Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân

Thủ trưởng hành chính cấp tỉnh Trung Quốc
(đổi hướng từ Tỉnh trưởng)

Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân (tiếng Trung: 省级行政区行政首长, bính âm Hán ngữ: Shěng jí Xíngzhèngqū Xíngzhèng Shǒuzhǎng, Từ Hán – Việt: Tỉnh cấp hành chính khu Hành chính Thủ trưởng) là vị trí cán bộ, công vụ viên địa phương thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chức vụ quản lý hành chính vai trò kinh tế – xã hội.[1] Trung Quốc bao gồm 33 đơn vị hành chính địa phương, trong đó có 22 tỉnh, 04 thành phố trực thuộc trung ương, năm khu tự trị, hai đặc khu hành chính. Trung Quốc đại lục bao gồm 31 đơn vị hành chính (trừ hai đặc khu hành chính).

Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân
Lãnh đạo Quốc gia Tối caoTập Cận Bình
Lãnh đạo hành chínhLý Khắc Cường
Tuân thủHiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Nhiệm vụQuản lý hành chính cấp tỉnh
Thủ trưởng hành chínhTrực hạt thị (4)
Tỉnh (22)
Khu tự trị (5)
Đặc khu hành chính (2)
Chức vụ cụ thểTỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân
Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố trực thuộc trung ương
Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị
Đặc khu trưởng Đặc khu hành chính
HàmBộ trưởng
Thường làỦy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Nhiệm kỳ5 năm
Bầu cửĐại hội Đại biểu Nhân dân đơn vị hành chính
Bầu cử Đặc khu trưởng
Bổ nhiệm bởiTổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Tên gọi cũChủ tịch Chính phủ Nhân dân (1949 - 1955)
Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân (1955 - 1967)
Chủ nhiệm Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Kiểm soát (1967 - 1968)
Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng (1968 - 1979)
Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân (1979 đến nay)
Bắc KinhTrần Cát Ninh
Thiên TânTrương Quốc Thanh
Thượng HảiCung Chính
Trùng KhánhĐường Lương Trí
An HuyLý Quốc Anh
Cam TúcĐường Nhân Kiện
Cát LâmCảnh Tuấn Hải
Chiết GiangViên Gia Quân
Giang TôNgô Chính Long
Giang TâyDịch Luyện Hồng
Hà BắcHứa Cần
Hà NamDoãn Hoằng
Hải NamThẩm Hiểu Minh
Hắc Long GiangVương Văn Đào
Hồ BắcVương Hiểu Đông
Hồ NamHứa Đạt Triết
Liêu NinhLưu Ninh
Phúc KiếnVương Ninh
Quảng ĐôngMã Hưng Thụy
Quý ChâuKham Di Cầm
Sơn ĐôngLý Cán Kiệt
Sơn TâyLâm Vũ
Thanh HảiTạm trồng
Thiểm TâyLưu Quốc Trung
Tứ XuyênDoãn Lực
Vân NamNguyễn Thành Phát
Ninh HạHàm Huy
Nội Mông CổBố Tiểu Lâm
Quảng TâyTrần Vũ
Tân CươngShohrat Zakir
Tây TạngChe Dalha
Regional Emblem of Hong Kong.svg Hồng KôngLâm Trịnh Nguyệt Nga
Regional Emblem of Macau.svg Ma CaoHạ Nhất Thành
Thông tin đương đại
Chủ nghĩa cộng sản
31 / 33
Ủy viên Trung ương Đảng
24 / 205
Ủy viên Dự khuyết
7 / 172
Người Hán
27 / 33
Thủ trưởng Nữ
3 / 33

Đứng đầu đơn vị hành chính địa phương bao gồm Đảng bộ đơn vị hành chính và Chính phủ Nhân dân đơn vị hành chính. Người đứng đầu Đảng bộ đơn vị là Bí thư Đảng ủy đơn vị hành chính, gồm các vị trí tương đương là Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy, Bí thư Khu ủy. Người đứng đầu Chính phủ Nhân dân đơn vị hành chính bao gồm các vị trí tương đương là Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh, Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố trực thuộc trung ương, Chủ tịch Chính phủ Nhân dân khu tự trị, Trưởng quan Hành chính Khu hành chính đặc biệt (gọi chung là Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân). Tại mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc, Bí thư là người đứng đầu, Tỉnh trưởng đứng vị trí thứ hai, đều giữ hàm Chính tỉnh – Chính bộ, tương đường Bộ trưởng. Các vị trí lãnh đạo này trong Trung Hoa kỷ nguyên XXI thường là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc các khóa.

Trong lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chức vụ Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân đứng đầu cơ quan hành chính địa phương từng đổi tên là Chính phủ Nhân dân tỉnh, trực hạt thị, khu tự trị (1949 – 1955), Ủy ban Nhân dân tỉnh, trực hạt thị, khu tự trị (1955 – 1967), Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Kiểm soát tỉnh (1967 – 1968), Ủy ban Cách mạng tỉnh, trực hạt thị, khu tự trị (1968 – 1979), tái lập Chính phủ Nhân dân tỉnh, trực hạt thị, khu tự trị (1979 đến nay) và Chính phủ Khu hành chính đặc biệt. Các tên gọi Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân hiện nay gồm Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Chủ tịch và Trưởng quan.

Hiện tại, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân thường giữ vị trí Phó Bí thư Tỉnh ủy, đóng vai trò trong cả tổ chức Đảng và Nhà nước.

Quy định và trách nhiệmSửa đổi

Quy phạm pháp luậtSửa đổi

Hiến pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung HoaSửa đổi

 
Nhân Đại Trung Quốc bổ sung Hiến pháp Bát Nhị, năm 2018.

Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bao gồm Hiến pháp năm 1949 (Hiến pháp tạm thời), Hiến pháp Ngữ Tứ năm 1954, Hiến pháp Thất Ngũ năm 1975, Hiến pháp Thất Bát năm 1978 và hiện nay là Hiến pháp Bát Nhị năm 1982. Từ năm 1982, Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (Trung Quốc) đã sửa đổi, bổ sung Hiến pháp Bát Nhị năm lần, gần đây nhất là năm 2018. Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chứa đựng những quy tắc tối cao về Chính phủ Nhân dân cấp tỉnh. Trung Quốc tuân thủ nguyên tắc chung là Nguyên tắc tập trung dân chủ, nêu tại Điều 3, Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chính phủ Nhân dân các đơn vị đều là cơ quan nhà nước, là cơ quan hành chính, tuân thủ luật pháp quốc gia. Chính phủ Nhân dân đơn vị, đứng đầu là Thủ trưởng được bầu bởi Đại hội Đại biểu Nhân dân đơn vị đó.

Điều 3. Nguyên tắc tập trung dân chủ.

"Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc và Đại hội Đại biểu Nhân dân các cấp đều chịu trách nhiệm trước nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. Cơ quan hành chính, cơ quan xét xử, cơ quan kiểm sát đều do Đại hội Đại biểu Nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm, và chịu sự giám sát của cơ quan này. Sự phân cấp chức năng, quyền hạn của cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương phải tuân theo sự lãnh đạo thống nhất từ trung ương dựa trên nguyên tắc phát huy đầy đủ tính chủ động, tích cực của địa phương."

Chính phủ Nhân dân các đơn vị, đơn cử như Chính phủ Nhân dân dân tỉnh, Chính phủ Nhân dân thành phố trực thuộc trung ương, Chính phủ Nhân dân khu tự trị đều là các cơ quan hành chính với lãnh đạo là Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Chủ tịch. Tổ chức lãnh đạo các cơ quan hành chính này là Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Điều 89. Chức năng, quyền hạn của Quốc vụ viện.

Tiểu mục (4) chức năng của Quốc vụ viện:

"Thống nhất lãnh đạo công tác của cơ quan hành chính nhà nước các cấp địa phương trên cả nước, quy định ranh giới chức năng quyền hạn giữa cơ quan hành chính nhà nước trung ương với các cấp địa phương như tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc trung ương."

Tiểu mục (14): "Sửa đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định và mệnh lệnh không phù hợp do cơ quan hành chính nhà nước địa phương các cấp ban hành."

Tiểu mục (17): "Xem xét biên chế của cơ quan hành chính, miễn nhiệm, bồi dưỡng, sát hạch, thưởng phạt cán bộ hành chính theo quy định pháp luật."

Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có những điều quy định về tổ chức, địa vị, chế độ trách nhiệm, nhiệm kỳ, chức năng, quyền hạn, mối quan hệ với các đơn vị hành chính khác.

Điều 105. Tổ chức, địa vị và chế độ trách nhiệm của chính phủ địa phương. Chính phủ nhân dân các cấp địa phương là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước các cấp địa phương, là cơ quan hành chính nhà nước cấp địa phương. Chính phủ nhân dân cấp tỉnh thực hiện chế độ Tỉnh trưởng, Thị trưởng, Chủ tịch chịu trách nhiệm.

Điều 106. Nhiệm kỳ của chính phủ địa phương. Chính phủ nhân dân các cấp địa phương có nhiệm kỳ trùng với nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu nhân dân các cấp địa phương.

Điều 107. Chức năng, quyền hạn của chính phủ địa phương. Chính phủ nhân dân cấp tỉnh có quyền hạn do pháp luật quy định, quản lý các công tác hành chính, kinh tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, vệ sinh, sự nghiệp thể chất, quy hoạch xây dựng thành phố, thị trấn, tài chính, dân chính, công an, sự nghiệp dân tộc, hành chính tư pháp, kiểm sát, sinh đẻ kế hoạch… của khu vực hành chính đó. Ban hành các quyết định và mệnh lệnh miễn nhiệm, bồi dưỡng, sát hạch và thưởng phạt công nhân viên chức. Chính phủ Nhân dân cấp tỉnh quyết định quy hoạch, phân định địa giới hành chính Hương, Hương dân tộc và Trấn.

Điều 108. Mối quan hệ giữa chính phủ địa phương và chính phủ địa phương các cấp. Lãnh đạo chính phủ nhân dân cấp tỉnh phụ trách công tác các bộ phận của chính phủ nhân dân cấp dưới, có quyền sửa đổi hoặc huỷ bỏ các quyết định không phù hợp của các bộ phận trực thuộc và chính phủ nhân dân cấp dưới.

Điều 110. Mối quan hệ giữa chính phủ địa phương với Đại hội Đại biểu nhân dân cùng cấp và chính phủ cấp trên. Chính phủ nhân dân các cấp địa phương chịu trách nhiệm và báo cáo công tác với Đại hội Đại biểu nhân dân cùng cấp. Chính phủ Nhân dân cấp tỉnh trong thời gian Đại hội Đại biểu Nhân dân cấp tỉnh không họp, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Uỷ ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân cấp tỉnh. Chính phủ Nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc vụ viện. Chính phủ Nhân dân cấp tỉnh trong cả nước đều do cơ quan hành chính nhà nước là Quốc vụ viện thống nhất lãnh đạo và phục tùng sự quản lý của Quốc Vụ viện.[3]

Quy phạm pháp luật về tổ chức địa phươngSửa đổi

Hệ thống tổ chức địa phương được xây dựng dựa trên định chế Trung Hoa. Đảng lãnh đạo toàn thể, phối hợp cùng chính quyền, tạo thành cơ cấu bốn tổ chức chủ đạo gồm: tổ chức Đảng địa phương lãnh đạo thứ nhất; tổ chức Chính phủ địa phương quản lý hành chính; tổ chức Đại hội Đại biểu Nhân dân địa phương đại diện cho Nhân dân; tổ chức Chính Hiệp địa phương đoàn kết mọi tầng lớp. Chính phủ Nhân dân cấp tỉnh còn được quy định bằng Luật Tổ chức Chính quyền Nhân dân địa phương và Đại hội Đại biểu Nhân dân địa phương Trung Quốc. Các vấn đề về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan hành chính này được quy định cụ thể tại Điều 59 của Luật này. Đó là:

  • Thực hiện nghị quyết của Đại hội Đại biểu Nhân dân ở cấp tương ứng và các Ủy ban Thường vụ, cũng như các quyết định và mệnh lệnh của các Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, quy định các biện pháp hành chính, và ban hành các quyết định và mệnh lệnh;
  • Chỉ đạo công việc của các lĩnh vực khác nhau và chỉ đạo Chính phủ Nhân dân cấp dưới;
  • Thay đổi hoặc thu hồi các mệnh lệnh, hướng dẫn không phù hợp, các quyết định và mệnh lệnh không phù hợp của Chính quyền Nhân dân cấp dưới;
  • Bổ nhiệm, sa thải, đào tạo, đánh giá và khen thưởng và, kỷ luật công chức, viên chức của các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật;
  • Thực hiện kế hoạch và ngân sách phát triển kinh tế và xã hội quốc gia, quản lý kinh tế, giáo dục, khoa học, văn hóa, y tế, thể thao, bảo vệ tài nguyên môi trường, xây dựng đô thị và nông thôn, tài chính, dân sự, an ninh công cộng, dân tộc và quản lý tư pháp trong khu vực hành chính tương. Công việc hành chính như giám sát và kế hoạch hóa gia đình;
  • Bảo vệ tài sản xã hội thuộc sở hữu của toàn dân và tài sản chung của quần chúng lao động, bảo vệ tài sản tư nhân thuộc sở hữu của công dân, duy trì trật tự xã hội và bảo vệ các quyền cá nhân, dân chủ và các quyền khác của công dân;
  • Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức kinh tế khác nhau;
  • Bảo vệ quyền của các dân tộc thiểu số và tôn trọng các phong tục và tập quán của các dân tộc thiểu số, giúp các dân tộc thiểu số địa phương trong khu vực hành chính của họ thực hiện quyền tự trị khu vực theo Hiến pháppháp luật, và giúp tất cả các dân tộc thiểu số phát triển các chủ trương xây dựng chính trị, kinh tế và văn hóa;
  • Đảm bảo quyền của phụ nữ và nam giới đối với sự bình đẳng giữa nam và nữ, trả công bằng nhau cho công việc bình đẳng và tự do kết hôn, như được quy định trong Hiến pháppháp luật.
  • Thực thi và tuân thủ các vấn đề khác được giao bởi các cơ quan hành chính nhà nước cấp cao hơn.[4]

Khu vực cấp tỉnh Trung HoaSửa đổi

Hiện tại, với 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, có 31 lãnh đạo cấp Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân, bao gồm 22 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân, 04 Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố trực thuộc trung ương, 05 Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị, cấp Bộ trưởng. 31 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân này là lãnh đạo Chính phủ Nhân dân 31 đơn vị hành chính. Ngoại trừ lãnh đạo Hồng KôngMa Cao, hai đơn vị hành chính đặc biệt, giữ chức danh chính thức là Trưởng quan Hành chính Đặc khu Hành chính.

Các đơn vị hành chính Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa[5]
 

Bắc Kinh

 

Cam Túc công viên

 

Tung Sơn Hà Nam

 

Đông Thượng Hải

 

Hồng Kông

Tỉnh (省) Tiếng Bính âm Tỉnh lỵ Tỉnh (省) Tiếng Bính âm Tỉnh lỵ  

Hồ Nam thắng cảnh

 

Quảng Đông thành

 

Hà Nhì Vân Nam

 

Nội Mông Cổ

 

Potala, Tây Tạng

1 An Huy[6] 安徽 Ānhuī Hợp Phì 12 Hồ Nam[7] 湖南 Húnán Trường Sa
2 Cam Túc[8] 甘肃 Gānsù Lan Châu 13 Liêu Ninh[9] 辽宁 Liáoníng Thẩm Dương
3 Cát Lâm[10] 吉林 Jílín Trường Xuân 14 Phúc Kiến[11] 福建 Fújiàn Phúc Châu
4 Chiết Giang[12] 浙江 Zhèjiāng Hàng Châu 15 Quảng Đông[13] 广东 Guǎngdōng Quảng Châu
5 Giang Tô[14] 江苏 Jiāngsū Nam Kinh 16 Quý Châu[15] 贵州 Guìzhōu Quý Dương
6 Giang Tây[16] 江西 Jiāngxī Nam Xương 17 Sơn Đông[17] 山东 Shāndōng Tế Nam
7 Hà Bắc[18] 河北 Héběi Thạch Gia Trang 18 Sơn Tây[19] 山西 Shānxī Thái Nguyên
8 Hà Nam[20] 河南 Hénán Trịnh Châu 19 Thanh Hải[21] 青海 Qīnghǎi Tây Ninh
9 Hải Nam[22] 海南 Hǎinán Hải Khẩu 20 Thiểm Tây[23] 陕西 Shǎnxī Tây An
10 Hắc Long Giang[24] 黑龙江 Hēilóngjiāng Cáp Nhĩ Tân 21 Tứ Xuyên[25] 四川 Sìchuān Thành Đô
11 Hồ Bắc[26] 湖北 Húběi Vũ Hán 22 Vân Nam[27] 云南 Yúnnán Côn Minh
Yêu sách Đài Loan (台湾/Táiwān) thành một tỉnh.
Trực hạt thị (直轄市) Tiếng Bính âm Thủ đô
Bắc Kinh
Khu tự trị (自治区) Tiếng Bính âm Thủ phủ
1 Bắc Kinh[28] 北京 Běijīng 1 Ninh Hạ[29] 宁夏 Níngxià Ngân Xuyên
2 Thiên Tân[30] 天津 Tiānjīn 2 Nội Mông[31] 内蒙古 Nèi Měnggǔ Hohhot
3 Thượng Hải[32] 上海 Shànghǎi 3 Quảng Tây[33] 广西 Guǎngxī Nam Ninh
4 Trùng Khánh[34] 重庆 Chóngqìng 4 Tân Cương[35] 新疆 Xīnjiāng Ürümqi
Trực thuộc trung ương 5 Tây Tạng[36] 西藏 Xīzàng Lhasa
Đặc khu (特区) Tiếng Bính âm Thời gian Đặc khu (特区) Tiếng Bính âm Thời gian
1 Hồng Kông[37] 香港 Xiānggǎng Từ năm 1997 2 Ma Cao[38] 澳門 Àomén Từ năm 1999
Trung Quốc có 22 tỉnh, bốn trực hạt thị, năm khu tự trị, tất cả 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh.

Bản đồ đơn vị hành chính Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa:

Ấn vào các đơn vị hành chính để có thêm thông tin. Ấn vào đây xem bản đồ tiếng Anh, vào đây xem bản đồ tiếng Việt.
Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân CươngKhu tự trị Tây TạngThanh HảiCam TúcTứ XuyênVân NamKhu tự trị dân tộc Hồi Ninh HạKhu tự trị Nội Mông CổThiểm TâyThành phố Trùng KhánhQuý ChâuKhu tự trị dân tộc Choang Quảng TâySơn TâyHà NamHồ BắcHồ NamQuảng ĐôngHải NamHà BắcHắc Long GiangCát LâmLiêu NinhThủ đô Bắc KinhThành phố Thiên TânSơn ĐôngGiang TôAnhuiThành phố Thượng HảiChiết GiangGiang TâyPhúc KiếnĐặc khu hành chính Hồng KôngĐặc khu hành chính Ma CaoĐài Loan 
Thông tin về hình này

Cơ chế Tỉnh trưởngSửa đổi

Danh sách Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dânSửa đổi

Các tên gọi theo thời kỳSửa đổi

Trong lịch sử Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chức vụ Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân có các tên gọi là:

  • Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh (1949 – 1955).
  • Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân (1955 – 1967
  • Chủ nhiệm Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Kiểm soát tỉnh (1967 – 1968)
  • Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh (1968 – 1979)
  • Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân (1979 đến nay).

Thủ trưởng khu vực đại lụcSửa đổi

An HuySửa đổi

Thời kỳ đầuSửa đổi

 
Thượng tướng Lý Đức Sinh (1916 – 2011), Phó Chủ tịch Đảng, Lãnh đạo Quốc gia, Chủ nhiệm An Huy (1967 – 1973).
 
Vạn Lý (bên trái) cùng Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Chu Đức, Bành Chân thảo luận về xây dựng Thiên An Môn.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập vào năm 1949, An Huy bị phân thành hai khu hành chính cấp tỉnh là Hoàn BắcHoàn Nam, lấy Trường Giang làm ranh giới. Thủ trưởng khu vực này từ năm 1949 đến năm 1952 là Tống Nhiệm Cùng (tiếng Trung: 宋任穷, bính âm: Sòng Rèn Qióng, Latinh: Song Renqiong, tên cũ: 宋韵琴, Biệt hiệu: Tống Vận Cầm. 1909 – 2005)[39], Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, cán bộ cao cấp sau đó là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Vào ngày 07 tháng 08 năm 1952, Ủy ban Hành chính Hoàn Bắc và Ủy ban Hành chính Hoàn Nam được sáp nhập để thành lập Chính phủ Nhân dân tỉnh An Huy. Tằng Hy Thánh (tiếng Trung: 曾希聖, bính âm: Céng Xī Shèng, Latinh: Zeng Xisheng. 1904 – 1968)[40] là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh từ năm 1952 – 1955.

Vào tháng 03 năm 1955, Chính quyền Nhân dân tỉnh An Huy được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân tỉnh An Huy. Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh An Huy trong 12 năm (1955 – 1967) là Hoàng Nham. Trong thời kỳ Nạn đói lớn ở Trung Quốc (1959 – 1961), số người tử vong vì nguyên nhân không bình thường tại tỉnh An Huy là 6,33 triệu người, chiếm 18,37% trong tổng dân số 34,46 triệu dân của tỉnh khi đó, đạt tỷ lệ cao nhất trong số các tỉnh tại Trung Quốc.[41] Hoàng Nham (tiếng Trung: 黄岩, bính âm: Huángyán, Latinh: Huang Yan. 1912 – 1989)[42] là thủ trưởng hành chính, phụ trách hồi phục An Huy trong những năm này.

