Mở trình đơn chính

Harry Maguire

Trung vệ bóng đá người Anh

Jacob Harry Maguire (sinh ngày 5 tháng 3 năm 1993) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Anh thi đấu ở vị trí trung vệ cho câu lạc bộ Manchester United FC tại giải Premier Leagueđội tuyển quốc gia Anh.

Harry Maguire
Harry Maguire 2018-07-11 1.jpg
Maguire thi đấu cho Anh tại World Cup 2018
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Jacob Harry Maguire[1]
Ngày sinh 5 tháng 3, 1993 (26 tuổi)[2]
Nơi sinh Sheffield, Anh
Chiều cao 6 ft 4 in (1,94 m)[3]
Vị trí Trung vệ
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Manchester United
Số áo 5
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
0000–2011 Sheffield United
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2011–2014 Sheffield United 134 (9)
2014–2017 Hull City 54 (2)
2015Wigan Athletic (mượn) 16 (1)
2017–2019 Leicester City 69 (5)
2019– Manchester United 4 (0)
Đội tuyển quốc gia
2012 U-21 Anh 1 (0)
2017– Anh 22 (1)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 31 tháng 8 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 10 tháng 9 năm 2019

Sinh ra ở Sheffield, Maguire đã tham gia đội bóng thanh thiếu niên tại Sheffield United trước khi lên đội một vào năm 2011. Anh ấy đã có tổng cộng 166 trận đấu chuyên nghiệp cho Blades và là Cầu thủ của năm ba lần liên tiếp, cũng góp mặt trong Đội hình của năm của PFA cho League One nhiều lần. Năm 2014, Maguire chuyển đến Hull City với giá 2,5 triệu bảng, sau đó anh đã được câu lạc bộ này cho Wigan Athletic mượn vào năm 2015. Anh gia nhập Leicester City vào năm 2017 với mức phí tiềm năng 17 triệu bảng. Năm 2019, anh rời Leicester City và gia nhập Manchester United với mức phí chuyển nhượng kỉ lục 80 triệu bảng và đồng thời khiến anh trở thành trung vệ đắt giá nhất thế giới.[4]

Maguire đã chơi một trận cho đội tuyển U21 Anh vào năm 2012. Vào tháng 10 năm 2017, anh đã có trận ra mắt đội tuyển quốc gia, và đã được chọn vào đội hình tham dự FIFA World Cup 2018.

Mục lục

Sự nghiệp câu lạc bộSửa đổi

Sheffield UnitedSửa đổi

 
Maguire chơi cho Sheffield United vào năm 2011

Maguire sinh ra ở Sheffield, Miền nam Yorkshire.[5] Sau khi trãi qua thời gian đào tạo tại Sheffield United, anh ấy được đôn lên đội 1 và có trận ra mắt câu lạc bộ ở trận gặp Cardiff City vào tháng 4 năm 2011.[6] Anh đã có 4 lần ra sân trong mùa giải đó nhưng không thể giúp cho câu lạc bộ tránh bị xuống hạng ở League One.[7][8]

Sau khi củng cố vị trí của mình trong đội một, Maguire đã ghi bàn thắng đầu tiên cho đội bóng có biệt danh là "Lưỡi dao" trong chiến thắng 2-0 trước Oldham Athletic ở mùa giải League One 2011–12.[9] Đã góp mặt từ đầu mùa giải, Maguire đã được trao một hợp đồng gia hạn vào tháng 10 để giữ anh ta ở lại sân Bramall Lane cho đến năm 2015.[10] Anh tiếp tục với phong độ tuyệt vời khi giúp The Blades chút nữa thăng hạng và được câu lạc bộ bình chọn là cầu thủ xuất sắc nhất mùa và cầu thủ trẻ xuất sắc nhất mùa.[11] Maguire bước vào mùa giải tiếp theo với tư cách là cầu thủ trụ cột ở vị trí trung vệ, anh lập cú đúp trong trận đấu ở Cúp Liên đoàn với chiến thắng 4-1 trước Notts County trên sân Meadow Lane vào ngày 17 tháng 10 năm 2012.[11] Vào cuối tháng 2 năm 2013, Maguire đã đạt cột mốc 100 trận cho Sheffield United trong trận hòa 0-0 với Leyton Orient tại Bramall Lane ở tuổi 19.[12][13]

Hull CitySửa đổi

 
Maguire sau chiến thắng của Hull City trước Sheffield Wednesday trong trận chung kết play-off Football League Championship 2016

Vào ngày 29 tháng 7 năm 2014, Maguire gia nhập Hull City trong một thỏa thuận trị giá 2,5 triệu bảng, ký hợp đồng ba năm.[14] Anh ra mắt cho Hull City vào ngày 21 tháng 8 tại vòng play-off UEFA Europa League lượt đi gặp đối thủ đến từ Bỉ đó là K.S.C. Lokeren Oost-Vlaanderen, thất bại với tỷ số 0-1.[15]

