻。自餘六尚,分典乘輿服御,皆有員次。
  3. ^ 唐昭陵有《赵国杨太妃碑》,李俨撰、畅整书,立碑时间不明,记载于《京兆金石录》、《宝刻类编》,碑文已佚。《杨台墓志》载“又以姉在后庭,编名戚里。其年,以妃嫔之亲授尚食直长”,杨贵妃与杨台之姐、杨玄奖女、杨素孙女是否为同一人,无考。
  4. ^ 《大唐故贈司空荆州大都督上柱国趙王墓志銘》:“王,杨贵妃之所生也。”
  5. ^ 陕西省考古研究院; 昭陵博物馆 (1 tháng 6 năm 2017). “唐昭陵韦贵妃墓发掘报告”. 附录二 阴嫔墓简况. 陕西省考古研究院田野考古报告 ISBN 9787030527813. 科学出版社. ISBN 978-7-03-052781-3. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2020.
  6. ^ 《唐会要·卷二十一·列传第二十一》: 昭陵陪葬名氏。越国太妃燕氏。赵国太妃杨氏。纪国太妃韦氏。贤妃郑氏。才人徐氏。郑国夫人。彭城郡夫人。
  7. ^ 《大唐故文帝昭容一品韦氏墓志之铭》: 昭容讳尼子,京兆杜陵人也。曾祖孝宽,□尚书右仆射、雍州牧、□□□;祖总,周京兆尹、□□□□;父匡伯,隋尚衣□□、□□公。昭容武德四年□□□以良家受选。*登□□,系声芳,史所□□□□顺为德,赞阴□□。□□纟川组斯勤,*女□□尔□。慕班姬之绮制,□左□之雕藻。尤嗤易服之□,□□掌中之爱,而天□□□,率性柔婉。风人之近方□□,隐士之远遇神仙,*而为言,足为连类。而春□□□,□与日以长□;暮槿翘英,奄随风而遽殒。以显庆元*九月八日遘疾,薨於崇圣宫,春秋五十。以□月十八日陪葬昭陵,礼也。凝笳哀挽,俱怆荒郊。素□朱旗,□翻寒吹。□□云归雨绝,阳台之梦不追;设帐焚香,甘泉之魂□远。式题贞石,作志佳城。□坤贻祉,造化留神,诞兹令淑,禀□含□。兰姿以茂,蕙性逾新,覃誉素里,扬晖紫宸。其一。□月□□,松□推雩,金闺独立,玉阶微步。同辇致词,□熊□顾,□□介福,俄归大暮。其二。芳笄罢饰,实镜徒悬,□□仪卫,八翳神仙。旌回亻戚里,吹引芝田,谢容晖於白日,掩桃李於黄泉。其三。(西安昭陵博物馆藏石,录自《昭陵碑石》)
  8. ^ 霍斌 (2015). “《唐代前期内官制度研究》”. 乾陵文化研究 (bằng tiếng Trung). 陕西省咸阳市: 乾陵博物馆 (2015年第00期): 236. Chú thích có các tham số trống không rõ: |laydate=, |laysource=, |laysummary=, |month=, |quotes=, và |coauthors= (trợ giúp)
  9. ^ 《大唐故婕妤三品亡尼墓志铭並序》: 宫人諱字,不知何許人也,祖代閥難」可詳言。某愔愔雅志,窈窕其儀,蘊範維之」工,體温恭之德。奉獸闈之列,夙興匪懈;參」鶴籥之流,晨夕無怠。方將永承景殿,長奉」青宫。忽掩娥暉,光沉婺彩。以麟德二年十」二月□日遘疾,〓于某所。春秋(下泐)處,禮」也。紀清徽,乃為銘曰:」峻趾極天,長闌紀地,金碧斯蘊,殊毗云閟。」蟬聯,襲葉承徽。載誕莊〓,真懿斯歸,色」豔緑波,鮮侔翠羽。領鋪爾佳,晝堂晨武,藏」舟遽徙,夜□俄沉。名香徒馥,虛帳莫臨,去」去靈輿,悠悠大暮。山烟引碧,隴雲凝素,翠石方傳,清風永樹。(録自《隋唐五代墓誌匯編》陝西卷第三冊)
  10. ^ 冊楊恭道女為婕妤文: 維貞觀某年月日,皇帝遣使某官某持節冊命曰:於戲!惟爾前魏王府諮議參軍楊恭道第三女,門襲鍾鼎,訓彰禮則,幽閑表質,柔順為心。備職後庭,寔惟通典,是用命爾為婕妤。往,欽哉!其光膺徽命,可不慎歟!
  11. ^ 冊蕭鑠女為美人文: 維貞觀年月日云云,於戲!蕭鑠第二女,稟訓冠族,著美家聲,習禮流譽,鏡圖有則。宜升後庭,允茲令典,是用命爾為美人。往,欽哉!其光膺徽命,可不慎歟!
  12. ^ 冊崔宏道女為才人文: 維貞觀某年月日,皇帝使某官某副使某官某持節冊命曰:於戲!惟爾兼徐州都督府司馬崔宏道長女,門稱著姓,訓有義方,婉順為質,柔明表行。宜升後庭,備茲內職,是用命爾為才人。往,欽哉!其光膺徽命,可不慎歟!
  13. ^ 冊蕭鏗女為才人文: 維貞觀年月日云云,於戲!惟蕭鏗第二女,幼習禮訓,夙表幽閑,胄出鼎族,譽聞華閫。宜遵舊章,授以內職,是用命爾為才人。往欽哉!其光膺徽命,可不慎歟!
  14. ^ 墓志《大唐故亡宫三品尼金氏之柩》
  15. ^ 《太尉秦王刀人高墓志铭》:刀人字惠通,渤海人,其先高辛氏之胤也。祖成並,世著英聲,門傳冠冕,金玉交映,青紫相暉。父世達,隋密州高密縣令,制錦有方,不假詢於子產;弦歌遠播,遂得之於子遊。刀人立性溫恭,禀質柔順,三從既備,四德無虧,武德五年六月五日被選入內,以為刀人。睹洛神之詞,嗤毖妃之嬌態;觀鵲巢之泳,慕后妃之令淑;秋風未發,悲蘭惠之早;寒霜靡零,嗟桃李之先落。武德九年四月十日寢疾卒於公館,春秋卅,即以其月十四日葬於長安縣龍首鄉,乃為銘日:洪源眇眇,華青綿綿。公侯世及,冠冕相傳。誕生淑懿,絕後光前。蘭桂競馥,桃李爭妍。始陪華館,翻悲逝川。草低曉露,松沒朝煙。如何匣玉,永閟幽泉。
  16. ^ 《貞觀政要 求諫第四》: 貞觀初,太宗與黃門侍郎王珪宴語,時有美人侍側,本廬江王瑗之姬也,瑗敗,籍沒入宮。太宗指示珪曰:「廬江不道,賊殺其夫而納其室,暴虐之甚,何有不亡者乎!」珪避席曰:「陛下以廬江取之為是邪,為非邪?」太宗曰:「安有殺人而取其妻,卿乃問朕是非,何也?」珪對曰:「臣聞於《管子》曰:齊桓公之郭國,問其父老曰:『郭何故亡?』父老曰:『以其善善而惡惡也。』桓公曰:『若子之言,乃賢君也,何至於亡?』父老曰:『不然。郭君善善而不能用,惡惡而不能去,所以亡也。』今此婦人尚在左右,臣竊以為聖心是之。陛下若以為非,所謂知惡而不去也。」太宗大悅,稱為至善,遽令以美人還其親族。