Giai đoạn 1967 – 1968, Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc Tiền Quân (tiếng Trung: 钱钧, bính âm: Qián Jūn, Latinh: Quan Jun. 1905 – 1990)[43] kiểm soát tỉnh. Sau đó, tháng 04 năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh An Huy được thành lập, lần lượt ba Chủ nhiệm là Lý Đức Sinh (1968 – 1973), Tống Bội Chương (tiếng Trung: 宋佩璋, bính âm: Sòngpèizhāng, Latinh: Song Peizhang. 1919 – 1989)[44], Vạn Lý (1977 – 1979).[45] Có tới hai vị lãnh đạo quốc gia (về sau), từng giữ vị trí Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh An Huy là Lý Đức Sinh (tiếng Trung: 李德生, bính âm: Lǐdéshēng, Latinh: Li Desheng. 1916 – 2011)[46], Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (lãnh đạo quốc gia vị trí thứ 6, năm 1973 – 1975), Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 9, 10, 11, 12, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân Giải phóng Nhân dân Trung QuốcVạn Lý (tiếng Trung: 万里, bính âm: Wànlǐ, Latinh: Wan Li, tên khai sinh: 万明礼, Hán – Việt: Vạn Minh Lễ. 1916 – 2015), là người quan trọng trong lịch sử An Huy.

 
Hồi Lương Ngọc (1944), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Tỉnh trưởng An Huy (1994 – 1998).
 
Trụ sở Chính phủ Nhân dân tỉnh An Huy, tại Quận Bao Hà, Hợp Phì.

Sau năm 1977Sửa đổi

Vào tháng 06 năm 1977, Vạn Lý là lãnh đạo An Huy (Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh) đã thực hiện một bước đi táo bạo, Thanh lọc hoàn toàn. Sau đó, chiến dịch đầu tiên là hỗ trợ sản xuất hàng hóa cho hộ gia đình, mở đầu bằng làng Tiểu Cương (小岗村), và sau đó mở rộng khắp tỉnh. Ông trở thành người tiên phong và lãnh đạo cải cách và mở cửa nông nghiệp Trung Quốc cùng Triệu Tử Dương. Sau khi rời An Huy, ông giữ chức Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Chủ nhiệm Ủy ban Nông nghiệp Nhà nước Trung Quốc, Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng Trung ương Trung Quốc và sau đó là Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (lãnh đạo quốc gia 1988 – 1993).

Tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh An Huy được đổi tên thành Chính quyền nhân dân tỉnh An Huy được tái lập. Từ đó đến nay, có tới 14 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh An Huy, gồm Trương Kính Phu (tiếng Trung: 张劲夫, bính âm: Zhāngjìnfū, Latinh: Zhang Jingfu. 1914 – 2015)[47] giai đoạn 1979 – 1981, Chu Tử Kiện (tiếng Trung: 周子健, bính âm: Zhōu zǐ jiàn, Latinh: Zhou Zijian. 1914 – 2003)[48] giai đoạn 1981 – 1983, Vương Úc Chiêu (tiếng Trung: 王郁昭, bính âm: Wángyùzhāo, Latinh: Wang Yuzhao. 1926 – 2016)[49] giai đoạn 1983 – 1987, Lô Vinh Cảnh (tiếng Trung: 卢荣景, bính âm: Lúróngjǐng, Latinh: Lu Rongjing. 1933)[50] giai đoạn 1987 – 1989, Phó Tích Thọ (tiếng Trung: 傅锡寿, bính âm: Fùxīshòu, Latinh: Fu Xishou. 1931 – 2015)[51] giai đoạn 1989 – 1994, Hồi Lương Ngọc (tiếng Trung: 回良玉, bính âm: Huí liáng yù, Latinh: Hui Liangyu. 1944) giai đoạn 1994 – 1998[52], Vương Thái Hoa (tiếng Trung: 王太华, bính âm: Wángtàihuá, Latinh: Wang Taihua. 1945)[53] giai đoạn 1998 – 2000, Hứa Trọng Lâm (tiếng Trung: 许仲林, bính âm: Xǔ zhònglín, Latinh: Xu Zhonglin. 1943)[54] giai đoạn 2000 – 2002, Vương Kim Sơn (tiếng Trung: 王金山, bính âm: Wángjīnshān, Latinh: Wang Jinshan. 1945)[55] giai đoạn 2002 – 2007, Vương Tam Vận (tiếng Trung: 王三运, bính âm: Wángsānyùn, Latinh: Wang Sanyun. 1952) giai đoạn 2007 – 2011[56], Lý Bân (tiếng Trung: 李斌, bính âm: Lǐbīn, Latinh: Li Bin. Biệt hiệu: Chất Văn. 1954) giai đoạn 2011 – 2013[57], Vương Học Quân (tiếng Trung: 王学军, bính âm: Wángxuéjūn, Latinh: Wang Xuejun. 1952) giai đoạn 2013 – 2015[58], Lý Cẩm Bân (2015 – 2016)[59], Lý Quốc Anh (2016 – nay). Trong đó, Hồi Lương Ngọc là cán bộ cao nhất, về sau là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 16, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Tổng Chỉ huy Bộ Chỉ huy Phòng chống lụt bão hạn hán Quốc gia Trung Quốc.

Năm 2018, An Huy là tỉnh đông thứ tám về số dân, đứng thứ 13 về kinh tế Trung Quốc với 63,2 triệu dân, tương đương với Pháp[60] và ba nghìn tỷ NDT (445 tỷ USD),[61] tương đương với Na Uy. An Huy có chỉ số GDP đầu người đứng thứ hai mươi hai, đạt 47.712 NDT (tương ứng 7.210 USD).[62]

Hiện tại, Lý BânPhó Chủ tịch Chính Hiệp, người phụ nữ đầu tiên và duy nhất từng là Tỉnh trưởng An Huy. Lý Cẩm Bân (tiếng Trung: 李锦斌, bính âm: Lǐjǐnbīn, Latinh: Li Jinbin. 1958) là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh An HuyLý Quốc Anh (tiếng Trung: 李國英, bính âm: Lǐguóyīng, Latinh: Li Guoying. 1963) là Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh An Huy đương nhiệm, cả ba đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX.[63]

Cam TúcSửa đổi

Các Tỉnh trưởng Cam TúcSửa đổi

 
Vương Thế Thái (1910 – 2008), Thủ trưởng Cam Túc đầu tiên (1949 – 1950).

Từ năm 1949 tính đến hiện tại, Chính phủ Nhân dân tỉnh Cam Túc có 17 Thủ trưởng. Trụ sở của cơ quan đặt tại tỉnh lỵ, thành phố Lan Châu. Năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Cam Túc được thành lập, đứng đầu là Chủ tịch. Các Chủ tịch gồm Vương Thế Thái (王世泰. 1910 – 2008)[64] giai đoạn 1949 – 1950, Đặng Bảo San (鄧寶珊. 1894 – 1968)[65] giai đoạn 1950 – 1955. Trong đó Đặng Bảo San làm Thủ trưởng cơ quan hành chính tỉnh Cam Túc 17 năm, từ 1950 đến 1967. Vào tháng 10 năm 1958, cơ quan được đổi tên thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Cam Túc.

Năm 1967, tỉnh Cam Túc được quản lý bởi Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc kiểm soát tỉnh Cam Túc. Năm 1968, cơ quan được đổi thành Ủy ban Cách mạng tỉnh Cam Túc. Thủ trưởng giai đoạn này là Tiển Hằng Hán (冼恒汉. 1911 – 1991),[66] người Tráng, Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc, lãnh đạo từ (1967 – 1977) và Tống Bình (1977 – 1979).

Tháng 11 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Cam Túc bị bãi bỏ và Chính phủ Nhân dân tỉnh Cam Túc được tái lập. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Cam Túc gồm có Phùng Ký Tân (冯纪新. 1915 – 2005)[67] giai đoạn (1979 – 1981), Lý Đăng Doanh (李登瀛. 1914 – 1996)[68] giai đoạn (1981 – 1983), Trần Quang Nghị (陈光毅. 1933)[69] giai đoạn (1983 – 1986), Cổ Chí Kiệt (贾志杰. 1935)[70] giai đoạn (1986 – 1993), Diêm Hải Vượng (阎海旺. 1939)[71] giai đoạn (1993), Trương Ngô Nhạc (张吾乐. 1937)[72] giai đoạn (1993 – 1996), Tôn Anh (孙英. 1936)[73] giai đoạn (1996 – 1998), Tống Chiếu Túc (1998 – 2001)[74], Lục Hạo (陆浩. 1947)[75] giai đoạn (2001 – 2006), Từ Thủ Thịnh (2006 – 2010)[76], Lưu Vĩ Bình (2010 – 2016)[77], Lâm Đạc (林鐸. 1956)[78] giai đoạn (2016 – 2017) và Đường Nhân Kiện (2017 – nay). Lâm Đạc hiện đang là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Cam Túc, Đường Nhân Kiện đương nhiệm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Cam Túc. Cả hai đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX.[63]

Trong sô 17 Thủ trưởng tỉnh Cam Túc, có 12 vị từng được bổ nhiệm làm Bí thư Tỉnh ủy, chín vị từng là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Cam Túc. Chỉ có một vị Lãnh đạo quốc gia từng giữ vị trí Thủ trưởng tỉnh, đó là Tống Bình (宋平. 1917),[79] lãnh đạo thế hệ cũ cuối cùng còn sống, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (vị trí thứ năm), nguyên Bí thư thường vụ Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách và Phát triển Quốc gia Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Cát LâmSửa đổi

Biến động ban đầuSửa đổi

 
Vương Ân Mậu (1913 – 2001), Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc, Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Cát Lâm (1977 – 1980).

Những năm 1949, với sự ủng hộ của Liên Xô, khu Đông Bắc gồm tỉnh Cát Lâm trở thành một khu vực lực lượng cộng sản trong cuộc nội chiến giành chiến thắng. Năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã chia khu vực Đông Bắc ra thành năm tỉnh: Hắc Long Giang, Cát Lâm, Tùng Giang, Liêu ĐôngLiêu Tây. Vào tháng 04 năm 1950, Chính phủ Nhân dân tỉnh Cát Lâm chính thức được thành lập, với Thủ trưởng đầu tiên là Chu Trì Hành (周持衡. 1915 – 1986)[80] giai đoạn (1950 – 1952). Năm 1954, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tiến hành điều chỉnh hành chính, cắt bảy huyện của tỉnh Hắc Long Giang cho tỉnh Cát Lâm, cùng với huyện Can An của Cát Lâm hợp thành địa cấp thị Bạch Thành, cắt một thành phố vàc chín huyện của tỉnh Liêu Đông về tỉnh Cát Lâm và thiết lập địa cấp thị Thông Hóa. Cùng với đó, tỉnh Cát Lâm còn tiếp nhận thành phố Liêu Nguyên và hai huyện Tây AnĐông Phong, thành phố Tứ Bình, huyện Song Liêu và huyện Lê Thụ của tỉnh tỉnh Liêu Tây cũ. Cùng năm, Chính phủ Nhân dân tỉnh Cát Lâm đã từ thành phố Cát Lâm dời đến Trường Xuân, tỉnh lỵ. Thủ trưởng hành chính tỉnh Cát Lâm thời gian này là Lật Hữu Văn (栗又文. 1901 – 1984)[81], lãnh đạo 16 năm, từ 1952 – 1968.

Năm 1969, một huyện và một kỳ của minh Thông Liêu và minh Hulunbuir của Nội Mông đã được chuyển sang cho tỉnh Cát Lâm, đến năm 1979 lại trả về Nội Mông. Thời gian này, cơ quan hành chính tỉnh có tên là Ủy ban Cách mạng tỉnh, với Chủ nhiệm Vương Hoài Sương (王淮湘. 1920 – 2013)[82] giai đoạn (1968 – 1977) và Vương Ân Mậu (王恩茂. 1913 – 2001)[83] giai đoạn (1977 – 1980).

Sau năm 1980Sửa đổi

 
Hàn Trường Phú (1954 -), Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nông thôn Trung Quốc, nguyên Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Cát Lâm (2006 – 2009).

Vào tháng 03 năm 1980, Chính phủ Nhân dân tỉnh Cát Lâm được tái lập. Trong những giai đoạn này, Cát Lâm là khu vực hành chính cấp tỉnh với tốc độ phát triển trung bình. Từ năm 1979 đến 2007, tổng GDP của Cát Lâm năm 2007 gấp 63,75 lần so với năm 1979, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm là 9,4%. Cùng kỳ, trung bình cả nước là 9,8%, tốc độ tăng trưởng trung bình hàng năm của Cát Lâm xếp hạng 17.[84] Trong 31 năm từ 1978 đến 2008, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm của Cát Lâm cao hơn mức trung bình quốc gia cùng kỳ trong 16 năm và thấp hơn mức trung bình quốc gia trong cùng kỳ trong 15 năm, có 13 năm với tốc độ tăng trưởng hàng năm cao hơn 10%. Cát Lâm xếp hạng xoay quanh vị trí 18 đến 24 cả nước. GDP đạt 10 tỷ nhân dân tệ năm 1981, 50 tỷ nhân dân tệ năm 1992, 100 tỷ nhân dân tệ năm 1995 và 500 tỷ nhân dân tệ năm 2007.[84] Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Cát Lâm chịu trách nhiệm phát triển kinh tế tỉnh giai đoạn này là Vu Khắc (于克. 1913 – 2004)[85] giai đoạn (1980 – 1982), Trương Căn Sinh (张根生. 1923 – 2008)[86] giai đoạn (1982 – 1983), Triệu Tu (赵修. 1921 – 1992)[87] giai đoạn (1983 – 1985), Cao Đức Chiêm (高德占. 1932)[88] giai đoạn (1985 – 1987), Hà Trúc Khang (何竹康. 1932)[89] giai đoạn (1987 – 1989), Vương Trung Vũ (王忠禹. 1933)[90] giai đoạn (1989 – 1992), Cao Nghiêm (高严. 1942)[91] giai đoạn (1992 – 1995), Vương Vân Khôn (王云坤. 1942)[92] giai đoạn (1995 – 1998), Hồng Hổ (洪虎. 1940)[93] giai đoạn (1998 – 2004), Vương Mân (2004 – 2006).[94] Năm 2005, Chính phủ Nhân dân tỉnh Cát Lâm đã thành lập Ủy ban Quản lý khu bảo vệ và phát triển núi Trường Bạch, là cấp sở. Trong đó, Vương Trung Vũ sau đó được điều chuyển về trung ương, giữ chức vụ Tổng Thư ký Quốc vụ viện, Ủy viên Quốc vụ, chức vụ cấp Phó Quốc gia rồi trở thành Phó Chủ tịch Chính Hiệp trước khi nghỉ hưu.

Vùng Đông Bắc Trung Quốc nói chung và tỉnh Cát Lâm nói riêng từng là trái tim công nghiệp của Trung Quốc, tuy nhiên, sau cải cách mở cửa, nền công nghiệp của vùng đã tụt hậu so với vùng ven biển phía đông Trung Quốc, và Trung Quốc đã phải đề ra kế hoạch Chấn hưng vùng công nghiệp cũ Đông Bắc (振兴东北老工业基地). Từ đó đến nay, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Cát Lâm gồm Hàn Trường Phú[95] giai đoạn 2006 – 2009, Vương Nho Lâm[96] giai đoạn 2009 – 2012, Bayanqolu giai đoạn 2012 – 2014, Tưởng Siêu Lương giai đoạn 2014 – 2016, Lưu Quốc Trung giai đoạn 2016 – 2017, Cảnh Tuấn Hải từ năm 2017. Hiện nay, Hàn Trường Phú, Bayanqolu, Tưởng Siêu Lương (蒋超良. 1957)[97], Lưu Quốc Trung, Cảnh Tuấn Hải đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX,[63] với Bayanqolu (ᠪᠠᠶᠠᠨᠴᠢᠯᠠᠭᠤ. 1955)[98], Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Cát Lâm, Hàn Trường Phú Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp Nông thôn, Tưởng Siêu Lương Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hồ Bắc, Lưu Quốc Trung Tỉnh trưởng Thiểm Tây (giữ vị trí Tỉnh trưởng Cát Lâm đúng một năm trước khi được điều chuyển tới Thiểm Tây) và Cảnh Tuấn Hải, Tỉnh trưởng Cam Túc đương nhiệm.

Chiết GiangSửa đổi

Thời kỳ đầuSửa đổi

 
Đàm Chấn Lâm (1902 – 1983), Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Chiết Giang đầu tiên (1949 – 1955).
Sa Văn Hán (1908 – 1964) Tỉnh trưởng Chiết Giang 1955 – 1957.
Châu Kiến Nhân (1888 – 1984) Chủ tịch Dân tiến hội, Tỉnh trưởng Chiết Giang 1958 – 1967.

Vào tháng 07 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Chiết Giang được thành lập. Đàm Chấn Lâm (谭震林. 1902 – 1983)[99] là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Chiết Giang giai đoạn 1949 – 1955, đồng thời cũng là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô, trong thời điểm hai tỉnh này đều được quản lý hành chính bởi ông.

Năm 1955, theo Hiến pháp Ngũ Tứ, Ủy ban Nhân dân tỉnh Chiết Giang được thành lập. Có bốn Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân gồm Sa Văn Hán (沙文汉. 1908 – 1964)[100] giai đoạn (1955 – 1957), Hoắc Sĩ Liêm (霍士廉. 1909 – 1996)[101] giai đoạn (1957 – 1958), Châu Kiến Nhân (周建人. 1888 – 1984)[102] giai đoạn (1958 – 1967), Long Tiềm (龙潜. 1913 – 1992)[103] trong năm 1967. Trong số đó, Sa Văn Hán, Hoắc Sĩ Liêm, Long Tiềm chỉ công tác trong thời gian ngắn, Long TiềmThiếu tướng được bổ nhiệm vào đầu năm 1967, kiêm chức Chủ nhiệm Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Kiểm soát tỉnh Chiết Giang nhằm phụ trách quân đội kiểm soát Chiết Giang, bị cách chức trong vòng bảy tháng vì không xử lý được sự kiện Ngũ Mã, một vụ xung đột lớn ở Phố Ngũ Mã, con đường thương mại nổi tiếng thuộc Ôn Châu.[104] Châu Kiến Nhân (1888 – 1984) là một trường hợp đặc biệt. Ông quản lý hành chính Chiết Giang năm 1958, khi đã 70 tuổi, cho đến năm 80 tuổi. Châu Kiến Nhân không đi theo Đảng Cộng sản Trung Quốc mà là Hội viên Hội xúc tiến dân chủ Trung Quốc, gọi tắt Dân Tiến hội (民进会) – là một trong những đảng phái dân chủ của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, một trong những người sáng lập năm 1945 và là Chủ tịch Hội xúc tiến dân chủ Trung Quốc 1979 – 1984, Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc đến khi qua đời.

Năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh Chiết Giang được chính thức thành lập và kiểm soát quân sự vẫn được thực hiện. Có ba Chủ nhiệm của Ủy ban Cách mạng, gồm Thiếu tướng Nam Bình (南萍. 1918 – 1989)[105] giai đoạn (1967 – 1973), Đàm Khải Long (谭启龙. 1913 – 2003)[106] giai đoạn (1973 – 1977), Thiếu tướng Thiết Anh (铁瑛. 1916 – 2009)[107] giai đoạn (1977 – 1979). Nam Bình kế nhiệm Long Tiềm, giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Kiểm soát tỉnh Chiết Giang vào những tháng cuối năm 1967 rồi trở thành Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Chiết Giang năm 1968. Năm 1973, một thời gian sau Sự kiện 13 tháng 9, ông bị cách chức.

Phát triển đổi mớiSửa đổi

Vào tháng 12 năm 1979, Chính phủ Nhân dân tỉnh Chiết Giang được tổ chức lại, và trụ sở Chính phủ Nhân dân tỉnh được đặt tại thủ phủ Hàng Châu. Từ đó cho đến năm 2020, có 12 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Chiết Giang, là Lý Phong Bình (李丰平. 1912 – 2008)[108] giai đoạn (1979 – 1983), Tiết Câu (薛驹. 1922)[109] giai đoạn (1983 – 1987), Thẩm Tổ Luân (1987 – 1990)[110], Cát Hồng Thăng (葛洪升. 1931)[111] giai đoạn (1990 – 1993), Vạn Học Viễn (万学远. 1940)[112] giai đoạn (1993 – 1997), Sài Tùng Nhạc (柴松岳. 1941)[113] giai đoạn (1997 – 2002), Tập Cận Bình (2002 – 2003), Lã Tổ Thiện (吕祖善. 1946)[114] giai đoạn (2003 – 2011), Hạ Bảo Long (2011 – 2012)[115], Lý Cường (2012 – 2016)[116], Xa Tuấn (2016 – 2017), hiện là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Chiết Giang[117], Viên Gia Quân (2017 – nay), đương nhiệm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Chiết Giang. Trong đó Tập Cận Bình giữ chức vụ Quyền Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Chiết Giang từ tháng 10 năm 2002 đến tháng 01 năm 2003, tạm thời trước khi là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Chiết Giang.