Thống kê sự nghiệpSửa đổi

Câu lạc bộSửa đổi

Tính đến ngày 31 tháng 8 năm 2019
Appearances and goals by club, season and competition
Câu lạc bộ Mùa giải Premier League FA Cup League Cup Châu Âu Khác Tổng cộng
Hạng Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Sheffield United 2010–11[7] Championship 5 0 0 0 0 0 5 0
2011–12[16] League One 44 1 4 0 2 0 6 0 56 1
2012–13[17] League One 44 3 4 0 1 0 4 2 53 5
2013–14[18] League One 41 5 8 1 1 0 2 0 52 6
Tổng cộng 134 9 16 1 4 0 12 2 166 12
Hull City 2014–15[19] Premier League 3 0 1 0 1 0 1 0 6 0
2015–16[20] Championship 22 0 4 0 5 0 2 0 33 0
2016–17[21] Premier League 29 2 1 0 6 1 36 3
Tổng cộng 54 2 6 0 12 1 1 0 2 0 75 3
Wigan Athletic (mượn) 2014–15[19] Championship 16 1 16 1
Leicester City 2017–18[22] Premier League 38 2 3 0 3 0 44 2
2018–19[23] Premier League 31 3 0 0 1 0 32 3
Tổng cộng 69 5 3 0 4 0 76 5
Manchester United 2019–20[24] Premier League 4 0 0 0 0 0 0 0 4 0
Tổng cộng sự nghiệp 277 17 25 1 20 1 1 0 14 2 337 21

Quốc tếSửa đổi

Tính đến Trận đấu diễn ra ngày 10 tháng 9 năm 2019[25]
Số lần ra sân và bàn thắng theo đội tuyển quốc gia và năm
Đội tuyển quốc gia Năm Số trận Bàn thắng
Anh 2017 3 0
2018 13 1
2019 6 0
Tổng cộng 22 1

Bàn thắng quốc tếSửa đổi

Tính đến trận đấu diễn ra ngày 9 tháng 6 năm 2019. Tỉ số Anh liệt kê đầu tiên, cột tỉ số biểu thị tỉ số sau mỗi bàn thắng của Maguire.[25]
Bàn thắng quốc tế theo ngày, địa điểm, số lần ra sân, đối thủ, tỉ số, kết quả và giải đấu
# Ngày Địa điểm Số lần ra sân Đối thủ Tỉ số Kết quả Giải đấu Ref.
1 7 July 2018 Cosmos Arena, Samara, Nga 10   Thụy Điển 1–0 2–0 World Cup 2018 [26]

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ “Professional retain list & free transfers 2012/13” (PDF). The Football League. 18 tháng 5 năm 2013. tr. 44. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 10 năm 2013. 
  2. ^ “FIFA World Cup Russia 2018: List of players: England” (PDF). FIFA. 15 tháng 7 năm 2018. tr. 10. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018. 
  3. ^ “Harry Maguire: Overview”. Premier League. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2018. 
  4. ^ https://laodong.vn/bong-da-quoc-te/top-10-hau-ve-dat-gia-nhat-the-gioi-dat-xat-ra-mieng-748032.ldo
  5. ^ Rollin, Glenda; Rollin, Jack biên tập (2012). Sky Sports Football Yearbook 2012–2013 (ấn bản 43). London: Headline Publishing Group. tr. 526. ISBN 978-0-7553-6356-8. 
  6. ^ “Sheffield Utd vs Cardiff City”. Sheffield United F.C. 12 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2011. 
  7. ^ a ă Bản mẫu:Soccerbase season
  8. ^ “Sheffield United chief admits 'we got it wrong' after relegation from Championship following Barnsley draw”. The Daily Telegraph (London). 1 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2019. 
  9. ^ “Blades too sharp for Latics”. Sky Sports. 6 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2011. 
  10. ^ “Long-term deal for Harry”. Sheffield United F.C. 19 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2011. 
  11. ^ a ă “Evans named in League One team”. The Football League. 23 tháng 4 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2012. 
  12. ^ “Milestone for Blades teenager”. Sky Sports. 28 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2013. 
  13. ^ “Sheffield United: Blades made fresh offer to defender”. Sheffield Star. 21 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2014. 
  14. ^ “Tigers Complete Maguire And Robertson Deals”. Hull City A.F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  15. ^ “KSC Lokeren 1–0 Hull City”. BBC Sport. 21 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2018. 
  16. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  17. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  18. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  19. ^ a ă Bản mẫu:Soccerbase season
  20. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  21. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  22. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  23. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  24. ^ Bản mẫu:Soccerbase season
  25. ^ a ă “Maguire, Harry”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2019. 
  26. ^ McNulty, Phil (7 tháng 7 năm 2018). “Sweden 0–2 England”. BBC Sport. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2018. 

Liên kết ngoàiSửa đổi