Hiện tại, Lý Cường là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Thành ủy thành phố Thượng Hải, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Cùng với Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Bí thư Thành ủy thành phố Bắc Kinh Thái Kỳ, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Bí thư Thành ủy thành phố Trùng khánh Trần Mẫn Nhĩ, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Hoàng Khôn Minh, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Đinh Tiết Tường, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Sơn Tây Lâu Dương Sinh, Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố Thượng Hải Ứng Dũng, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Cát Lâm Bayanqolu, Chủ nhiệm Văn phòng Quân ủy Trung ương Trung Quốc Chung Thiệu Quân(钟绍军. 1968)[118]Lý Cường là thành viên của Quân Chiết Giang Tập Cận Bình, phụ tá Tập Cận Bình từ những năm ông công tác tại Chiết Giang.

Giang TôSửa đổi

Phân vùng ban đầuSửa đổi

 
Thượng tướng Hứa Thế Hữu (1905 – 1985), Phó Chủ tịch Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Bắc Kinh trở thành thủ đô. Ban đầu, Giang Tô được phân Tô Bắc và Tô Nam, quản lý bởi Văn phòng Hành chính Tô Bắc và Văn phòng Hành chính Tô Nam. Vào ngày 15 tháng 11 năm 1952, cuộc họp lần thứ 19 của Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương Trung Quốc (cơ quan cũ nay là Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) đã thông qua "Nghị quyết điều chỉnh hệ thống hành chính cấp tỉnh và khu". Nghị quyết đã thành lập Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô, hợp nhất Văn phòng Hành chính Tô Bắc và Văn phòng Hành chính Tô Nam. Một số khu vực cũ ở tỉnh Sơn Đông và tỉnh An Huy được hợp nhất vào tỉnh Giang Tô. Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô được đặt tại thành phố Nam Kinh, tỉnh lỵ. Trong cuộc họp, Đàm Chấn Lâm được bổ nhiệm làm Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô.[119]

 
Sở Văn hóa và Du lịch, Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô.

Vào ngày 01 tháng 01 năm 1953, Đàm Chấn Lâm tuyên bố thực thi Nghị quyết Trung ương, Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô chính thức thành lập. Ông cũng là cán bộ cao cấp nhất từng là Thủ trưởng Giang Tô, khi sau này được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Năm 1955, cơ quan được đổi tên thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Giang Tô, Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Giang Tô là Huệ Dục Vũ (1955 – 1964). Sau đó, Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc Đỗ Bình (杜平. 1908 – 1999)[120] tới Giang Tô giữ chức Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Giang Tô (1964 – 1967), Chủ nhiệm Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Kiểm soát tỉnh Giang Tô (1967 – 1968), trong thời điểm Đại Cách mạng Văn hóa vô sản diễn ra.

Tháng 03 năm 1968, cơ quan đổi thành Ủy ban Cách mạng tỉnh Giang Tô. Các Chủ nhiệm Ủy ban gồm Hứa Thế Hữu (许世友. 1905 – 1985)[121], Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Chủ nhiệm (1968 – 1973), Bành Trùng (彭冲. 1915 – 2010)[122] giai đoạn (1973 – 1977), Hứa Gia Truân (许家屯. 1916 – 2016)[123] giai đoạn (1977 – 1979). Sau đó, Hứa Thế Hữu trở thành Phó Chủ tịch Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa IX, X, XI, Thường vụ Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Bành Trùng là Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Bí thư Thành ủy Thành phố Thượng Hải, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, còn Hứa Gia Truân gây ra một sự kiện lớn.

La Chí Quân (1951), Tỉnh trưởng Giang Tô (2018 – 2010), Bí thư Giang Tô (2010 – 2016).
Hai Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô từ 2008 đến 2015, sau đó Lý Học Dũng nghỉ hưu, La Chí Quân là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Giang Tô.

Năm 1983, Hứa Gia Truân[124] (1916 – 2016) đang là Chủ nhiệm Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân tỉnh Giang Tô (từng giữ bốn chức vụ cơ cấu lãnh đạo Giang Tô, Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy tỉnh Giang Tô, Chủ tịch Chính Hiệp Giang Tô) được điểu chuyển bộ nhiệm làm Trưởng Ban Hồng Kông, Tân Hoa xã, dưới dạng công tác chuẩn bị nghỉ hưu khi đã 67 tuổi. Thời gian này, ông dành nhiều quan tâm và gần gũi với Hồng Kông, vẫn đang thuộc về Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Năm 1989, sự kiện Sự kiện Thiên An Môn diễn ra bạo loạn, Hứa Gia Truân hoạt động ủng hộ sự kiện thông qua cơ quan thường trú tại Hồng Kông của Trung ương.[124] Đến tháng năm, Trung ương tuyên bố Thiết quân Luật và dập tắt sự kiện.[125] Trung Quốc tiến hành bắt những người có liên quan. Hứa Gia Quân bỏ trốn sang Hoa Kỳ, sống theo dạng lưu vong cho đến khi mất năm 2016, 100 tuổi.[126] Năm 1991, ông bị trục xuất ông khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Thời kỳ mớiSửa đổi

Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô được tái lập năm 1979 đến nay, trụ sở tại đường Bắc Kinh Tây, Cổ Lâu, Nam Kinh. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô: Huệ Dục Vũ (惠浴宇. 1909 – 1989)[127] giai đoạn (1980 – 1981), Hàn Bậu Tín (韩培信. 1921 – 2017)[128] giai đoạn (1981 – 1983), Cố Tú Liên (顾秀莲. 1936)[129] giai đoạn (1983 – 1989) (Tỉnh trưởng nữ đầu tiên và duy nhất đến nay của Giang Tô), Trần Hoán Hữu (陈焕友. 1934)[130] giai đoạn (1989 – 1994), Trịnh Tư Lâm (郑斯林. 1940)[131] giai đoạn (1994 – 1998), Quý Doãn Thạch (季允石. 1945)[132] giai đoạn (1998 – 2002), Lương Bảo Hoa (梁保华. 1945)[133] giai đoạn (2002 – 2008), La Chí Quân (2008 – 2010)[134], Lý Học Dũng (李学勇. 1950)[135] giai đoạn (2010 – 2015), Thạch Thái Phong (2015 – 2017)[136]Ngô Chính Long (2017 – nay). Trong đó, Thạch Thái Phong hiện là Bí thư Khu ủy Khi tự trị Nội Mông Cổ, Ngô Chính LongTỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tô được nhiệm, cả hai đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX.[63]

Giang TâySửa đổi

Diễn biến kinh tếSửa đổi

 
Thiệu Thức Bình (1900 – 1965), Tỉnh trưởng Giang Tây, từ 1949 đến 1965.

Vào ngày 16 tháng 06 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tây được thành lập và được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Giang Tây vào tháng 02 năm 1955. Trong những ngày đầu, từ tháng 02 cho đến tháng 06 năm 1949, Trần Chính Nhân (陳正人. 1907 – 1972)[137] tạm giữ vị trí Tỉnh trưởng Giang Tây, kiêm nhiệm khi chức vụ chính thức của ông là Bí thư Giang Tây. Thời gian đó Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tây, Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Giang Tây là Thiệu Thức Bình (邵式平. 1900 – 1965)[138] giai đoạn (1900 – 1975), làm Thủ trưởng hành chính tỉnh Giang Tây trong 16 năm, từ năm bắt đầu cho đến năm 1965, khi ông mất. Trong những năm ông công tác, dân số của tỉnh Giang Tây gia tăng nhanh chóng. Ông đã huy động 50.000 cán bộ trên toàn tỉnh về nông thôn, kêu gọi nhân dân đi đến những khu cằn cỗi nằm mở ra sản xuất nông nghiệp và thành lập nhiều trang trại khai hoang. Sau đó, ông thành lập Đại học Lao động Cộng sản Chủ nghĩa Giang Tây (nay đổi tên thành Đại học Nông nghiệp Giang Tây), với các cơ sở trên toàn tỉnh nhằm tổ chức đào tạo. Sáng kiến tiên phong này của ông lan rộng ra cả nước.[139] Những biện pháp này đảm bảo nguồn cung lương thực của Giang Tây vào thời điểm đó, không chỉ không có nạn đói mà còn là một tỉnh xuất khẩu lương thực lớn. Vào thời điểm đó, một số lượng lớn người từ các tỉnh xung quanh đã đổ vào Giang Tây, hầu hết được tái định cư và sinh sống tại các trang trại khai hoang. Đầu thế kỷ XXI, Giang Tây không đạt được tốt độ phát triển kinh tế tốt, là tỉnh nghèo trong những tỉnh cạnh như Chiết Giang, Phúc Kiến, Quảng Đông.

 
Giang Vị Thanh (1910 – 2000), Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Giang Tây (1972 – 1979).

Thủ trưởng trước tiếp theo là Phương Chí Thuần (方志純. 1905 – 1993)[140] giai đoạn (1905 – 1993), Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh, Chủ nhiệm Ủy ban Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc kiểm soát tỉnh. Tháng 01 năm 1968, cơ quan hành chính được tổ chức lại thành Ủy ban Cách mạng tỉnh Giang Tây, thời kỳ 1968 – 1979, với các Chủ nhiệm Trình Thế Thanh (程世清. 1918 – 2008)[141] giai đoạn (1968 – 1972), Thiếu tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung QuốcGiang Vị Thanh (江渭清. 1910 – 2000)[142] giai đoạn (1972 – 1979). Có thể thấy, trong ba mươi năm đầu từ 1949 đến 1979, Giang Tây chỉ có bốn Thủ trưởng cơ quan hành chính tỉnh.

Thủ trưởng sau 1979Sửa đổi

Vào tháng 12 năm 1979, cơ quan hành chính đổi tên lại thành Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tây cho đến nay, gồm các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tây là: Bạch Đống Tài (白棟材. 1916 – 2014)[143] giai đoạn (1979 – 1982), Triệu Tăng Ích (趙增益. 1920 – 1993)[144] giai đoạn (1982 – 1985), Nghê Hiến Sách (倪獻策. 1935)[145] thời kỳ (1985 – 1986). Nghê Hiến Sách chỉ giữ vị trí Tỉnh trưởng Giang Tây được một năm. Ông đã bị bắt năm 1986 vì vi phạm kỷ luật liên quan tới sử dụng ngân sách và ưu đãi người thân, phạt tù hai năm và không thể quay trở lại công tác. Người thay thế là Ngô Quan Chính (1986 – 1995)[146], Thư Thánh Hữu (舒聖佑. 1936)[147] giai đoạn (1995 – 2001), Hoàng Trí Quyền (黃智權. 1942)[148] giai đoạn (2001 – 2006), Ngô Tân Hùng (吴新雄. 1949)[149] giai đoạn (2006 – 2011), Lộc Tâm Xã (2011 – 2016)[150], Lưu Kỳ (2016 – 2018)[151]Dịch Luyện Hồng (2018 – nay). Lộc Tâm Xã, Lưu KỳDịch Luyện Hồng đều đang là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63], với Lộc Tâm Xã, Bí thư Quảng Tây, Lưu Kỳ, Bí thư Giang TâyDịch Luyện Hồng, Tỉnh trưởng Giang Tây đương nhiệm.

Trong số các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Giang Tây, có một lãnh đạo quốc gia, là Ngô Quan Chính (1938 -), về sau trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (2002 – 2007), Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ bảy, nguyên Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, chức vụ cấp Lãnh đạo Quốc gia.

Hà BắcSửa đổi

Thời kỳ đầuSửa đổi

 
Dương Tú Phong (1897 – 1983), nguyên Viện trưởng Pháp viện Tối cao (cấp Phó Quốc gia hiện nay), Tỉnh trưởng Hà Bắc đầu tiên (1949 – 1952)

Vào ngày 01 tháng 08 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Bắc chính thức được thành lập, với thủ phủ là địa cấp thị Bảo Định, trước khi Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh là Dương Tú Phong (杨秀峰. 1897 – 1983)[152] giai đoạn (1949 – 1952). Sau khi rời Hà Bắc, ông là Bộ trưởng Bộ Giáo dục Trung Quốc mười năm, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao (Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa) mười năm, chức vụ cấp Lãnh đạo Phó Quốc gia. Thủ trưởng hành chính tỉnh Hà Bắc giai đoạn 1952 – 1958 là Lâm Thiết (林铁. 1904 – 1989)[153] giai đoạn (1952 – 1955). Năm 1955, cơ quan được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Bắc.

 
Lý Tuyết Phong (1907 – 2002) dẫn đoàn sang thăm Indonesia năm 1965.

Vào tháng 02 năm 1958, Thiên Tân được sáp nhập với tỉnh Hà Bắc và trở thành thủ phủ tỉnh Hà Bắc. Rồi đến tháng 01 năm 1967, Thiên Tân được khôi phục thành Thành phố trực thuộc trung ương và thủ phủ tỉnh Hà Bắc đã quay trở lại Bảo Định. Chỉ một năm sau, tháng 01 năm 1968, thủ phủ tỉnh Hà Bắc được chuyển đến Thạch Gia Trang bởi lệnh của Mao Trạch Đông. Cùng năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh Hà Bắc được thành lập. Thủ trưởng hành chính tỉnh Hà Bắc trong 22 năm từ 1958 đến 1980, trải qua các chức vụ Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Bắc, Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Hà Bắc là Lưu Tử HậuLý Tuyết Phong. Lưu Tử Hậu (刘子厚. 1909 – 2001)[154] giữ chức trong 18 năm, giai đoạn 1958 – 1968, 1971 – 1980. Giai đoạn 1968 – 1971, Lý Tuyết Phong (李雪峰. 1907 – 2003)[155] được điều tới làm Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Hà Bắc, Lưu Tử Hậu hạ xuống chức vụ Phó Chủ nhiệm. Vào năm 1971, Lý Tuyết Phong bị liên lục trong Đại Cách mạng Văn hóa vô sản và bị cách chức. Lý Tuyết Phong đã từng là Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa VIII, khóa IX, Bí thư Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Bộ Hoa Bắc Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

 
Lâm Thiết (1904 – 1998_ Tỉnh trưởng Hà Bắc 1952 – 1955.

Đối với Lưu Tử Hậu, Mao Trạch Đông ra lệnh kiểm tra, và ông đã qua kiểm tra, trở lại nắm quyền Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Hà Bắc (1971 – 1980). Khi là Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh, ông cũng đã thực hiện nhiều đường lối sai lầm của Đại Cách mạng Văn hóa vô sản.[156] Ngày 28 tháng 07 năm 1976, đã xảy ra động đất Đường Sơn 1976 khiến ít nhất 242.769 người chết và khoảng 164.000 người bị thương rất nặng.[157]

Từ 1980Sửa đổi

Vào tháng 01 năm 1980, Ủy ban Cách mạng của tỉnh Hà Bắc đã đổi tên lại thành Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Bắc, tái lập. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Bắc từ đó đến nay là Lý Nhĩ Trọng (李尔重. 1913 – 2010)[158] giai đoạn (1980 – 1982), Lưu Bỉnh Ngạn (刘秉彦. 1915 – 1998)[159] giai đoạn (1982 – 1983), Trương Thự Quang (张曙光. 1920 – 2002)[160] giai đoạn (1983 – 1986), Giải Phong (解峰. 1922 – 2004)[161] giai đoạn (1986 – 1988), Nhạc Kỳ Phong (岳歧峰. 1931 – 2008)[162] giai đoạn (1988 – 1990), Trình Duy Cao (程维高. 1933 – 2010)[163] giai đoạn (1990 – 1993), Diệp Liên Tùng (叶连松. 1935)[164] giai đoạn (1993 – 1999), Nữu Mậu Sinh (钮茂生. 1939)[165] giai đoạn (1999 – 2002), Quý Doãn Thạch (2002 – 2006), Quách Canh Mậu (2006 – 2008)[166], Hồ Xuân Hoa (2008 – 2009)[167], Trần Toàn Quốc (2009 – 2011)[168], Trương Khánh Vĩ (2011 – 2017)[169], Hứa Cần (2017 – nay). Hơn 40 năm từ 1979 đến 2020, Hà Bắc có tới 14 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Bắc, điều đặc biệt là chỉ có hai người trở thành Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà BắcDiệp Liên TùngTrình Duy Cao, người bị khai trừ khỏi Đảng năm 2003 bởi vi phạm kỷ luật nghiêm trọng.

Năm 2019, Hồ Xuân Hoa, Trần Toàn Quốc, Trương Khánh Vĩ, Hứa Cần là những người đang công tác và là Ủy viên Trung ương khóa XIX[63]. Đặc biệt là Hồ Xuân Hoa, Phó Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung HoaTrần Toàn Quốc, Bí thư Khu ủy Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, đều là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 19 (2017-2022), Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia đương nhiệm, giữ chức vụ Tỉnh trưởng Hà Bắc thời gian ngắn. Trong đó, Hồ Xuân Hoa giữ vị trí đặc biệt. Ông được bầu là Tỉnh trưởng Hà Bắc năm 2008, khi chỉ mới 45 tuổi, sau đó trở thành Bí thư Quảng Đông. Ông là người đang giữ tiềm lực để trở thành Lãnh đạo Quốc gia Trung Quốc.

Hà NamSửa đổi

Các thủ trưởng thế hệ đầuSửa đổi

 
Lý Khắc Cường (1955), Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ hai, đương kim Tổng lý Quốc vụ viện, nguyên Tỉnh trưởng Hà Nam (1998 – 2003).

Vào tháng 05 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Nam chính thức được thành lập. Vào tháng 04 năm 1950, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Nam đầu tiên đã được bầu bởi phiên họp thứ nhất của Đại hội Đại biểu Nhân dân tỉnh Hà Nam. Thủ trưởng đầu tiên là Ngô Chi Phố (吴芝圃. 1906 – 1967)[170] giai đoạn (1906 – 1967). Ngày 20 tháng 08 năm 1949, phần phía bắc Hoàng Hà thuộc tỉnh Hà Nam và phần tây nam của tỉnh Sơn Đông được tách ra để hình thành tỉnh mới Bình Nguyên, tỉnh lị đặt tại Tân Hương, nhưng chỉ hai năm sau, Trung ương đã quyết định giải thể tỉnh Bình Nguyên, trả lại các phần đất trước kia cho hai tỉnh Sơn Đông và Hà Nam. Vào tháng 02 năm 1955, cơ quan hành chính được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam, và Ngô Chi Phố tiếp tục làm Thủ trưởng. Trong những năm tháng đầu tiên này, tỉnh Hà Nam là tỉnh khèo đói. Năm 1954, Hà Nam được tập trung công nghiêp nặng trong kế hoạch năm năm lần thứ nhất. Tới năm 1958, ở huyện Toại Bình của Hà Nam, công xã nhân dân Sơn Vệ Tinh được thành lập, là công xã nhân dân đầu tiên của Trung Quốc, sự kiện này cũng khởi đầu cho chiến dịch Đại nhảy vọt. Do chiến dịch này, trong ba năm xảy ra nạn đói lớn sau đó, Hà Nam là một trong các tỉnh chịu tổn thất nghiêm trọng nhất, với vài triệu người tử vong.[171] Ngô Chi Phố là Thủ trưởng suốt thời gian này, từ năm 1949 đến 1962, có nhiều phản đối chiến dịch và bị khai trừ khỏi chức vụ, Thủ trưởng kế nhiệm là Văn Mẫn Sinh (文敏生. 1915 – 1997)[172] giai đoạn (1962 – 1968). Cho tới năm 1979, khi nắm quyền tối cao thực sự, Đặng Tiểu Bình đã phục hồi danh dự cho ông, với điếu văn:

"Tất cả là lời giả dối áp đặt, đồng chí Ngô Chi Phố được phục hồi và lấy lại danh tiếng của mình, đồng chí đã cống hiến cả cuộc đời cho đất nước."

Từ năm 1968 đến 1979, cơ quan hành chính Hà Nam là Ủy ban Cách mạng tỉnh Hà Nam. Có hai Chủ nhiệm là Lưu Kiến Huân (刘建勋. 1913 – 1983)[173] giai đoạn (1968 – 1978) và Đoàn Quân Nghị (段君毅. 1910 – 2004)[174] giai đoạn (1978 – 1979). Những năm này, Hà Nam vẫn gặp nhiều khó khăn, ví trí thấp trong cả nước về kinh tế. Tháng 09 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Hà Nam được chuyển thể thành Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Nam cho đến nay, từ giai đoạn này, Hà Nam tập trung cao độ trong phát triển kinh tế. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Nam từ năm 1979 đến 1998 có Lưu Kiệt (刘杰. 1915 – 2018)[175] giai đoạn (1979 – 1981), Đới Tô Lý (戴苏理. 1919 – 2000)[176] giai đoạn (1981 – 1982), Vu Minh Đào (于明涛. 1917 – 2017)[177] giai đoạn (1982 – 1983), Hà Trúc Khang (1983 -1987), Trình Duy Cao (1987 – 1990), Lý Trường Xuân (1990 – 1992)[178]Mã Trung Thần (马忠臣. 1936)[179] giai đoạn (1992 – 1998). Kinh tế Hà Nam giai đoạn này được chỉ đạo phát triển khá tốt, đặc biệt là năm 1983, với tốt độ tăng trưởng đạt tới 23,8%. Trong số các Tỉnh trưởng, có Lý Trường Xuân trở thành Lãnh đạo Quốc gia mười năm sau, khi giữ chức vụ Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 16, khóa 17 (2002 – 2012), Chủ nhiệm Ủy ban Chỉ đạo Kiến thiết Văn minh Tinh thần (một tổ chức của Trung ương Đảng, đến nay Chủ nhiệm hiện tại là Thường vụ Chính trị thứ năm Vương Hỗ Ninh).

Lãnh đạo hành chính hiện đạiSửa đổi

 
Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Tạ Phục Chiêm (1954), nguyên Tỉnh trưởng Hà Nam 2013 – 2016, Bí thư Hà Nam 2016 – 2018. Ảnh năm 2019.

Vào tháng 06 năm 1998, Lý Khắc Cường[180], Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc rời Bắc Kinh, điều chuyển tới Hà Nam, được bổ nhiệm làm Phó Bí thư Tỉnh ủy, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Nam và bắt đầu công tác ở Hà Nam trong bảy năm. Trong giai đoạn này, kinh tê tỉnh Hà Nam, được ông chỉ đạo và xây dựng, đã nhảy lên vị trí thứ năm trong cả nước, đứng đầu ở các tỉnh miền Hoa Trung và miền Hoa Tây. Xét trên sự lạc hậu của quá trình đô thị hóa ở tỉnh Hà Nam, cơ cấu công nghiệp đã chậm nâng cấp và quá trình phát triển nông nghiệp hiện đại rất khó khăn. Vào ngày 24 tháng 12 năm 2002, Lý Khắc Cường đề xuất đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa và thúc đẩy hiện đại hóa nông nghiệp ở Hà Nam, do đó mang lại công việc cho nhiều lao động, các vùng đất được giải phóng, xây dựng mức độ cao của vùng đồng bằng trung tâm. Dưới sự lãnh đạo và thúc đẩy của ông, một loạt các sáng kiến ​​như điều phối sự phát triển của các thành phố lớn, vừa và nhỏ, lên kế hoạch và xây dựng các thị trấn nhỏ ở vùng đồng bằng mới được tiến hành.[181] Lý Khắc Cường hiện là Tổng lý Quốc vụ viện, Thường vụ Chính trị, Trưởng ban Lãnh đạo Tài chính Kinh tế Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Biên chế cơ cấu Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Vận động Quốc phòng Quốc gia, Chủ nhiệm Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Quốc gia, Phó Chủ tịch Ủy ban An ninh Quốc gia Trung ương Trung Quốc. Ông là Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ hai hiện tại, chỉ sau Tập Cận Bình, thuộc liên minh chiến lược tối cao Tập Cận BìnhLý Khắc Cường giai đoạn thứ nhất 2012 – 2022. Ông là lãnh đạo chỉ đạo nền kinh tế – xã hội Trung Quốc.

Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hà Nam kế nhiệm tiếp tục thực thi sáng kiến của Lý Khắc Cường, bên cạnh đó mở ra những phương pháp phát triển các lĩnh vực kinh tế mới, gồm Lý Thành Ngọc (李成玉. 1946)[182] giai đoạn (2003 – 2008), Quách Canh Mậu (2008 – 2013)[166], Tạ Phục Chiêm (谢伏瞻. 1954)[183] giai đoạn (2013 – 2016), Trần Nhuận Nhi (2016 – 2019).

Hải NamSửa đổi

Thành lập vị tríSửa đổi

Vào tháng 04 năm 1949, Trung ương Trung Quốc đã thành lập Khu hành chính đặc biệt Hải Nam. Năm 1950, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc thống nhất đảo Hải Nam sau khi đánh bại Trung Hoa Dân Quốc, Hải Nam trở thành lãnh thổ của Trung Quốc.

 
Lương Tương (1919 – 1998), nguyên Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam đầu tiên (1988 – 1989).

Vào ngày 26 tháng 05 năm 1950, Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thành lập Ủy ban Chính trị Hải quân ở Hải Nam. Vào ngày 22 tháng 04 năm 1951, Ủy ban Hành chính Hải Nam được thành lập, trở thành một đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Quảng Đông. Ngày 05 tháng 04 năm 1968, Ủ ban Hành chính Hải Nam được đổi thành Ủy ban Cách mạng Khu vực Hành chính Hải Nam và được lãnh đạo bởi Ủy ban Cách mạng tỉnh Quảng Đông. Vào ngày 01 tháng 01 năm 1980, Ủy ban Hành chính Hải Nam được khôi phục và vẫn được quản lý bởi tỉnh Quảng Đông. Vào ngày 01 tháng 10 năm 1984, Chính phủ Nhân dân Khu vực hành chính Hải Nam chính thức được thành lập với tư cách là một phó cấp tỉnh. Hải Nam được chính phủ Trung Quốc quy định là một đặc khu kinh tế nhằm tăng cường đầu tư vào đảo.

Vào ngày 13 tháng 04 năm 1988, cuộc họp đầu tiên của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ bảy đã quyết định thành lập tỉnh Hải Nam.[184] Vào ngày 26 tháng 04 năm 1988, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam chính thức được thành lập, Hải Nam chính thức là một tỉnh của Trung Quốc bởi quyết định của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Người được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam đầu tiên là Lương Tương (梁湘. 1919 – 1998)[185] (1919 – 1998), khi đã 69 tuổi.

Lương Tương làm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam ngay trong giai đoạn diễn ra Sự kiện Thiên An Môn, năm 1989. Sau đó, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc cùng với sự hỗ trợ và hợp tác của Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam, đã tiến hành một cuộc điều tra và xác minh các vấn đề của Lương Tương. Trong thời gian làm việc tại Hải Nam, ông đã phạm phải nghiêm trọng về quyền riêng tư. Ông đã cho vợ và con trai mình bán bất động sản, và vợ ông đã chiếm hai ngôi nhà ở thành phố Hải Khẩu. Ông đã đích thân chấp thuận cho một công ty nhập khẩu một lô ô tô. Con trai đã tống tiền một khoản tiền lớn, ông đã sử dụng quyền hạn của mình để xử lý các vấn đề. Một người con trai của ông đã vi phạm các quy định tài chính, sử dụng tiền công để mua vật liệu cho bản thân.

Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung QuốcQuốc vụ viện đưa ra quyết định: Kỷ luật Đảng, bãi nhiệm chức vụ Phó Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hải Nam, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam của Lương Tương.[186] Vào ngày 13 tháng 09 năm 1989, cuộc họp lần thứ ba của Đại hội Đại biểu Nhân dân tỉnh Hải Nam, thông báo bãi bỏ chức vụ Lương Tương đã được tuyên bố, nhóm điều điều tra chung của Trung ương đã công bố vấn đề của ông. Theo báo cáo điều tra, trong thời gian làm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam, Lương Tương đã lợi dụng quyền lực để phạm sai lầm cá nhân nghiêm trọng và gây ảnh hưởng xấu tới xã hội trong tỉnh.Trung ương bãi bỏ chức vụ và tiếp tục kiểm tra vấn đề của ông. Trên thực tế, Lương Tương là một thân tín của Triệu Tử Dương, hỗ trợ trong Sự kiện Thiên An Môn và đều bị thanh trừng bởi Đặng Tiểu Bình.

Sau sự kiện Thiên An MônSửa đổi

Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam tiếp theo gồm Lưu Kiếm Phong (1989 – 1993)[187], Nguyễn Sùng Vũ (阮崇武. 1933)[188] giai đoạn (1993 – 1998), Uông Khiếu Phong (1998 – 2003)[189], Vệ Lưu Thành (卫留成. 1946)[190] giai đoạn (2003 – 2007), La Bảo Minh (2007 – 2011)[191], Tưởng Định Chi (2011 – 2014)[192], Lưu Tứ Quý (2014 – 2017)[193], Thẩm Hiểu Minh, đương nhiệm Tỉnh trưởng (2017 – nay). Trong đó, Lưu Tứ QuýThẩm Hiểu Minh là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63], hai lãnh đạo tỉnh hiện nay. Lưu Tứ Quý hiện đang là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hải Nam kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân tỉnh Hải Nam. Tính đến nay, có chín vị Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hải Nam đều là lãnh đạo thứ hai của tỉnh, hàm bộ trưởng.

Sau vụ án của Lương Tương, người kế nhiệm ông là Lưu Kiếm Phong. Trong những năm 1990 – 1992, Hải Nam gặp vấn đề khi hai lãnh đạo Lưu Kiếm PhongBí thư Hải Nam Đặng Hồng Huân thiếu hòa hợp và đối phó lẫn nhau, không đoàn kết.[194] Trong tình hình đó, Trung ương đã rút cả Lưu Kiếm PhongĐặng Hồng Huân về Bắc Kinh. Lưu Kiếm Phong giữ chức Phó Bộ trưởng Bộ Công nghiệp Cơ giới thứ tư (đã giải thể), Đặng Hồng Huân làm Phó Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Quốc vụ viện, đều là hạ chức vụ. Người được điều chuyển về Hải Nam để lãnh đạo tập trung là Nguyễn Sùng Vũ, đồng thời kiêm nhiệm Bí thư Hải NamTỉnh trưởng Hải Nam, ông trước đó là Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Lao động.

Hắc Long GiangSửa đổi

Thời kỳ đầuSửa đổi

Năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hắc Long Giang chính thức được thành lập, thủ phủ của tỉnh là thành phố Cáp Nhĩ Tân. Tháng 04 năm 1949, tỉnh Nộn Giang, một vùng được thành lập năm 1945 bởi Trung Hoa Dân Quốc được sáp nhập cùng địa cấp thị Tề Tề Cáp Nhĩ. Tháng 06 năm 1954, tỉnh Tùng Giang cùng địa cấp thị Mẫu Đơn Giang được sáp nhập. Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Hắc Long Giang đầu tiên là Vu Nghị Phu[195] một văn sĩ, tình báo Đảng Cộng sản Trung Quốc trong Nội chiến Trung Quốc, về sau bị bỏ tù bảy năm bởi Đại Cách mạng Văn hóa vô sản, được khôi phục danh dự năm 1979. Chức vụ Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Hắc Long Giang chỉ được đặt trong giai đoạn 19501955, Hắc Long Giang có tới bốn thủ trưởng. Kế nhiệm Vu Nghị PhuTriệu Đức Tôn (赵德尊. 1914 – 2012)[196] giai đoạn (1952 – 1953), Trần Lôi (陈雷. 1917 – 2006)[197] giai đoạn (1953 – 1954), Hàn Quang (韩光. 1912 – 2008)[198] giai đoạn (1954 – 1956).

 
Vu Nghị Phu (1903 – 1982), Tỉnh trưởng Hắc Long Giang đầu tiên (1950 – 1952).

Vào tháng 11 năm 1955, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hắc Long Giang được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân của tỉnh Hắc Long Giang. Giai đoạn 1955 – 1967 có Âu Dương Khâm (欧阳钦. 1900 – 1978)[199] giai đoạn (1956 – 1968), Lý Phạm Ngũ (李范五. 1912 – 1986)[200] giai đoạn (1958 – 1967). Tháng 03 năm 1967, Ủy ban Cách mạng tỉnh Hắc Long Giang được thành lập. Có bốn Chủ nhiệm là Phan Phúc Sinh (潘复生. 1908 – 1980)[201] giai đoạn (1967 – 1971), Uông Gia Đạo (汪家道. 1916 – 1992)[202] giai đoạn (1971 – 1977), Lưu Quang Đào (刘光涛. 1920 – 2011)[203] thời gian năm 1977, Dương Dịch Thần (杨易辰. 1914 – 1997)[204] giai đoạn (1977 – 1979). Trong thập niên 1960, quan hệ Trung QuốcLiên Xô xấu đi, với Chia rẽ Trung – Xô và tiêu điểm Xung đột biên giới Trung – Xô năm 1969 tại sông Ussuri đi qua Viễn Đông NgaHắc Long Giang. Các Thủ trưởng Hắc Long Giang được giao thêm nhiệm vụ tại biên giới. Vào tháng 05 năm 1967, Phan Phúc Sinh kiêm nhiệm Chính ủy Quân khu Thẩm Dương, tham gia thi hành trong cuộc xung đột. Rồi sau đó, trong cuộc Cách mạng Văn hóa, ông được bầu làm Ủy viên Quân ủy Trung ương. Phan Phúc Sinh trong những năm nay có ý thức hệ khác, ông đã triển khai và phát động các cuộc xung đột cũ và mới, tạo ra xung đột phe phái trong tỉnh. Ông tuyên bố trả thù giai cấp, thanh trừ tư sản.[205] Tuy nhiên, trên thực tế, một số cán bộ và quần chúng đã bị bức hại, dẫn đến một số lượng lớn các trường hợp bất công, sai trái ở Hắc Long Giang. Ông đã gây ra chiến tranh phe phái liên tục và tranh chấp phức tạp, khiến tình hình Hắc Long Giang bất ổn định trong một thời gian dài. Tháng 09 năm 1971, ông bị cách chức để xem xét, bị điều tra rồi giam lỏng tại Hắc Long Giang cho đến khi ông qua đời.[205] Vào tháng 04 năm 1982, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra kết luận về các vấn đề chính trị của Phan Phúc Sinh và đồng ý với kết luận cuộc điều tra vi phạm của ông. Cùng vì hành động gây bạo loạn ở Hắc Long Giang của ông, Trung ương phải điều Thiếu tướng Uông Gia Đạo, Thiếu tướng Lưu Quang Đào là Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh giai đoạn 1971 – 1977 góp phần quản lý. Bên cạnh đó có Dương Dịch Thần, về sau ông là Viện trưởng Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, chức vụ cấp Phó Quốc gia.

Từ 1979Sửa đổi

 
Tỉnh lỵ phó tỉnh Cáp Nhĩ Tân, 2019 với 10,9 triệu dân, GDP đạt 100 tỷ USD, bình quân 9.174 USD/người, tốc độ 6,73%. Ảnh năm 2016.
 
Phan Phúc Sinh (1908 – 1980), Tỉnh trưởng Hắc Long Giang (1967 – 1971).

Vào tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Hắc Long Giang đã được giải thể và Chính phủ Nhân dân tỉnh Hắc Long Giang được tái lập. Từ đó đến nay, các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hắc Long Giang là: Trần Lôi (1979 – 1985), quay lại làm Thủ trưởng tỉnh lần thứ hai, Hậu Thiệp (侯捷. 1931 – 2001)[206] giai đoạn (1985 – 1988), Thiệu Kỳ Huệ (邵奇惠. 1934)[207] giai đoạn (1989 – 1994), Điền Phượng Sơn (田凤山. 1941)[208] giai đoạn (1994 – 2000), Tống Pháp Đường (2000 – 2003)[209], Trương Tả Kỉ (2003 – 2007)[210], Lật Chiến Thư (2007 – 2010)[211], Vương Hiến Khôi (2010 – 2013)[212], Lục Hạo (2013 – 2018)[213]Vương Văn Đào (2018 – nay). Trong đó, Lục Hạo là một chính khách trẻ, sinh năm 1967, được bầu làm Tỉnh trưởng Hắc Long Giang năm 2013, khi mới 46 tuổi, cũng là Ủy viên trẻ tuổi nhất trong Ủy viên Trung ương khóa XIX[63] (2017 – 2022) và Vương Văn Đào (1964 -) là Tỉnh trưởng Hắc Long Giang hiện tại. Lục Hạo từng là Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2008 – 2013 trước khi là Tỉnh trưởng Hắc Long Giang, tức là ông đã giữ chức vụ cấp Chính Tỉnh – Chính Bộ, hàm Bộ trưởng từ năm 2008, khi ông 41 tuổi cho đến nay. Hiện tại ông là Bộ trưởng Bộ Tài nguyên, trong một thời gian dài chưa thăng cấp.

Hắc Long Giang năm 1998 đã xuất Lũ lụt Trung Quốc năm 1998, khiến 4.150 người tử vong, thiệt hại kinh tế trực tiếp lên tới 255 tỷ nhân dân tệ.[214] Trục tiếp chỉ đạo giải quyết thiên tai Hắc Long Giang thời điểm này Điền Phượng Sơn. Ông đã có các nỗ lực cứu trợ lũ lụt ở Nộn Giang và sông Tùng Hoa, quyết tâm chỉ huy giải cứu ở tiền tuyến, và được đánh giá cao bởi Trung ương. Sau đó ông được chuyển làm Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Đất đai Trung Quốc[215]. Tuy nhiên, chỉ ít lâu sau, ông bị điều tra lội nhận hối lỗi nghiêm trọng, bị khai trừ khỏi Đảng năm 2004, kết án chung thân năm 2005.[216]

Từ năm 1949 đến 2020, Hắc Long Giang có 19 Tỉnh trưởng, chỉ có một các bộ cao cấp từng giữ vị trí này, đó là Lật Chiến Thư. Lật Chiến Thư đương nhiệm Ủy viên trưởng Nhân Đại khóa XIII, Ủy viên Ban Thường vụ khóa 19, Phó Chủ tịch Ủy ban An toàn Quốc gia[211], ông là một người phụ tá của lãnh tụ tối cao Tập Cận Bình, và là Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ ba.

Hồ BắcSửa đổi

Giai đoạn sơ khaiSửa đổi

 
Trần Phi Hiển (1916 – 1995), Bí thư Ban Bí thư, Bí thư Chính Pháp, Bí thư Thượng Hải, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Tỉnh trưởng Hồ Bắc (1978 – 1980).

Vào tháng 05 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Bắc được thành lập, thủ phủ tỉnh đặt tại Vũ Hán. Vào tháng 04 năm 1950, cơ quan được tổ chức lại thành Ủy ban Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Bắc. Lãnh đạo đầu tiên của tỉnh Hồ BắcLý Tiên Niệm[217], lãnh đạo toàn diện kiêm cùng lúc các chức vụ Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hồ Bắc, Bí thư Quân khu, Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu tỉnh Hồ Bắc, Bí thư kiêm Thị trưởng thành phố Vũ Hán và Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Bắc giai đoạn 1949 – 1954. Trong những năm này, ông đã chỉ đạo công tác chống bá quyền, bình ổn giá, quản lý tài chínhkinh tế thống nhất, cải cách ruộng đất, thanh trừ phản cách mạng, đoàn kết trí thứcnhân dân từ mọi tầng lớp. Ông đã thống nhất và đoàn kết được nhân dân tỉnh Hồ Bắc, ngay giai đoạn Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Vào tháng 03 năm 1952, Lý Tiên Niệm đã thành lập Ủy ban Phân chia lũ lụt Kinh Giang, kiểm Chủ nhiệm và đến tháng 04 năm 1953, Dự án Phân chia lũ lụt Kinh Giang đã hoàn thành.[218] Dự án nằm ở huyện Công An, Kinh Châu, trên bờ phía nam của sông Dương Tử ở tỉnh Hồ Bắc. Đây là một dự án bảo tồn nước quy mô lớn do chính phủ Trung Quốc xây dựng để đảm bảo an toàn cho đồng bằng Giang Hán và thành phố Vũ Hán. Dự án trên diện tích là 920 km2 và có thể chứa khoảng sáu tỷ mét khối nước lũ.[218] Ngoài việc phân lũ, dự án cũng có thể mang lại những lợi ích như tưới tiêu và chăn nuôi trong thời gian bình thường, và khu vực phân lũ có thể được sử dụng cho canh tác nông nghiệp.

Vào tháng 01 năm 1953, Lý Tiên Niệm đồng thời giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục Trung Nam Trung Quốc, Ủy viên Ủy ban Trung ương và Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Trung Nam Trung Quốc, và điều chuyển rời khỏi Hồ Bắc năm 1954. Về sau, ông lần lượt giữ các vị trí Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thương vụ Bộ Chính trị (khóa XII, XIII), Chủ tịch Chính Hiệp (1988 – 1992), Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1983 – 1988), là Nguyên thủ quốc gia, Lãnh đạo Quốc gia. Ông đã tham gia phụ trợ Đặng Tiểu Bình trong công cuộc cải cách kinh tế đất nước rồi công tác cùng Giang Trạch Dân cho đến khi qua đời năm 1992.

Kế nhiệm Lý Tiên NiệmLưu Tử Hậu (1954 – 1956). Vào tháng 02 năm 1955, cơ quan hành chính tỉnh được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Hồ Bắc. Giai đoạn 1956 – 1968, thủ trưởng tỉnh là Trương Thể Học (张体学. 1915 – 1973)[219]. Trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, Ủy ban Cách mạng tỉnh Hồ Bắc đã thực thi quyền hành pháp, Vũ Hán là một trong những trọng điểm hoạt động của Hồng vệ binh. Giai đoạn này, Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Hồ Hắc là Tằng Tứ Ngọc (曾思玉. 1911 – 2012)[220] giai đoạn (1968 – 1973), Triệu Tân Sơ (赵辛初. 1915 – 1981)[221] giai đoạn (1973 – 1978) và Trần Phi Hiển (陈丕显. 1916 – 1995)[222] giai đoạn (1978 – 1980). Trong đó Tằng Tứ Ngọc là Trung tướng. Năm 1971, trong sự kiện 13 tháng 9 (九一三事件), Lâm Bưu qua đời, Tằng Tứ Ngọc bị tố cáo và được gọi đến Bắc Kinh để tiến hành điều tra. Trong thời gian đó ông được đánh giá là có sai lầm nhưng không nghiêm trọng và quay trở lại Hồ Bắc. Còn có Trần Phi Hiển (1916 – 1995), sau khi rời Hồ Bắc, ông trở thành Bí thư Ban Bí thư Trung ương, Bí thư Ủy ban Chính Pháp, Bí thư Thượng Hải, Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại, là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Từ 1980Sửa đổi

Vào tháng 01 năm 1980, Ủy ban Cách mạng tỉnh Hồ Bắc được giải thể và Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Bắc được tái lập. Với tình hình Đặng Tiểu Bình trở lành Nhà lãnh đạo quốc gia tối cao (Trung Quốc), tiến hành mở cửa kinh tế, nhiệm vụ chính của các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Bắc là phát triển kinh tế. Từ đó đến nay có: Hàn Ninh Phu (韩宁夫. 1915 – 1995)[223] giai đoạn (1980 – 1983), Hoàng Trí Chân (黄知真. 1920 – 1993)[224] giai đoạn (1983 – 1986), Quách Chấn Kiền (郭振乾. 1933 – 2019)[225] giai đoạn (1986 – 1990), Quách Thụ Ngôn (郭树言. 1935)[226] giai đoạn (1990 – 1993), Cổ Chí Kiệt (贾志杰. 1935)[227] giai đoạn (1993- 1995), Tưởng Chúc Bình (蒋祝平. 1937)[228] giai đoạn (1995 – 2001), Trương Quốc Quang (张国光. 1945)[229] giai đoạn (2001 – 2002), La Thanh Toàn (罗清泉. 1945)[230] giai đoạn (2002 – 2007), Lý Hồng Trung (2007 – 2011)[231], Vương Quốc Sinh (2011 – 2016)[232], Vương Hiểu Đông (2016 – nay). Trong đó, Trương Quốc QuangTỉnh trưởng Hồ Bắc trong hơn một năm, vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, bị khai trừ và phán quyết tù năm 2004 vì tội tham nhũng. Hiện nay, Lý Hồng Trung, Vương Quốc Sinh, Vương Hiểu Đông đang là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63] và đặc biệt là Lý Hồng Trung, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thiên Tân, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Trong giai đoạn này, Hồ Bắc đáng chú ý bởi dự án Đập Tam Hiệp, xây dựng bắt đầu vào năm 1994 và là đập thủy điện lớn nhất thế giới. Đây là một trong những nhiệm vụ của các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Bắc. Đến khi hoàn thành, tổng công suất phát điện của công trình này là 22.500 MW.[233] Cùng với chức năng sản xuất điện, công trình còn giúp ngăn lũ lụt, tăng cường năng lực vận chuyển ở vùng hạ du của Trường Giang. Một số đập thủy điện khác tại Hồ Bắc là đập Cát Châu Bá (葛洲坝水利枢纽), đập Đan Giang Khẩu (丹江口大坝), đập Cách Hà Nham (隔河岩大坝), đập Phú Thủy (富水大坝).

Hồ NamSửa đổi

Các thủ trưởng đặc biệtSửa đổi

Trần Minh Nhân (1903 – 1974), Thủ trưởng hành chính Hồ Nam đầu tiên, ảnh khi là Trung tướng Dân Quốc và trở thành Thượng tướng Giải phóng quân.

Vào tháng 08 năm 1949, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc đóng quân tại Hồ Nam và thành lập một chính phủ lâm thời ở tỉnh Hồ Nam. Trong cùng tháng đó, cơ quan được đổi tên thành Ủy ban Quân sự Chính trị tỉnh Hồ Nam. Thủ trưởng đơn vị là Trần Minh Nhân, Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, chỉ huy đơn vị Hồ Nam ba tháng (07 – 09/1949). Thủ trưởng Ủy ban Quân sự Chính trị tỉnh Hồ Nam tiếp theo là Trình Tiềm[234]. Tháng 04 năm 1950, Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Nam chính thức được thành lập, Vương Thủ Đạo (王首道. 1906 – 1996)[235] được bổ nhiệm làm Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Nam cho đến tháng 12 năm 1952, khi Trình Tiềm trở lại, liên tục là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Nam (giai đoạn 1952 – 1955), Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Hồ Nam (1955 – 1968, khi cơ quan đổi tên thành), là thủ trưởng hành chính tỉnh Hồ Nam 17 năm, cho đến khi qua đời năm 1968 tại Bắc Kinh, 80 tuổi. Trong đó, Vương Thủ Đạo về sau là Phó Chủ tịch Chính Hiệp, Thường vụ Ủy ban Cố vấn Trung ương trước khi nghỉ hưu.

 
Trình Tiềm (áo đen), được Mao Trạch Đông chèo thuyền nói chuyện năm 1952, khi đang là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Nam.

Các thủ trưởng đầu tiên, Trần Minh NhânTrình Tiềm đều có điểm đặc biệt. Trần Minh Nhân (陳明仁. 1903 – 1974)[236] từng là Trung tướng Quân cách mạng Trung Hoa Dân Quốc, đến năm 1949, ông cùng Trình Tiềm đầu hàng và gia nhập Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc, cùng chỉ huy Binh đoàn 21 Giải phóng quân, lãnh đạo nổi dậy ở Trường Sa, Hồ Nam, giao lại Hồ Nam.[237] Trình TiềmĐại tướng Trung Hoa Dân Quốc (hàm cao nhất với tên chính thức là Nhất cấp Thượng tướng), dù đầu hàng nhưng ông vẫn là Ủy viên Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc (một đảng tham chính của Đảng Cộng sản Trung Quốc) chi đến khi qua đời. Ông từng chịu nguy hiểm bởi lệnh bắt của Quốc dân Đảng, phải di chuyển tới Bắc Kinh và an toàn. Ông cũng tham gia Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (Trung Quốc), giữ chức vụ Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, là chức vụ mà ông kiêm nhiệm từ năm 1958 cho đến khi mất. Những năm 1966, khi Đại Cách mạng Văn hóa vô sản diễn ra, ông bị công kích vì không phải là Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc, và ông được bảo vệ đặc biệt bởi Chu Ân Lai, không bị ảnh hưởng.

 
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lãnh tụ Quốc gia Tối cao Hoa Quốc Phong cùng vợ chồng Shah Mohammad Reza Pahlavi (Vua Iran) và Shahbanu Farah Pahlavi (Hoàng hậu Iran) trong buổi gặp gỡ năm 1978.

Vào tháng 04 năm 1968, Ủy ban Nhân dân tỉnh Hồ Nam tổ chức lại thành Ủy ban Cách mạng tỉnh Hồ Nam. Trong cùng tháng, Trình Tiềm qua đời, Thiếu tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc Lê Nguyên (黎原. 1917 – 2008)[238] được điều tới làm Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Hồ Nam (1968 – 1970), rồi kế nhiệm là Hoa Quốc Phong (1970 – 1977)[239], Mao Trí Dụng (毛致用. 1929 – 2019)[240] giai đoạn (1977 – 1979). Trong giai đoạn này, Hoa Quốc Phong (19212008) lãnh đạo toàn thể Hồ Nam khi là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hồ Nam kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Hồ Nam và Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc. Năm 1976, ông rời Hồ Nam (vẫn là kiêm Chủ nhiệm tỉnh vài tháng năm 1977), tiến về Trung ương, giữ các chức vụ Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc rồi trở thành Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (1976 – 1981), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (1976 – 1981), Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1976 – 1980), Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương (Trung Quốc), Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (vị trí thứ nhất), là Nhà lãnh đạo Quốc gia Tối cao (1976 – 1978). Ông là nhà lãnh đạo tối cao kế nhiệm Mao Trạch Đông thời kỳ chuyển tiếp, rồi phải lui năm 1980 bởi Đặng Tiểu Bình.[241]

Từ 1979Sửa đổi

 
Chu Cường (1960), Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao, cấp Phó Quốc gia, Tỉnh trưởng Hồ Nam 2006 – 2010.

Tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Hồ Nam được giải thể và Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Nam được tái lập. Từ đó đến năm 2020, các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ NamTôn Quốc Trị (孙国治. 1917 – 2005)[242] giai đoạn (1979 – 1983), Lưu Chính (刘正. 1929 – 2006)[243] giai đoạn (1983 – 1985), Hùng Thanh Toàn (熊清泉. 1927)[244] giai đoạn (1985 – 1989), Trần Bang Trụ (陳邦柱. 1934)[245] giai đoạn (1989 – 1995), Dương Chính Ngọ (1995 – 1998)[246], Trữ Ba (1998 – 2001)[247], Trương Vân Xuyên (2001 – 2003)[248], Chu Bá Hoa (2003 – 2006)[249], Chu Cường (2006 – 2010)[250], Từ Thủ Thịnh (2010 – 2013)[76], Đỗ Gia Hào (2013 – 2016)[251], và Hứa Đạt Triết (2016 – nay). Trong đó, Chu Cường, Đỗ Gia Hào, Hứa Đạt Triết đang là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63], Đỗ Gia HàoBí thư Tỉnh ủy tỉnh Hồ Nam, Hứa Đạt TriếtTỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Nam đương nhiệm.

Chu Cường là lãnh đạo cao cấp nhất từng là Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Hồ Nam giai đoạn 1979 – 2020 khi được bầu làm Tỉnh trưởng năm 2006 (46 tuổi). Ông là nhân vật đặc biệt khi kế nhiệm Lý Khắc Cường năm 1998 trở thành Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn Thanh niên, giữ vị trí cấp Chính Tỉnh – Chính Bộ, hàm Bộ trưởng khi mới 38 tuổi. Ông đứng ở hàm Bộ trưởng khi từng là Bí thư Trung ương Đoàn, Tỉnh trưởng Hồ Nam, Bí thư Hồ Nam trong 15 năm 1998 – 2013. Những năm công tác ở Hồ Nam, ông đã tập trung phát triển nền kinh tế hiệu quả cao. Hiện ông đang là Chánh án Toàn án Nhân dân Tối cao, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Liêu NinhSửa đổi

 
Tằng Thiệu Sơn (1914 – 1995), Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc, Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Liêu Ninh (1973 – 1978).

Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, địa bàn tỉnh Liêu Ninh ngày nay phân thuộc hai tỉnh Liêu Đông (tỉnh lị đặt tại An Đông) và Liêu Tây (tỉnh lị đặt tại Cẩm Châu), cùng với năm địa cấp thịLữ Đại, Thẩm Dương, An Sơn, Phủ ThuậnBản Khê. Đến năm 1954, cuộc họp lần thứ 32 của Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương Trung Quốc đã sáp nhập các địa phương này hợp nhất lại thành tỉnh Liêu Ninh với tỉnh lị đặt tại Thẩm Dương. Triều Dương và sáu huyện của tỉnh Nhiệt Hà cũng được sáp nhập vào tỉnh Liêu Ninh năm 1955. Đỗ Giả Hành (杜者蘅. 1909 – 1975)[252] được bổ nhiệm làm Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Liêu Ninh (1954), đổi tên thành Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Liêu Ninh (1955 – 1958). Vào năm 1958, Đỗ Giả Hành bị buộc tội là thành viên của nhóm chống Đảng phái, bãi nhiệm chức vụ Tỉnh trưởng và đẩy về làm công nhân ở một công ty tại Thẩm Dương, qua đời năm 1975. Cho đền năm 1979, ông được minh oan, khôi phục danh dự. Kế nhiệm Đỗ Giả HànhHoàng Âu Đông (黄欧东. 1905 – 1993)[253], Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Liêu Ninh (1958 – 1968).

Năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh Liêu Ninh được thành lập. Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, năm 1969, minh Chiêu Ô Đạt của Nội Mông đã được sáp nhập vào tỉnh Liêu Ninh, song sau đó đã phục hồi lại như cũ. Các Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Liêu Ninh là Trần Tích Liên (陈锡联. 1915 – 1999)[254] giai đoạn (19681973), Tằng Thiệu Sơn (曾绍山. 1915 – 1995)[255] giai đoạn (1973 – 1978), Nhâm Trọng Di (任仲夷. 1915 – 2005)[256] giai đoạn (1978 – 1980). Trong đó, Tằng Thiệu Sơn (19141994) là Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc, Chính ủy thứ hai Quân khu Thẩm Dương. Trần Tích Liên (1915 – 1999), là Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh, Tư lệnh Quân khu Thẩm Dương (hai trong Thất đại Quân khu nay giải thể, chuyển thành Ngũ đại Chiến khu, hai Quân khu này tách và trở thành một phần của Chiến khu Bắc bộChiến khu Trung ương), rồi sau đó là Phó Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa IX, X, XI, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Vào tháng 01 năm 1980, Ủy ban Cách mạng tỉnh Liêu Ninh đã được giải thể và Chính phủ Nhân dân tỉnh Liêu Ninh được tái lập. Năm 1981, thành phố Lữ Đại được đổi tên thành Đại Liên, Lữ Thuận trở thành quận Lữ Thuận của thành phố Đại Liên. Từ năm 1979 đến 2020, Liêu Ninh có 12 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Liêu Ninh, gồm Trần Phác Như (陈璞如. 1918 – 1998)[257] giai đoạn (1980 – 1982), Toàn Thụ Nhân (全树仁. 1930 – 2008)[258] giai đoạn (1982 – 1986), Lý Trường Xuân (1986 – 1990), Nhạc Kỳ Phong (1990 – 1994), Văn Thế Thần (闻世震. 1940)[259] giai đoạn (1994 – 1998), Trương Quốc Quang (1998 – 2001), Bạc Hy Lai (2001 – 2004)[260], Trương Văn Nhạc (张文岳. 1944)[261] giai đoạn (2004 – 2007), Trần Chính Cao (陈政高. 1952)[262] giai đoạn (2007 – 2014), Lý Hi (2014 – 2015)[263], Trần Cầu Phát (2015 – 2017)[264]Đường Nhất Quân (2017 – nay). Năm 2019, Lý Hi, Trần Cầu Phát, Đường Nhất Quân là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63], với Trần Cầu PhátBí thư Liêu Ninh, Đường Nhất QuânTỉnh trưởng Liêu Ninh đương nhiệm.

Trong số 12 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Liêu Ninh giai đoạn đó, có tới ba vị lãnh đạo cao cấp. Lý Trường Xuân (1944), nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 16, khóa 17 (2002 – 2012), Chủ nhiệm Ủy ban Chỉ đạo Kiến thiết Văn minh Tinh thần Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bạc Hy Lai (1949), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVII, Bí thư Thành ủy thành phố Trùng Khánh, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Lý Hi (1956) hiện tại đang là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đông, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Phúc KiếnSửa đổi

Nguồn nhân lựcSửa đổi

Sau Nội chiến Trung Quốc, năm 1949, Phúc Kiến thuộc quyền kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, riêng quần đảo Kim Mônquần đảo Mã Tổ do chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan chiếm giữ. Trung Hoa Dân Quốc cũng thành lập tỉnh Phúc Kiến, nhưng chỉ trên danh nghĩa, bộ máy chính quyền cấp tỉnh Phúc Kiến của Trung Hoa Dân Quốc hiện nay không hoạt động trên thực tế. Eo biển Đài Loan đã từng xảy ra ba cuộc khủng hoảng giữa hai bên vào các năm 1954 – 1955, 1958 và 1995 – 1996.

Từ năm 1949 đến 1954, Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Phúc KiếnTrương Đỉnh Thừa (张鼎丞. 1898 – 1981)[265] giai đoạn (1949 – 1954) và Diệp Phi (叶飞. 1914 – 1999)[266] giai đoạn (1954 – 1955). Vào tháng 02 năm 1955, cơ quan được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Phúc Kiến. Diệp Phi tiếp tục là Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh giai đoạn 1955 – 1959, sau đó là Giang Nhất Chân (江一真. 1915 – 1994)[267] (ba tháng năm 1959), Ngũ Hồng Tường (伍洪祥. 1914 – 2005)[268] giai đoạn (19601962), Giang Nhất Chân quay lại hai tháng năm 1962 và Ngụy Kim Thủy (魏金水. 1906 – 1992)[269] giai đoạn (1962 – 1967). Trong đó, Trương Đỉnh Thừa là Thủ trưởng tỉnh đầu tiên, đến năm 1954, điều chuyển khỏi Phúc Kiến, về Trung ương làm Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao hơn hai mươi năm (1954 – 1975), Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Tại Phúc Kiến, giai đoạn 1954 – 1958, là vùng đất trong xung đột Trung Quốc – Đài Loan, với Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 1 (1954 – 1955)[270]Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần 2 (1958)[271]. Diệp Phi quản lý hành chính tỉnh, kiêm nhiệm Tư lệnh và Chính ủy Quân khu Phúc Châu, tham gia các cuộc khủng hoảng eo biển, được thụ phong Thượng tướng năm 1955, về sau là Tư lệnh và Chính ủy Hải quân Giải phóng quânsau nhiều năm tham chiến hải quân rồi giữ vị trí Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại (cấp Phó Quốc gia) trước khi nghỉ hưu.

Những năm đầu, dãy núi Phúc Kiến không thể xây dựng đường sắt, làm cản trở sự phát triển kinh tế của khu vực và liên kết với các tỉnh lân cận. Đường sắt Ưng Đàm – Hạ Môn (nối liền Ưng Đàm, Giang Tây và thành phố Hạ Môn) hoàn thành năm 1956 đã góp phần phát triển. Tuy Phúc Kiến trong những ngày đầu chững lại trong quá trình phát triển, nhưng đã bảo vệ hệ sinh thái của tỉnh, ngày nay, là nơi có tỷ lệ che phủ rừng cao nhất và sinh quyển đa dạng nhất ở Trung Quốc trong khi nhiều tỉnh miền Trung đang gặp nhiều phá hoại, ảnh hưởng xấu từ ô nhiễm.

Tháng 08 năm 1968, cơ quan hành chính được tổ chức lại thành Ủy ban Cách mạng tỉnh Phúc Kiến. Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Phúc Kiến là Hàn Tiến Sở (韩先楚. 1913 – 1986)[272] giai đoạn (1968 – 1973) và Liêu Chí Cao (廖志高. 1913 – 2000)[273] giai đoạn (1973 – 1977). Cả hai đều kiêm nhiệm Chính ủy Quân khu Phúc Châu, trong đó Hàn Tiến SởThượng tướng, sau đó là Tư lệnh Quân khu Lan Châu rồi giữ vị trí Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại (cấp Phó Quốc gia tương tự với Diệp Phi) trước khi nghỉ hưu.

Tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Phúc Kiến giải thể và Chính phủ Nhân dân tỉnh Phúc Kiến được tái lập. Giai đoạn 1979 – 2020, có 12 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Phúc Kiến, là Mã Hưng Nguyên (马兴元. 1917 – 2005)[274] giai đoạn (1979 – 1983), Hồ Bình (胡平. 1930)[275] giai đoạn (1983 – 1987), Vương Triệu Quốc (1987 – 1990)[276], Giả Khánh Lâm (1990 – 1994)[277], Trần Minh Nghĩa (陈明义. 1940)[278] giai đoạn (1994 – 1996), Hạ Quốc Cường (1996 – 1999)[279], Tập Cận Bình (1999 – 2002)[280], Lư Triển Công (2002 – 2004)[281], Hoàng Tiểu Tinh (2004 – 2011)[282], Tô Thụ Lâm (苏树林. 1962)[283] giai đoạn (2011 – 2015), Vu Vĩ Quốc (2015 – 2017)[284], Đường Đăng Kiệt (2017 – nay).

Giai đoạn 1987 – 2002, Chính phủ Nhân dân tỉnh Phúc Kiến trở nên đặc biệt, có năm Tỉnh trưởng, bốn người sau đó trở thành cán bộ cao cấp. Đó là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia Vương Triệu Quốc (1941), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Ủy viên trưởng thứ nhất Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ tư Giả Khánh Lâm (1940), là Bí thư Thành ủy thành phố Bắc Kinh trước khi trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (khóa XVI, XVII), Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ sáu Hạ Quốc Cường (1943), là Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Thành ủy thành phố Trùng Khánh trước khi trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (khóa XVII), Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bên cạnh đó còn có Lư Triển Công, hiện là Phó Chủ tịch Chính Hiệp, một chức vụ hàm Phó Quốc gia trước khi nghỉ hưu và Tô Thụ Lâm, người được bổ nhiệm làm Tỉnh trưởng Phúc Kiến năm 49 tuổi, đầy tiềm năng thăng cấp nhưng đã vi phạm kỷ luật nghiêm trọng, khai trừ khỏi Đảng năm 2017. Trong những năm ở Phúc Kiến, Hạ Quốc Cường tham gia ứng phó Khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ ba, năm 1995 – 1996. Một loạt các vụ thử tên lửa do Trung Quốc tiến hành ở vùng biển xung quanh Đài Loan, bao gồm Eo biển Đài Loan. Nhóm tên lửa đầu tiên được bắn vào giữa đến cuối năm 1995 được cho là nhằm gửi tín hiệu mạnh mẽ tới chính phủ Trung Hoa Dân Quốc dưới thời Lý Đăng Huy, một phần Chính sách một Trung Quốc.[285]

Và Lãnh đạo Tối cao Trung Quốc đương nhiệm Tập Cận Bình (1953), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Quảng ĐôngSửa đổi

Biến đổi vị tríSửa đổi

 
Diệp Kiếm Anh (1897 – 1986), Nguyên thủ quốc gia (1978 – 1983), Lãnh đạo Quốc gia, Thập đại Nguyên soái Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
 
Năm 1954, Chu Ân Lai, Lưu Thiếu KỳLa Thụy Khanh được Đào Chú, Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông (đầu tiên từ trái sang) đi kiểm tra vườn hồ tiêu ở tỉnh Quảng Đông.

Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông hiện tại là Mã Hưng Thụy, Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63]. Ông là một nhà khoa học vũ trụ hàng đầu của Trung Quốc.

Từ khi được thành lập là một tỉnh Trung Quốc cho đến nay, có nhiều điểm quan trọng trong lịch sử Quảng Đông, gồm cả lĩnh vực hành chính. Tháng 10 năm 1949, ngay sau khi tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc dưới sự chỉ huy của các tướng Lâm Bưu, Diệp Kiếm Anh, Trần Canh đã giành chiến thắng Trận Quảng Đông, chiếm Quảng Đông. Vào ngày 06 tháng 11 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông chính thức được thành lập bao gồm cả đảo Hải Nam. Thủ trưởng đầu tiên là Diệp Kiếm Anh[286], quản lý hành chính tỉnh từ 1949 – 1953, đặc biệt chú trọng nông nghiệp, những năm đầu đất nước độc lập khi ông là một tướng lãnh. Bên cạnh Quảng Đông, ông kiêm nhiệm quản lý khu vực Trung Nam. Về sau, ông là nguyên thủ quốc gia (1978 – 1983), là một trong Thập đại Nguyên soái Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (vị trí thứ hai), Phó Chủ tịch thứ nhất Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Phó Chú tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc. Ông đã nhân tố quan trọng tham gia lật đổ Tứ nhân bang. Sau đó có Quyền Chủ tịch tỉnh Phương Phương (方方. 1904 – 1971)[287] chỉ trong năm 1953 và Đào Chú (陶铸. 1908 – 1969)[288] giai đoạn (1953 – 1957).

Từ năm 1955 đến 1969, cơ quan hành chính mang tên Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Đông. Thủ trưởng là Chủ tịch, gồm Đào Chú (1953 – 1957), Trần Úc (陈郁. 1901 – 1974)[289] giai đoạn (1957 – 1967), Lâm Lý Minh (林李明. 1910 – 1977)[290] giai đoạn quyền năm 1965. Trong những chính khách này, Đào Chú sau đó trở thành Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Bí thư Ban Bí thư Trung ương, Trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương, Bí thư Quảng Đông. Trần Úc tham chiến nhiều năm cùng Cộng sản Đảng, từng giữ vị trí Ủy viên Bộ Chính trị khóa VI thời kỳ trước thành lập nhà nước. Khi Trung Quốc ra đời, ông công tác ở Quảng Đông 10 năm rồi trở về trung ương giữ chức Bộ trưởng các bộ công nghiệp trước khi qua đời.

Ngày 20 tháng 02 năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh Quảng Đông được thành lập. Cơ quan tồn tại từ năm 1968 đến 1979 với việc bổ nhiệm các Thủ trưởng đặc biệt. Có tới bốn vị tướng quân trong giai đoạn này. Nhiệm kỳ có năm người: Hoàng Vĩnh Thắng[291] (1967 – 1969), Lưu Hưng Nguyên (刘兴元. 1908 – 1990)[292] giai đoạn (1969 – 1972), Đinh Thịnh (丁盛. 1913 – 1999)[293] giai đoạn (1972 – 1974), Triệu Tử Dương (1974 – 1975), Vi Quốc Thanh[294]. Triệu Tử Dương làm thủ trưởng trong hơn một năm, sau đó được chuyển tới Tứ Xuyên công tác, lãnh đạo quốc gia sau này. Bốn Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Quảng Đông còn lại đều là tướng quân, hai lãnh đạo cao cấp: Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia Hoàng Vĩnh Thắng, Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Tổng tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp Quân ủy Trung ương Trung Quốc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đông. Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia Vi Quốc Thanh (1913 – 1989), Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quảng Đông, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. Trong đó, Thượng tướng Vi Quốc Thanh cùng Đại tướng Trần Canh được Trung Quốc cử sang Việt Nam những năm 1950 – 1953, làm cố vốn, phụ tá Hồ Chí Minh, hỗ trợ Võ Nguyên Giáp trong Chiến tranh Đông Dương, chống Pháp.

Tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Quảng Đông bị bãi bỏ và Chính quyền Nhân dân tỉnh Quảng Đông được tái lập. Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông từ năm 1979 là Tập Trọng Huân[295], ông đã chỉ đạo cải cách hành chính quan trọng, tạo độc lực cơ bản để Quảng Đông bứt phá.[296] Năm 1978, Đặng Tiểu Bình quyết định mở cửa Trung Quốc. Tại Quảng Đông, Tập Trọng Huân đã báo cáo và thuyết phục trung ương về đẩy mạnh kinh tế Quảng Đông. Vào ngày 15 tháng 07 năm 1979, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung QuốcQuốc vụ viện quyết định giành quyền tự chủ kinh tế nhiều hơn cho hoạt động kinh tế đối ngoại của tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Vào ngày 26 tháng 08 năm 1980, cuộc họp lần thứ mười lăm của Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ năm đã thông qua việc thành lập các đặc khu kinh tế tại Thâm Quyến, Châu HảiSán Đầu ở tỉnh Quảng Đông.[297]

 
Tập Trọng Huân (1913 – 2002) cùng hai con trai, Tập Cận Bình (bên trái), Tập Viễn Bình (giữa). Ảnh năm 1958.

Tập Trọng Huân từng là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, ông thanh trừng trong Đại Cách mạng Văn hóa vô sản, ngược đãi gần 15 năm từ 1965 – 1978. Đến năm 1978 ông mới được khôi phục, điều tới làm Lãnh đạo Quảng Đông. Ông đã tạo ra cách mạng kinh tế, phát triển Quảng Đông mạnh mẽ. Những cống hiến mà ông đóng góp là vô cùng đặc sắc và quan trọng cho Trung Quốc thế kỷ mới[298]. Sau đó, ông là Phó Ủy viên trưởng thứ nhất Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc. Dù trước hay sau những năm bị thành trừng, ông đều là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Một người con trai của ông là Tập Cận Bình, đương nhiệm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, lãnh đạo tối cao thứ sáu của Trung Quốc.

Từ năm 1981 đến nay, có tám Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông kế nhiệm Tập Trọng Huân, thường là chức vụ cuối cùng trước khi nghỉ hưu (không điều chuyển hay thăng chức), bốn người Quảng Đông. Ngoại trừ lãnh đạo đặc biệt Tập Trọng Huân, chưa có Tỉnh trưởng Quảng Đông nào trong những năm này trở thành Bí thư Quảng Đông, khi mà Bí thư Quảng Đông trở thành một chức vụ quan trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, hàm Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Một trong các nhiệm vụ quan trọng của Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Đông là chỉ đạo phát triển kinh tế tỉnh. Nhiệm kỳ có Lưu Điền Phu (刘田夫. 1908 – 2002)[299] giai đoạn (1981 – 1983), Lương Linh Quang (梁灵光. 1916 – 2006)[300] giai đoạn (1983 – 1985), Diệp Tuyến Bình (叶选平. 1924 – 2019)[301] giai đoạn (1985 – 1991), Chu Sâm Lâm (朱森林. 1930)[302] giai đoạn (1991 – 1996), Lô Thụy Hoa (卢瑞华. 1938)[303] giai đoạn (1996 – 2003), Hoàng Hoa Hoa (2003 – 2011)[304], Chu Tiểu Đan (2011 – 2016)[305]. Trong đó Diệp Tuyến Bình là con trai cả của cựu lãnh đạo Diệp Kiếm Anh.

Quý ChâuSửa đổi

 
Tam Dương, ba Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Dương Dũng, Dương Thành Vũ, Dương Đắc Chí từ trái qua phải. Dương Dũng (1913 – 1983), nguyên Thủ trưởng Quý Châu.

Quý Châu là tỉnh nằm ở phía Tây Nam Trung Quốc. Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý Châu đặt trụ ở tại thành phố tỉnh lỵ Quý Dương. Đương nhiệm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý ChâuKham Di Cầm, một người phụ nữ Người Bạch, Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX. Bà là nữ Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân đầu tiên của Quý Châu trong lịch sử.

 
Triệu Khắc Chí (1953), Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Công an, Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý Châu (2010 – 2012).

Vào tháng 12 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý Châu chính thức được thành lập. Người được bổ nhiệm làm Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý Châu giai đoạn 1949 – 1954 là Dương Dũng[306], Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, từng giữ vị trí Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh sau khi chuyển khỏi Quý Châu. Ông là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Vào tháng 02 năm 1955, cơ quan được đổi tên thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Quý Châu, giai đoạn 1955 – 1967. Các Tỉnh trưởng giai đoạn này là Chu Lâm (1955 – 1965),[307] Lý Lập (1965 – 1967).[308] Sau đó Lý Tái Hàm[309] là Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Quý Châu từ năm 1967 đến 1971. Sau đó là Lam Diệc Nông (1972 – 1973),[310] Lỗ Thụy Lâm (1973 – 1977),[311] Mã Lực (1977 – 1979).[312]

Vào tháng 01 năm 1980, Ủy ban Cách mạng tỉnh Quý Châu đã bị bãi bỏ và Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý Châu được tái lập. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý ChâuTô Cương (1980 – 1983),[313] Vương Triều Văn (1983 – 1993),[314] Trần Sĩ Năng (1993 – 1996),[315] Ngô Diệc Hiệp (1996 – 1998),[316] Tiền Vận Lục (1998 – 2001)[317], Thạch Tú Thi (2001 – 2006)[318] hay Lâm Thụ Sâm (2006 – 2010).[319] Các Thủ trưởng giai đoạn từ năm 2010 đến nay, có Triệu Khắc Chí (2010 – 2012)[320], Trần Mẫn Nhĩ (2012 – 2015)[321], Tôn Chí Cương (2015 – 2017)[322]Kham Di Cầm (2017 – nay). Triệu Khắc Chí là đương nhiệm Bí thư Đảng ủy, Bộ trưởng Bộ Công an Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cho thấy việc điều chỉnh chức vụ ở Trung Quốc có điểm khác biệt so với các nước khác, gồm cả phương Tây và Việt Nam. Ở các nước như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, chức vụ Thủ trưởng Cảnh sát được bổ nhiệm cho các cảnh sát chuyên ngành. Ở Việt Nam, Thủ trưởng các cơ quan công an được bổ nhiệm cho các công an, tốt nghiệp chuyên ngành, công tác nhiều năm trong lĩnh vực an ninh. Triệu Khắc Chí trước đó không tốt nghiệp hay công tác trong ngành công an nhưng được chuyển từ vị trí Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Bắc sang làm Bộ trưởng Bộ Công an Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, cho thấy việc sử dụng linh hoạt của Trung Quốc. Ông là Ủy viên Quốc vụ, chức vụ cấp Phó Quốc gia.

Năm 2010, Triệu Khắc Chí, Trần Mẫn Nhĩ, Tôn Chí Cương, Kham Di Cầm đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX. Tôn Chí Cương, đương nhiệm là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Quý ChâuTrần Mẫn Nhĩ, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 19 (2017-2022), Bí thư Thành ủy thành phố Trùng Khánh, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Trần Mẫn Nhĩ cũng là cán bộ cao cấp nhất từng giữ vị trí Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Quý Châu.

Sơn ĐôngSửa đổi

Thời kỳ đầuSửa đổi

 
Ảnh năm 1966, Khang Sinh thăm Albania tại Đại hội Đảng Lao động Albania.

Sơn Đông là tỉnh ven biển. Vào ngày 17 tháng 8 năm 1940, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định thành lập Ủy ban Xúc tiến công tác thời chiến tỉnh Sơn Đông. Vào tháng 08 năm 1943, đổi tên thành Ủy ban Hành chính thời chiến tỉnh Sơn Đông. Năm 1957, Trần NghịTúc Dụ chỉ huy và chiến thắng chiến dịch Mạnh Lương Cố. Năm 1949, sau khi quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Thanh Đảo, Giải phóng quân tiến vào đóng quân trong thành phố.

 
Dương Đắc Chí (1911 – 1994), Thượng tướng, Tham mưu trưởng, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Chủ nhiệm Uỷ ban Cách mạng tỉnh Sơn Đông (1971 – 1974).

Vào tháng 12 năm 1949, Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Đông chính thức được thành lập. Năm 1950, một số phần ở tây bộ Sơn Đông gồm Hà TrạchLiêu Thành đã bị tách ra để hợp thành tỉnh mới Bình Nguyên, song tỉnh này tách vào năm 1952, các khu vực này lại trở về Sơn Đông. Từ ChâuLiên Vân Cảng của Giang Tô cũng từng thuộc quyền quản lý của Sơn Đông trong giai đoạn 1949 – 1952. Giai đoạn 1949 – 1955, lãnh đạo Sơn Đông là Khang Sinh[323], Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Đông. Thời gian này, ông tỏ ra không hài lòng với sự sắp xếp của Trung ương, là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc chỉ giữ chức Phó Bí thư Trung ương Cục Hoa Đông và Bí thư Tỉnh ủy Sơn Đông. Sau đó, Trung ương đã yêu cầu ông hồi phục ở Hàng Châu. Khang Sinh đã gửi một bức điện nói rằng ông không cần phục hồi, sau đó đổi ý và đến Hàng Châu rồi đến Bệnh viện Bắc Kinh để hồi phục. Lúc này, bác sĩ đánh giá rằng ông bị suy nhược thần kinh[324]. Khang Sinh đã phát biểu rằng ông không có năng lực phát triển kinh tế, xây dựng mà chỉ hiểu về đấu tranh giai cấp, và căn bệnh đến từ đó. Về sau, ông giữ các chức vụ Phó Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (nhiệm kỳ VIII, XIX, X, vị trí thứ năm, bốn và bảy), Cố vấn Tiểu Tổ Văn Cách Trung ương Trung Quốc, Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc[324]. Ông là Lãnh đạo Quốc gia phụ tá Mao Trạch Đông, nhưng lại cùng Tứ nhân bang (Giang Thanh, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn NguyênVương Hồng Văn) tham gia tích cực Đại Cách mạng Văn hóa vô sản, sát hại nhiều Đảng viên.[325] Ông qua đời năm 1975, bị khai trừ khỏi Đảng năm 1980.

Vào tháng 03 năm 1955, cơ quan được đổi tên thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn Đông. Kế nhiệm Khang Sinh, Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn Đông là Triệu Kiện Dân (1955- 1958), Đàm Khải Long (1958 – 1963), Bạch Như Băng (1963 – 1967). Trong Nạn đói lớn 1959 – 1961, Sơn Đông là một trong các tỉnh chịu thiệt hai nghiêm trọng nhất toàn quốc, đặc biệt là vùng có Hoàng Hà chảy qua.

Tháng 03 năm 1967, Ủy ban Cách mạng tỉnh Sơn Đông được thành lập. Các Chủ nhiệm là Vương Hiệu Vũ (1967 – 1969), Dương Đắc Chí (1971 – 1974)[326], Bạch Như Băng quay trở lại giữ chức (1974 – 1979). Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Dương Đắc Chí về sau là Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu liên hợp Quân ủy Trung ương Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Dương Đắc Chí cùng Từ Hướng Tiền, Hứa Thế Hữu tham gia Chiến tranh biên giới Việt – Trung 1979.

Thủ trưởng hiện đại hóaSửa đổi

Tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Sơn Đông giải thế và Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Đông được tái lập. Từ thập niên 1980, sau kỳ cải cách mở cửa phát triển kinh tế, Sơn Đông, đặc biệt là vùng duyên hải đông bộ, đã có sự phát triển to lớn về kinh tế, trở thành một trong các tỉnh giàu có nhất của Trung Quốc. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Đông từ năm 1979 là Tô Nghị Nhiên (1979 – 1982), Lương Bộ Đình (1982 – 1985), Lý Xương An (1985 – 1987), Khương Xuân Vân (1987 – 1989), Triệu Chí Hạo (1989 – 1995), Lý Xuân Đình (1995 – 2001), Trương Cao Lệ (2001 – 2003)[327], Hàn Ngụ Quần (2003 – 2007), Khương Đại Minh (2007 – 2013)[323], Quách Thụ Thanh (2013 – 2017)[328], Cung Chính (2017 – nay). Trong đó, Khương Xuân Vân (1930 -) là Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia,Trương Cao Lệ (1946), Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (Vị trí thứ bảy), Phó Tổng lý Quốc vụ viện thứ nhất, là Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ bảy (2012 – 2017). Từ năm 1949 đến 2020, Sơn Đông có tới bốn Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Đông về sau là Lãnh đạo Quốc gia, Lãnh đạo Phó Quốc gia. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Đông thế kỷ XXI đều là chuyên gia kinh tế. Sơn Đông có dân đông đảo và kinh tế cao. Năm 1978, GDP Sơn Đông đứng thứ tư trong cả nước. Trong 30 năm 1979 – 2008, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình hàng năm ở Sơn Đông là 11,6%, đứng thứ năm trong cả nước sau Quảng Đông, Chiết Giang, Phúc KiếnNội Mông Cổ, trong đó tốc độ tăng trưởng GDP từ 1992 đến 1995 vượt quá 20%[329]. Kể từ năm 2007, kinh tế Sơn Đông đã đứng thứ ba trong cả nước. Năm 2014, tổng GDP của Sơn Đông là gần một nghìn tỷ USD và GDP bình quân đầu người là 9.911 USD. Trong năm 2015, GDP tăng 8,0%, vượt sáu nghìn tỷ NDT[330]. Năm 2015, 15 tỉnh và thành phố thuộc tỉnh Sơn Đông đã lọt vào danh sách 100 thành phố hàng đầu ở Trung Quốc, số lượng được xếp hạng đầu tiên ở mỗi tỉnh[331]. Năm 2017, GDP tăng 7,4% so với năm trước và vượt bảy nghìn tỷ NDT. Thương mại nước ngoài của Sơn Đông đã phục hồi mạnh mẽ, với các đối tác xuất nhập khẩu là Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Năm 2017, tổng giá trị xuất nhập khẩu đạt 17.823 tỷ nhân dân tệ[332]. Năm 2018, Sơn Đông là tỉnh đông thứ hai về số dân, đứng thứ ba về kinh tế Trung Quốc với 100,4 triệu dân, tương đương Philippines[60] và GDP đạt 7,65 nghìn tỷ NDT (1,165 nghìn tỷ USD),[333] tương ứng với México, hạng 15 thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 11.525 USD, hạng chín trong nước.

Sơn TâySửa đổi

Thủ trưởng thế hệ đầuSửa đổi

Tháng 05 năm 1949, toàn bộ lãnh thổ Sơn Tây được giải phóng. Vào tháng 08 cùng năm, Chính phủ Nhân dân Bắc Trung Quốc chính thức bổ nhiệm các thành viên của Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Tây, chính thức thành lập, trụ sở tại Thái Nguyên, Sơn Tây. Từ năm 1949 đến năm 1955, Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Tây có ba Chủ tịch gồm Trình Tử Hoa (1949 – 1951), Lại Nhược Ngu (1951 – 1952), Bùi Lệ Sinh (1952 – 1955). Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Sơn Tây nằm trong các kế hoạch Tiểu tam tuyến kiến thiếtChi viện nội địa, kinh tế xã hội Sơn Tây có hướng phát triển thời gian này. Trình Tử HoaLại Nhược Ngu công tác ở Sơn Tây trong thời gian ngắn rồi về trung ương tại các Công hội, Trình Tử Hoa là Chủ nhiệm Tổng Hợp tác xã Cung ứng tiêu thụ Toàn quốc Trung Quốc, Lại Nhược Ngu là Chủ tịch Tổng Công hội Toàn quốc Trung Quốc.

Vào tháng 02 năm 1955, Chính phủ Nhân dân của tỉnh Sơn Tây được tổ chức lại thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn Tây. Từ năm 1955 đến năm 1967, Ủy ban Nhân dân tỉnh Sơn Tây có bốn Tỉnh trưởng gồm Bùi Lệ Sinh, tiếp tục giữ chức (1955 – 1956), Vương Thế Anh (1956 – 1958), Vệ Hằng (1958 – 1965), Vương Khiêm (1965 – 1967). Cát ba người đều gặp vấn đề trong Đại Cách mạng Văn hóa vô sản. Vương Thế Anh đã kiên quyết đối đầu với Giang ThanhKhang Sinh trong một thời gian dài. Trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa vô sản, nhóm Cách mạng Văn hóa Trung ương do Giang ThanhKhang Sinh lãnh đạo bắt đầu bức hại hàng loạt Đảng viên. Vào ngày 04 tháng 10 năm 1967, Vương Thế Anh bị đưa đến Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc để chỉ trích và bị giam giữ. Vào ngày 15 tháng 02 năm 1968, tình trạng của ông xấu đi và được đưa vào bệnh viện để trị liệu bức xạ, thẩm vấn tại phòng bệnh. Ông mất vài ngày sau khi được thẩm vấn tại phòng bệnh[334]. Vệ Hằng bị tra tấn bởi Hồng vệ binh, qua đời năm 1967 tại Thái Nguyên, Sơn Tây. Còn Vương Khiêm bị bắt bớ năm 1966, khi đang là Tỉnh trưởng Sơn Tây và giam giữ cho đến năm 1970[335]. Về sau, vào năm 1979, Đặng Tiểu Bình tổ chức buổi lễ tưởng niệm các đồng chí, có Vương Thế Anh:[336]

Đối với Vệ Hằng, ông được Tỉnh ủy Sơn Tây minh oan năm 1985. Đới với Vương Khiêm thoát khỏi thanh trừ Cách mạng, quay trở lại năm 1975. Tháng 03 năm 1967, Ủy ban Cách mạng tỉnh Sơn Tây được thành lập. Từ năm 1967 đến năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Sơn Tây có ba Chủ nhiệm, gồm Lưu Cách Bình (1967 – 1971), sau là Ủy viên Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương Trung Quốc, Thiếu tướng Tạ Chấn Hoa (1971 – 1975), Vương Khiêm, quay trở lại giữ chức (1975 – 1979). Trong thời kỳ Cách mạng Văn hóa, tại Sơn Tây đã tiến hành xây dựng chủ nghĩa tập thể, trong đó nổi bật là mô hình kinh tế tập thể chủ nghĩa tại thôn Đại Trại, Mao Trạch Đông từng ban ra lời hiệu triệu Nông nghiệp học Đại Trại. Sau cải cách kinh tế, kinh tế Sơn Tây chuyển từ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên than đá phong phú dưới lòng đất sang dùng than đá để phát triển điện lực, than hóa học.

Từ 1979Sửa đổi

Vào tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng của tỉnh Sơn Tây được giải thể và Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Tây được tái lập. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Tây từ 1979 có La Quý Ba (1979 – 1983), Vương Sâm Hạo (1983 – 1992), Hồ Phú Quốc (1992 – 1993), Tôn Văn Thành (1993 – 1999), Lưu Chấn Hoa (1999 – 2004), Trương Bảo Thuận (2004 – 2005)[337], Vu Yếu Quân (2005 – 2007), Mạnh Học Nông (2007 – 2008), Vương Quân (2008 – 2012)[338], Lý Tiểu Bằng (2012 – 2016)[339], Lâu Dương Sinh (2016 – 2019) và Lâm Vũ. Giai đoạn này có 12 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Tây, chỉ bốn người trở thành Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Sơn Tây, chưa có lãnh đạo cao cấp nào từng giữ vị trí. Ngoài ra, có Mạnh Học Nông đã từng rời vị trí tới hai lần, lần thứ nhất năm 2003, đang là Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố Bắc Kinh, cách chức vì không kiểm soát thành công Sự kiện SARS, lần thứ hai năm 2008, đang là Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Tây, từ chức vì không xử lý thành công Vụ lở đất Sơn Tây 2008.

Năm 2018, Sơn Tây là tỉnh đứng thứ mười tám về số dân, đứng thứ hai mươi hai về kinh tế Trung Quốc với 37 triệu dân, tương đương với Canada[60] và GDP đạt 1.682 tỉ NDT (254,2 tỉ USD) tương ứng với Việt Nam.[340] GDP bình quân đầu người của Sơn Tây năm 2018 là 45.425 NDT, tương ứng với 6.765 USD (hạng thứ 23), vị trí thấp ở Trung Quốc. Trong giai đoạn 2016 – 2019, khi Lâu Dương SinhTỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Sơn Tây, tỉnh đã đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế tốt, khi Tổng sản phẩm nội địa tỉnh năm 2016 là 196,47 tỷ USD,[333] năm 2019 dự kiến đạt 275 tỷ USD.

Thanh HảiSửa đổi

 
Bản[liên kết hỏng] đồ tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc

Thanh Hải là một tỉnh hiện gặp nhiều khó khăn về kinh tế. Năm 2018, Thanh Hải có 5,9 triệu dân, GDP danh nghĩa đạt 188,5 tỉ NDT (29,9 tỉ USD),[333] chỉ số GDP đầu người đạt 47.690 NDT (tương ứng 7,207 USD).[61] Chính phủ Nhân dân tỉnh Thanh Hải là cơ quan chủ yếu quản lý vấn đề kinh tế tỉnh, phát triển kinh tế tỉnh. [[Tập|trái|nhỏ|Triệu Lạc Tế (1957), Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 19, Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ sáu.]] Vào tháng 01 năm 1950, Ủy ban Chính trị và Quân sự Nhân dân tỉnh Thanh Hải cũ được tổ chức lại để thành lập Chính phủ Nhân dân tỉnh Thanh Hải. Từ 1950 đến 1955 có ba Chủ tịch gồm Triệu Thọ Sơn (1950 – 1952), Trương Trọng Lương (1952 – 1954), Tôn Tác Tân (1954 – 1955). Vào tháng 01 năm 1955, cơ quan được đổi tên thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Thanh Hải. Các vị Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân gồm Tôn Tác Tân (1955 – 1958), Tôn Quân Nhất, (1955), Viên Nhiệm Viễn (1958 – 1962), Vương Chiêu (1962 – 1967).

Tháng 08 năm 1967, cơ được đổi thành Ủy ban Cách mạng tỉnh Thanh Hải, Lưu Hiện Quyền làm Thủ trưởng 10 năm (1967 – 1977), tiếp theo là Đàm Khải Long (1977 – 1979). Tháng 08 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Thanh Hải bị bãi bỏ và Chính phủ Nhân dân tỉnh Thanh Hải được tái lập. Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Thanh Hải từ đó đến nay gồm Trương Quốc Thanh (1979 – 1982), Hoàng Tĩnh Ba (1982 – 1985), Tống Thụy Tường (1985 – 1989), Kim Cơ Bằng (1989 – 1992), Điền Thành Bình (1992 – 1997)[341], Bạch Ân Bồi (1997 – 1999), Dương Truyền Đường (2003 – 2004). Từ năm 1999 đến nay, trong số các Tỉnh trưởng Thanh Hải có tới sáu Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63] đang công tác chưa về hưu, gồm Triệu Lạc Tế[342], Tống Tú Nham (nữ), Lạc Huệ Ninh[343], hiện là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Sơn Tây, Hác Bằng, hiện là Bí thư Đảng ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát và Quản lý Tài sản Nhà nước Trung Quốc, Vương Kiến Quân[344], Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thanh HảiLưu Ninh, đương nhiệm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Thanh Hải.

 
Thanh[liên kết hỏng] Hải

Lịch sử Chính phủ Nhân dân tỉnh Thanh Hải chỉ có một vị lãnh đạo quốc gia từng giữ vị trí Thủ trưởng tỉnh, đó là Triệu Lạc Tế (1957 -), Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX (lãnh đạo thứ sáu), Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, nguyên Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Ông là người trẻ nhất trong số bảy lãnh đạo quốc gia hiện tại, từng là Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Thanh Hải, giai đoạn (1999 – 2003), khi chỉ mới 42 tuổi. Ông sinh ra ở Tây Ninh, Thanh Hải. Triệu Lạc Tế là một trong những phụ tá của Tập Cận Bình, hiện đang là Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ sáu Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa, người trẻ nhất trong số bảy Lãnh đạo Quốc gia hiện tại.

Thiểm TâySửa đổi

Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm Tây được Đảng Cộng sản Trung Quốc thiết lập từ trong cuộc Nội chiến Trung Quốc giữ Đảng Cộng sản Trung QuốcTrung Quốc Quốc dân

Đảng. Trong Nội chiến Trung Quốc thứ hai, các cơ quan hành chính được Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập ở khu vực phía bắc Thiểm Tây nhằm chiếm giữ Thiểm Tây, Cam Túc và Ninh Hạ. Sau khi Hồng quân Trung HoaỦy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đến miền bắc Thiểm Tây, các cơ quan hành chính được quyết định sáp nhập vào khu vực Quan Trung. Vào tháng 09 năm 1937, Chính phủ Nhân dân Vùng Biên giới Thiểm Tây – Cam Túc – Ninh Hạ được thành lập. Kể từ năm 1943, Chính quyền Nhân dân khu vực biên giới có quyền chiếm lĩnh hơn 20 quận tại Thiểm Tây.[345]

Vào tháng 05 năm 1949, Chính phủ Nhân dân Vùng Biên giới Thiểm Tây – Cam Túc – Ninh Hạ chuyển đến Tây An. Sau khi Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc đóng quân ở tỉnh Thiểm Tây, đã tổ chức thành lập 102 cơ quan hành chính địa phương trong tỉnh. Vào ngày 10 tháng 01 năm 1950, Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm Tây được thành lập và thủ phủ của tỉnh được thành lập tại Tây An. Cùng ngày, Báo cáo của Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm Tây được công bố, với nội dung:

"Theo lệnh Trung ương, bổ nhiệm đồng chí Mã Minh Phương làm Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm Tây, các đồng chí Phó Chủ tịch... Mã Minh Phương và Chính phủ Nhân dân tỉnh tổ chức lễ nhậm chức tại Tây An vào ngày 10 tháng 01 năm 1950. Chính phủ Nhân dân tỉnh quyết tâm tuân thủ mục tiêu, quyết định của Chính phủ Nhân dân Trung ương và Ủy ban Quân sự và Chính trị Tây Bắc, đoàn kết nhân dân Thiểm Tây bằng mọi khả năng..."

 
Vương Nhiệm Trọng (1917 – 1992) (thứ ba từ phải qua), nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Thiểm Tây (1978 – 1979).

Mã Minh PhươngTriệu Thọ Sơn là hai Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm Tây trong giai đoạn này. Năm 1954, Đại hội Đại biểu Nhân dân tỉnh Thiểm Tây được thành lập, theo Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thông qua năm 1954, cuộc họp lần thứ hai của Đại hội Đại biểu Nhân dân tỉnh Thiểm Tây đầu tiên đã được tổ chức từ ngày 26 tháng 12 đến ngày 31 tháng 12 năm đó, đổi tên chức vụ và bầu Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh. Triệu Thọ Sơn tái nhiệm (1955 – 1959), Triệu Bá Bình (1959 – 1963), Lý Khải Minh (1963 – 1966), Lý Thụy Sơn (1966 – 1967). Lý Thụy Sơn tiếp tục giữ vị trí Chủ nhiệm Ủy ban Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Kiểm soát tỉnh Thiểm Tây (1967 – 1968).

Ngày 01 tháng 05 năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh Thiểm Tây được thành lập tại Tây An. Lý Thụy Sơn lại được bầu làm Chủ nhiệm (1968 – 1978), và Vương Nhiệm Trọng (1978 – 1979). Tính đến nay, Vương Nhiệm Trọng là cán bộ cao cấp nhất về sau từng giữ vị trí Tỉnh trưởng Thiểm Tây, từng là Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Vào tháng 12 năm 1979, cuộc họp thứ năm của Đại hội Đại biểu Nhân dân tỉnh Thiểm Tây đã quyết định Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm Tây, theo nghị định Trung ương, bầu Tỉnh trưởng, Phó Tỉnh trưởng. Từ đó đến nay, các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm TâyVu Minh Đào (1979 – 1983), Lý Khánh Vĩ (1983 – 1986), Trương Bột Hưng (1986 – 1987), Hầu Tông Tân (1987 – 1990), Bạch Thanh Tài (1990 – 1994), Trình An Đông (1994 – 2002), Giả Trị Bang (2002 – 2004)[346], Trần Đức Minh (2004 – 2006), Viên Thuần Thanh (2006 – 2010)[347], Triệu Chính Vĩnh (2010 – 2012)[348]. Trong thời gian từ 2014 đến 2019, đã có điều tra về vụ việc xây dựng bất hợp phát tại Tần Lĩnh, Thiểm Tây, Triệu Chính Vĩnh bị Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ươngỦy ban Giám sát Nhà nước bắt giữ để điều tra do vi phạm kỷ luật và pháp luật nghiêm trọng.[349][350]

Gần đây có Lâu Cần Kiệm[351], hiện đang là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Giang Tô, Hồ Hòa Bình, hiện là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thiểm Tây và đương nhiệm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Thiểm Tây Lưu Quốc Trung. Cả ba đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX.[63]

Tứ XuyênSửa đổi

Tứ Xuyên năm 2018 có 83 triệu dân, tương đương Đức[60], GDP đạt 4.068 tỉ Nhân dân tệ (tương đương 615,4 tỉ USD).[61] Tứ Xuyên gặp nhiều khó khăn trong lịch sử thành lập từ 1952.

Thời kỳ đầuSửa đổi

Vào tháng 12 năm 1949, chiến tranh phía tây nam kết thúc và Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chiếm toàn bộ tỉnh Tứ Xuyên. Từ tháng 01 năm 1950, các Ủy ban Hành chính được thành lập nhằm quản lý Tứ Xuyên bao gồm khu Xuyên Bắc, Xuyên Tây, Xuyên Nam và Xuyên Nam. Địa bàn Tứ Xuyên được chia thành bốn khu, tồn tại từ năm 1950 đến năm 1952. Thủ trưởng các đơn vị này là tiền đề Thủ trưởng hành chính tỉnh Tứ Xuyên.

Thủ trưởng bốn cơ quan hành chính tiền đề tỉnh Tứ Xuyên từ 1950 – 1952
Chân dung Tên Chức vụ Chức vụ về sau
  Diêm Hồng Ngạn (1909 – 1967)

Quê tại Thiểm Tây.

Mất năm 1967 tại Côn Minh.

Chủ nhiệm Ủy ban Hành chính Xuyên Đông

(giai đoạn 1950 – 1952)

Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc.
Chính ủy Quân khu Côn Minh.
Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vân Nam.
Bí thư thứ nhất Ủy ban Tây Nam Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
  Trương Quốc Hoa (1914 – 1972)

Quê tại Cát An, Giang Tây.

Mất năm 1972 tại Thành Đô.

Chủ nhiệm Ủy ban Hành chính Xuyên Nam

(năm 1950)

Phong Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc 1955.
Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách tỉnh Tứ Xuyên từ 1968 – 1972.
Bí thư Khu ủy Khu tự trị Tây Tạng.
Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Tứ Xuyên.
  Lý Tĩnh Toàn (1909 – 1989)

Quê tại Lâm Xuyên,Giang Tây.

Mất năm 1989 tại Bắc Kinh.

Chủ nhiệm Ủy ban Hành chính Xuyên Tây

(giai đoạn 1950 – 1952)

Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bí thư Ủy ban Trung ương Tây Nam Trung Quốc.
Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy tỉnh Tứ Xuyên.
Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.
Ủy viên Ủy ban Cố vấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Chính ủy Quân khu Thành Đô.
Cán bộ Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Thủ trưởng Tứ Xuyên đầu tiên
  Hồ Diệu Bang[352] (1915 – 1989)

Quê tại Hồ Nam.

Mất năm 1989 tại Bắc Kinh.

Chủ nhiệm Ủy ban Hành chính Xuyên Bắc

(giai đoạn 1950 – 1952)

Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc 1982 – 1987.
Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (1981 – 1982).
Tổng Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Lãnh đạo quốc gia vị trí thứ bảy rồi thứ năm và thứ nhất.
Tổng thư ký Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Bí thư thứ nhất Tỉnh ủy tỉnh Thiểm Tây.
Bí thư thứ nhất Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc.
Lãnh đạo Quốc gia từ 1980 – 1987.

Vào ngày 07 tháng 08 năm 1952, cuộc họp lần thứ 17 của Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương Trung Quốc đã quyết định giải thể bốn cơ quan hành chính nói trên và sáp nhập và thành lập Chính phủ Nhân dân tỉnh Tứ Xuyên. Thủ trưởng là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh từ năm 1952 đến 1955, là Lý Tĩnh Toàn, bổ nhiệm từ vị trí Chủ nhiệm Xuyên Tây, là Thủ trưởng cơ quan hành chính tỉnh đầu tiên của Tứ Xuyên. Năm 1954, thành phố Trùng Khánh được hạ hành thành phố trực thuộc tỉnh Tứ Xuyên, một phần Tứ Xuyên cho đến năm 1997, quay lại vị trí thành phố trực thuộc trung ương.

Vào tháng 01 năm 1955, cơ quan được đổi tên thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Tứ Xuyên. Vào tháng 07 cùng năm, một phần tỉnh Tây Khang cũ đã được sáp nhập vào Tứ Xuyên (một phần vào Khu tự trị Tây Tạng). Từ 1959 đến 1961, nạn đói lớn đã diễn ra, người dân Tứ Xuyên đã phải chịu một nạn đói chưa từng thấy trong lịch sử, đặc biệt là ở vùng đồi núi Xuyên Đông có dân đông và ít đất canh tác. Tổng số người chết không tự nhiên ở Tứ Xuyên là 9,4 triệu người.[41] Là Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Tứ Xuyên 13 năm (1955 – 1968), Lý Đại Chương có nhiệm vụ vượt qua nạn đói cho tỉnh, đến năm 1961 mới kết thúc. Nạn đói cũng đã làm tổn hại đến sản xuất công nghiệp và nông nghiệp trong tỉnh, ba năm này có thể xem là một bước ngoặt của Tứ Xuyên bởi vì kể từ đó Tứ Xuyên đã không còn là một trong những khu vực phát triển nhất tại Trung Quốc.

Từ 1968Sửa đổi

 
Ảnh năm 1984 tại Hoa Kỳ giữa Triệu Tử Dương, Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bên phải ngoài cùng, cùng Ronald Reagan, Tổng thống Hoa Kỳ (thứ 40), và Nancy Reagan, phu nhân.

Tháng 05 năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh Tứ Xuyên được thành lập, trong giai đoạn Đại Cách mạng Văn hóa vô sản. Hai Trung tướng[353] được điều tới quản lý hành chính gồm Trương Quốc Hoa (nguyên Chủ nhiệm Xuyên Nam), Lưu Hưng Nguyên. Năm 1975, trong hoàn cảnh khó khăn của Tứ Xuyên, Đặng Tiểu Bình đã đặt Triệu Tử Dương làm Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ nhiệm Ủy ban Cải cách tỉnh Tứ Xuyên, nhằm đẩy mạnh phát triển khu vực.[354] Trong bốn năm làm Lãnh đạo Tứ Xuyên (1975 – 1979), ông nới lỏng các chính sách về các vấn đề nông nghiệp, thúc đẩy phát triển các hoạt động đa dạng, giảm gánh nặng cho nông dân, giúp nông dân hồi phục. Năm 1977, so với năm 1976, tổng sản lượng ngũ cốc của tỉnh Tứ Xuyên tăng 10%. Trong nửa cuối năm 1978, diện tích đất dành cho nông dân được mở rộng lên khoảng 15% tổng diện tích đất trồng trọt, nông dân sản xuất hàng hóa cho hộ gia đình. Với việc thúc đẩy hệ thống hợp đồng hộ gia đình, ông đã dẫn đầu trong thí điểm đất nước để xây dựng lại chính quyền ở Tứ Xuyên, và cung cấp kinh nghiệm trong việc hủy bỏ hệ thống xã trên toàn quốc.[355] Đặng Tiểu Bình coi đây là mô hình cho Cải cách kinh tế Trung Quốc. Một câu tương truyền giai đoạn rất nổi tiếng: "Muốn ăn cơm? Tìm Vạn Lý. Muốn thức ăn? Tìm Tử Dương!".[354] Sau đó, Triệu Tử Dương trở thành Lãnh đạo Quốc gia, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc (1987 – 1989). Tuy nhiên, bởi sự ủng hộ Sự kiện Thiên An Môn, ông bị thanh trừng năm 1989 và giam lỏng đến khi qua đời năm 2005.

Tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Tứ Xuyên bị bãi bỏ và Chính phủ Nhân dân tỉnh Tứ Xuyên được tái lập. Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Tứ Xuyên là Thủ trưởng tỉnh cho đến nay. Điều đặc biệt khác nhiều tỉnh khác đó là các Tỉnh trưởng Tứ Xuyên giai đoạn này thường giữ chức vụ đến khi nghỉ hưu, ít vị được điều chuyển, chưa có vị nào được thăng chức. Lỗ Đại Đông (19791982), Dương Tích Tông (19821985), Tưởng Dân Khoan (19851988), Trương Hạo Nhã (19881993), Tiêu Ương (19931996), Tống Bảo Thụy (19961999), Trương Trung Vĩ (19992007), Tưởng Cự Phong (20072013), Ngụy Hồng (20072016). Năm 2008, Động đất Tứ Xuyên 2008 diễn ra, gây thiệt hại vô cùng lớn, có tới 67.229 người tử vong.[356] Trong giai đoạn này, Tưởng Cự Phong tham gia giải quyết, phục hồi Tứ Xuyên. Năm 2016, Ngụy Hồng vi phạm kỷ luật nghiêm trọng khi đang là Tỉnh trưởng, phải từ chức. Người được bổ nhiệm thay đổi là Doãn Lực, Tiến sĩ Y học, một chuyên gia Y học, chuyển tới từ vị trí Thứ trưởng Bộ Y tế Trung Quốc, Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX.[63], hiện là Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Tứ Xuyên.

Vân NamSửa đổi

Giai đoạn đầuSửa đổi

 
Trần Canh (1903 – 1961), Đại tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, nguyên Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam (1950 – 1955).
 
Trần Canh bàn kế hoạch quân sự với Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1950

Vân Nam là một trong 33 đơn vị hành chính của Trung Quốc, nằm ở phía Đông Nam, tiếp biên giới Việt Nam, LàoMyanmar. Vào tháng 10 năm 1950, Ủy ban Kiểm soát Quân sự thành phố Côn Minh được Trung ương ra quyết định trù bị để tích hợp thành lập cơ quan hành chính của tỉnh Vân Nam, đó là Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam. Thủ trưởng hành chính tỉnh trong giai đoạn 1950 – 1955 giữ chức vụ gọi là Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam, và lãnh đạo đó là Trần Canh, Đại tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (một trong mười vị đại tướng Trung Quốc). Trong những năm ở Vân Nam, ông đã nhiều lần chuyển sang Việt Nam làm cố vấn, giúp đỡ Việt Nam trong cuộc Chiến tranh Đông Dương chống Pháp. Trần Canh là người được Mao Trạch Đông hết sức tin cậy, từng giữ chức vụ Phó Tổng Tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc, mất sớm năm 1961.[357]

Đầu năm 1955, Chỉnh phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam được chuyển tên thành Ủy ban Nhân dân tỉnh Vân Nam. Vào tháng 04 năm 1955, Phiên họp thứ hai của Đại hội Đại biểu Nhân dân đầu tiên của tỉnh Vân Nam đã bầu ra Ủy ban Nhân dân tỉnh Vân Nam. Giai đoạn này, Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Vân Nam có bốn vị, đó là Quách Ảnh Thu (1955 – 1958), Vu Nhất Xuyên (1958 – 1964), Lưu Minh Huy (1964 – 1965), Lưu Duy Tân (1965 – 1967).

Tháng 03 năm 1967, Trung ương thành lập Ủy ban Kiểm soát Quân sự tỉnh Vân Nam của Giải phóng quân Nhân dân kiểm soát Vân Nam. Thủ tưởng kiểm soát Vân Nam giai đoạn này là Lý Thành Phương, Trung tướng Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc.

Tháng 08 năm 1968, Ủy ban Cách mạng tỉnh Vân Nam chính thức được thành lập. Giai đoạn đầu, Đàm Phủ Nhân giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng tỉnh Vân Nam (1968 – 1970). Trong thời gian này, ở Côn Minh đã xảy ra một vụ án nghiêm trọng, và Thủ trưởng tỉnh Vân Nam, Đàm Phủ Nhân đã bị bắt tử vong. Nguyên nhân của án mạng này là bởi cuộc bạo động ở tỉnh Vân Nam về việc chống lại Đại Cách mạng Văn hóa vô sản được tổ chức. Sau đó, Vân Nam phải thay Thủ trưởng hành chính, lần lượt gồm Lưu Duy Tân (1970 – 1975), Cổ Khai Doãn (1975 – 1977) và An Bình Sinh (1977 – 1979).

Từ 1979Sửa đổi

Tháng 12 năm 1979, Ủy ban Cách mạng tỉnh Vân Nam bị bãi bỏ và Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam được thành lập trở lại, trở thành cơ quan hành chính tỉnh Vân Nam cho đến nay. Các Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam đến nay như Lưu Minh Huy (1979 – 1983), Phổ Triều Trú (1983 – 1985), Hòa Chí Cường (1985 – 1998), Lý Gia Đình (1998 – 2001), Từ Vinh Khải (2001 – 2006), Tần Quang Vinh (2006 – 2011), Lý Kỉ Hằng (2011 – 2014)[358], Trần Hào (2014 – 2016), Nguyễn Thành Phát (2016 – nay). Gần đây có Lý Kỉ HằngBí thư Khu ủy Khu tự trị Nội Mông Cổ, Trần Hào[359]Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vân Nam và đương nhiệm Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam hiện nay là Nguyễn Thành Phát. Cả ba người này đều đang là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX.[63]

 
Trụ sở Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam.

Từ năm 1950 đến nay, Vân Nam có tổng cộng 19 Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân. Tỉnh không có lãnh đạo quốc gia nào từng giữ vị trí này. Ở Vân Nam, đã xảy ra một vụ án phức tạp và nghiêm trọng năm 2001, liên quan đến tội tham nhũng, nhận hối lộ của Tỉnh trưởng Chính phủ Nhân dân tỉnh Vân Nam Lý Gia Đình. Vụ án được điều tra, xét xử nghiêm khắc và kết quả là Lý Gia Đình nhận án tử hình năm 2001. Vợ ông tự tử và con trai ông phải nhận án tù 15 năm.[360]

Năm 2018, Vân Nam là tỉnh đông thứ mười hai về số dân, đứng thứ ba mươi về kinh tế Trung Quốc với 48 triệu dân, tương đương với Hàn Quốc[60] và GDP danh nghĩa đạt 1.788 tỉ NDT (270,2 tỉ USD)[61] tương ứng với Phần Lan. Vân Nam có chỉ số GDP đầu người xếp thứ ba mươi Trung Quốc, đạt 37.160 NDT (tương ứng với 5.612 USD).

Lịch sử hành chính thành phố trực thuộc trung ươngSửa đổi

Thủ đô Bắc KinhSửa đổi

Thủ trưởng thủ đô thời đầuSửa đổi

Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (1897 – 1986), Ủy viên trưởng Nhân Đại 1978 – 1983, Lãnh đạo Quốc gia.
Nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn (1899 – 1992), Phó Tổng lý, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Những ngày trước năm 1949, tên gọi của thành phố là Bắc Bình (北平; bính âm: Běipíng; Wade-Giles: Pei-p'ing). Cơ quan hành chính thành phố lần lượt đổi tên là Phủ Thuận Thiên, trong thời Nhà Minh, Nhà Thanh, Đại ThuậnTrung Hoa Dân Quốc. Vào giai đoạn 1948 – 1949, Chính phủ Nhân dân Hoa Bắc được thành lập,[361] Chủ tịch Đổng Tất Vũ với mục tiêu kiểm soát Hoa Bắc.[362] Vào ngày 01 tháng 01 năm 1949, dưới sự chỉ huy của Bộ Tư lệnh Mặt trận Bình Tân, Ủy ban Kiểm soát Quân sự thành phố Bắc Bình của Giải phóng quân cùng với Chính phủ Nhân dân thành phố Bắc Bình được thành lập, Thị trưởng đầu tiên là Diệp Kiếm Anh, cho đến tháng 09 cùng năm. Thời gian này, Giải phóng quân đã chiếm được thành phố một cách yên bình vào ngày 31 tháng 01 năm 1949 trong chiến dịch Bình Tân. Tháng 09 năm 1949, Diệp Kiếm Anh rời Bắc Bình, tới Quảng Đông chỉ huy chiến dịch, Nhiếp Vinh Trăn giữ chức vụ Thị trưởng Bắc Bình. Vào ngày 27 tháng 09 năm 1949, phiên họp toàn thể đầu tiên của Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc đã quyết định đổi tên Bắc Bình thành Bắc Kinh, và Chính phủ Nhân dân Bắc Bình được đổi tên thành Chính phủ Nhân dân Bắc Kinh,[363] Hiến pháp Trung Quốc tạm thời cũng được ban hành vào ngày 29. Ngày 01 tháng 10 cùng năm, Mao Trạch Đông đã tuyên bố thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa từ trên đỉnh Thiên An Môn, đặt thủ đô Bắc Kinh. Thị trưởng, Phó Thị trưởng, và các Ủy viên Chính phủ Bắc Kinh đã được bầu bởi Đại hội Đại biểu Nhân dân thành phố Bắc Kinh lần đầu tiên, tổ chức từ ngày 20 đến 22 tháng 11 năm 1949, thành lập Chính phủ Bắc Kinh, Nhiếp Vinh Trăn tiếp tục giữ chức. Vào ngày 09 tháng 12, Thị trưởng, Phó Thị trưởng Bắc Kinh và các Ủy viên tuyên bố nhậm chức và Chính quyền Nhân dân thành phố Bắc Kinh chính thức được thành lập.[364]

Hai Thị trưởng đầu tiên, Diệp Kiếm AnhNhiếp Vinh Trăn đều là Nhà cách mạng, Nhà quân sự thế hệ đầu quan trọng trong lịch sử Trung Quốc. Thập đại Nguyên soái Diệp Kiếm Anh (1897 – 1986), Nguyên thủ quốc gia (1978 – 1983), Ủy viên trưởng Nhân Đại, Ủy viên Ban Thường vụ khóa X, XI, XII, Phó Chủ tịch thứ nhất Đảng, Phó Chú tịch Quân ủy, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Phân cục Hoa Đông. Ông đồng thời là Thị trưởng đầu tiên của Bắc Bình, Tỉnh trưởng Quảng Đông đầu tiên. Thập đại Nguyên soái Nhiếp Vinh Trăn (聂荣臻. 1899 – 1992),[365] Uỷ viên Bộ Chính trị khóa VIII, XI, XII, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại, Phó Chủ tịch Quân ủy, Tổng tham mưu trưởng Quân ủy. Ông là một Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Thị trưởng Bắc Kinh (1949 – 1951), bị thanh trừng trong Cách mạng Văn hóa, quay trở lại vào năm 1979, là Phó Tư lệnh chiến dịch Việt – Trung, một cuộc hòa chiến tổn thất nghiêm trọng cả hai bên. Người giữ quyền tại Bắc Kinh là Bành Chân.

Sau đó, từ ngày 17 đến 23 tháng 08 năm 1954, tại cuộc họp Nhân Đại Bắc Kinh, Chính phủ Nhân dân thành phố Bắc Kinh được đổi tên thành Ủy ban Nhân dân thành phố Bắc Kinh. Thị trưởng Ủy ban tiếp tục là Bành Chân. Bành ChânBí thư Bắc Kinh, lãnh đạo tối cao Bắc Kinh thời gian này, ông kiêm nhiệm Thị trưởng Bắc Kinh liên tục từ năm 1951 đến năm 1966. Bành Chân (彭真. 1902 – 1997)[366], Ủy viên trưởng Nhân Đại, Ủy viên Bộ Chính trị khóa VII, VIII, XI, XII, Bí thư Ban Bí thư, Bí thư Chính Pháp, Trưởng Ban Tổ chức, Phó Chủ tịch Chính Hiệp. Ông là Lãnh đạo Quốc gia. Trong thời kỳ Đại Cách mạng, ông bị thanh trừng, bắt giam nhưng quay trở lại khi Đặng Tiểu Bình lãnh đạo, kế nhiệm Diệp Kiếm Anh ở vị trí Ủy viên trưởng, công tác cho đến khi qua đời. Kế nhiệm Thị trưởng Bắc KinhNgô Đức, giai đoạn 1966 – 1967. Vào ngày 20 tháng 04 năm 1967, Ủy ban Nhân dân Bắc Kinh được giải thể, Ủy ban Cách mạng thành phố Bắc Kinh được thành lập. Chủ nhiệm Ủy ban là Tạ Phú Trị, giai đoạn 1967 – 1972 rồi tới Ngô Đức quay trở lại lãnh đạo, là Chủ nhiệm Ủy ban giai đoạn 1972 – 1978. Cả hai người đều là lãnh đạo tối cao Bắc Kinh những năm cầm quyền, là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Ngô Đức (吴德. 1913 – 1995)[367], Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, Bí thư Bắc Kinh, Bí thư Thiên Tân, Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Tạ Phú Trị (谢富治. 1909 – 1972)[368], Thượng tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị khóa VIII, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Bí thư Ban Bí thư, Bí thư Bắc Kinh, Bộ trưởng Bộ Công an. Ông là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, qua đời năm 1972 khi còn đang công tác tại Quốc vụ viện, Phó Tổng lý. Chủ nhiệm thứ ba là Lâm Hồ Gia (林乎加. 1916 – 2018).[369]

 
Thành lập Ủy ban Cách mạng Bắc Kinh năm 1967.

Trong cuộc Cách mạng Văn hóa từ năm 1966 đến 1976, phong trào Hồng vệ binh bắt đầu ở Bắc Kinh và Chính quyền thành phố, bao gồm Chính phủ Bắc Kinh trở thành nạn nhân của một trong những cuộc thanh trừng đầu tiên. Đến mùa thu năm 1966, tất cả các trường học trong thành phố đã đóng cửa và hơn một triệu Hồng vệ binh từ khắp nơi đất nước đã tập trung tại Bắc Kinh, với các cuộc tập hợp tại Quảng trường Thiên An Môn cùng Mao Trạch Đông.[370] Vào tháng 04 năm 1976, một cuộc tập hợp lớn của người dân Bắc Kinh đã bắt đầu diễn ra, nhằm chống lại Tứ nhân bangCách mạng Văn hóa tại Quảng trường Thiên An Môn, nhưng đã bị đàn áp mạnh mẽ. Sau đó, Tứ nhân bang bị bắt tại Trung Nam HảiCách mạng Văn hóa kết thúc. Năm 1978, Đặng Tiểu Bình trở thành lãnh tụ tối cao, tiến hành cải cách mở cửa Trung Quốc, nước này đi lên về kinh tế cho đến ngày nay.

Từ thời đổi mớiSửa đổi

[[Tập|thế=|nhỏ|232x232px|Trần Hy Đồng (1930 – 2013), Thị trưởng Bắc Kinh 1983 – 1993.]] Cuộc họp thứ ba của Nhân Đại Bắc Kinh lần thứ bảy, được tổ chức từ ngày 06 đến ngày 13 tháng 12 năm 1979, đã quyết định giải thể Ủy ban Cách mạng thành phố Bắc Kinh và khôi phục Chính phủ Nhân dân thành phố Bắc Kinh cho đến nay. Lâm Hồ Gia tiếp tục là Thị trưởng giai đoạn 1978 – 1981. Các Thị trưởng Bắc Kinh tiếp theo là Tiêu Nhược Ngu (焦若愚. 1915 – 2020)[371] giai đoạn 1981 – 1983, Trần Hy Đồng giai đoạn 1983 – 1993, Lý Kì Viêm (李其炎. 1938)[372] giai đoạn 1993 – 1996, Giả Khánh Lâm giai đoạn 1996 – 1999, Lưu Kỳ giai đoạn 1999 – 2003, Mạnh Học Nông (孟学农. 1949)[373] chỉ bốn tháng năm 2003, Vương Kỳ Sơn giai đoạn 2003 – 2007, Quách Kim Long giai đoạn 2007 – 2012, Vương An Thuận (王安顺. 1957)[374] giai đoạn 2012 – 2016, Thái Kỳ giai đoạn 2016 – 2017 và Trần Cát Ninh đương nhiệm. Giai đoạn 1979 – 2020, có tới sáu Thị trưởng Bắc Kinh tiếp tục thăng cấp, trở thành Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Lãnh đạo Quốc gia. Đó là Trần Hy Đồng (陈希同. 1930 – 2013)[375], Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, Bí thư Bắc Kinh, Ủy viên Quốc vụ. Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Ông làm Thị trưởng 10 năm, nhưng đã bị bắt và khai trừ năm 1995 khi đang là Bí thư Bắc Kinh vì vi phạm tội tham nhũng, khai trừ khỏi Đảng, tù 12 năm, một cán bộ cao cấp bị xử lý. Giả Khánh Lâm (贾庆林. 1940)[277], Ủy viên Ban Thường vụ (vị trí thứ tư khóa XVI, XVII), Chủ tịch Chính Hiệp (2003 – 2013), Bí thư Bắc Kinh. Ông là Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ tư. Lưu Kỳ (刘淇. 1942)[376], Ủy viên Bộ Chính trị khóa XVI, XVII, Bí thư Bắc Kinh. Ông là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, lãnh đạo Bắc Kinh những năm mà Thế vận hội khai mạc, ông là trưởng bản tổ chức Olympic 2008. Vương Kỳ Sơn (王岐山. 1948),[377] Ủy viên Ban Thường vụ (vị trí thứ sáu khóa XVIII), Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật, Phó Tổng lý Quốc vụ viện. Ông là Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ sáu 2012 – 2017. Theo lý thuyết, vào năm 2017, ông 70 tuổi, đã đến lúc nghỉ hưu, như được Tập Cận Bình giữ lại ở vị trí Phó Chủ tịch Trung Quốc đương nhiệm, hỗ trợ lãnh tụ. Quách Kim Long (郭金龙. 1947),[378] Ủy viên Bộ Chính trị XVIII, Bí thư Bắc Kinh. Ông là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Thái Kỳ (蔡奇. 1955),[379] Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIX, Bí thư Bắc Kinh. Ông là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, thuộc Quân Chiết Giang Tập Cận Bình, được thăng cấp từ Phó Chánh Văn phòng An ninh Quốc gia lên Thị trưởng Bắc Kinh, Bí thư Bắc Kinh chỉ trong hai năm 2016 – 2017, là Bí thư Bắc Kinh đương nhiệm. Ngoài ra, còn có tình huống đặc biệt đối với Thị trưởng Mạnh Học Nông. Ông chỉ công tác bốn tháng ở thủ đô, từ chức vì Sự kiện SARS, dịch bệnh nghiêm trọng ở Bắc Kinh. Ông và Vương Kỳ Sơn đều là con rể của Thường vụ Ủy viên, Phó Tổng lý thứ nhất Diêu Y Lâm. Hiện tại, Thị trưởng Trần Cát Ninh (陈吉宁. 1964) được bầu khi 53 tuổi, trẻ nhất giai đoạn 1967 – 2020, trước đó ông là Hiệu trưởng Đại học Thanh Hoa (cấp Phó Tỉnh – Phó Bộ) giai đoạn 2012 – 2015, khi 48 tuổi, Bộ trưởng Bộ Bảo vệ Môi trường (2015 – 2017).

Vào ngày 30 tháng 12 năm 2015, lễ khởi công xây dựng Khu vực hành chính thành phố Bắc Kinh diễn ra ở quận Thông Châu. Từ tháng 01 năm 2017, đã kiến thiết khu vực. Theo kế hoạch, vào cuối năm 2017, Chính phủ Nhân dân thành phố Bắc Kinh và một số ủy ban liên kết của thành phố sẽ bắt đầu đợt di dời đầu tiên.[380] Vào tháng 10 năm 2018, Ủy ban Trung ươngQuốc vụ viện đã phê chuẩn Kế hoạch cải cách thành phố Bắc Kinh.[381] Vào ngày 10 tháng 01 năm 2019, Chính quyền Nhân dân thành phố Bắc Kinh trụ sở quận Đông Thành chính thức di dời về Thông Châu.[382] Vào ngày 11 tháng 01, các cơ quan chủ lực gồm Thành ủy Bắc Kinh, Chính phủ Bắc Kinh, Nhân Đại Bắc Kinh, Chính Hiệp Bắc Kinh chính thức đặt trụ sở mới, là Khu Phó trung tâm thành thị Bắc Kinh.[383][384]

Thiên TânSửa đổi

Phân tách vị trí ban đầuSửa đổi

Tháng 11 năm 1948, Tư lệnh Quân dã chiến Đông Bắc Lâm Bưu, Chính ủy Quân dã chiến Đông Bắc La Vinh Hoàn, Tư lệnh Quân dã chiến Hoa Bắc Nhiếp Vinh Trăn đã chỉ huy Chiến dịch Bình Tân trong Nội chiến Trung Quốc nhằm giải phóng Bắc KinhThiên Tân. Trận đánh diễn ra 29 giờ tại Thiên Tân, và Giải phóng quân giải phóng thành phố vào ngày 15 tháng 01 năm 1949. Năm 1952, Cảng Thiên Tân được thành lập[385] và trở thành một cảng quan trọng ngày nay. Từ năm 1949 đến tháng 02 năm 1958, Thiên Tân là một thành phố trực thuộc Trung ương. Chính quyền thành phố đổi tên từ Chính phủ Nhân dân thành phố Thiên Tân (1949 – 1955) thành Ủy ban Nhân dân thành phố Thiên Tân năm 1955. Các Thị trưởngHoàng Kính (1949 – 1952)[386], Ngô Đức (1952 – 1955), Hoàng Hỏa Thanh (1955 – 1958). Trong đó có Ngô Đức (1913 – 1995) là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Bắc Kinh giai đoạn 1973 – 1980, phải từ chức sau khi bị hạ bậc. Hoàng Hỏa Thanh (1901 – 1999) từng giữ chức Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, chức vụ cấp Phó Quốc gia. Còn Thị trưởng đầu tiên, Hoàng Kính (1912 – 1958) là một nhà cách mạng lãnh đạo thế hệ thứ nhất, từng kết hôn với Giang Thanh. Con trai ông, Du Chính Thanh, Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ tư, Chủ tịch Chính Hiệp  (2013 – 2018).

Ngày 11 tháng 2 năm 1958, Đại nhảy vọt bắt đầu, với hệ thống cơ sở công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ tại Thiên Tân, thành phố được sáp nhập vào tỉnh Hà Bắc, Tỉnh lị Hà Bắc được đặt tại Thiên Tân. Trong những năm này, kinh tế Thiên Tân được tách lẻ ra chuyển tới các đơn vị hành chính khác, giảm mạnh. Thị trưởng Ủy ban Nhân dân thành phố Thiên Tân những năm này là Lý Canh Đào (1958 – 1963), Hồ Chiêu Hoành (1963 – 1967), chữ cấp Phó Tỉnh, Phó Bộ.

Ngày 02 tháng 01 năm 1967, tỉnh Hà Bắc đã dời tỉnh lị về Bảo Định, Thiên Tân khôi phục vị thế là một thành phố trực thuộc Trung ương, duy trì cho đến nay. Vào tháng 04 năm 1970, Quốc vụ viện mở đợt tài trợ cho việc xây dựng tàu điện ngầm ở Thiên Tân. Các Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng thành phố Thiên Tân đã quyết định tự mình gây quỹ để thành lập dự án, xây dựng hệ thống tàu điện ngầm dựa trên kiến trúc cũ. Vào tháng 07 năm 1973, năm quận bao gồm Kế Châu, Vũ Thanh, Ninh Hà, Bảo Trì, Tĩnh Hải chính thức sáp nhập vào Thiên Tân. Ngày 28 tháng 07 năm 1976, đã xảy ra trận động đất Đường Sơn có cường độ 7,8 độ richter, Thiên Tân phải hứng chịu các sóng địa chấn gây ra thiệt hại. Trận động đất đã khiến 24.345 cư dân thành phố tử vong, 21.497 người trọng thương. Trên 60% công trình kiến trúc toàn thành phố chịu sự phá hoại của động đất, gần 700.000 người mất nhà cửa. Trận động đất khiến nền công nghiệp Thiên Tân chịu tổn thất nghiêm trọng, trên 30% xí nghiệp bị phá hoại ở mức độ nghiêm trọng[387]. Trong những năm này, các Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng thành phố Thiên Tân đóng vai trò tham gia chỉ đạo giải quyết khó khăn. Ba Chủ nhiệm là Giải Học Cung (1967 – 1978), Lâm Hồ Gia (1978), Trần Vĩ Đạt (1978 – 1980) đều kiêm nhiệm vị trí Bí thư thứ nhất Thành ủy thành phố Thiên Tân, lãnh đạo Thiên Tân tối cao.

Sau 1980Sửa đổi

Vào ngày 30 tháng 06 năm 1980, Ủy ban Cách mạng thành phố Thiên Tân được giải thể, Chính phủ Nhân dân thành phố Thiên Tân tái lập cho đến ngày nay. Nhiệm vụ các các Thị trưởng tập trung vào phát triển kinh tế thành phố. Năm 1984, sau vài năm kể từ Trung Quốc mở cửa, Thiên Tân vượt qua thiên tai 1976, quay lại tốc độ phát triển, là một trong 14 thành phố duyên hải, tuy nhiên tốc độ thấp hơn 13 thành phố còn lại. Cùng năm, Khu khai phát kỹ thuật Kinh tế Thiên Tân được thành lập. Năm 1994, Thiên Tân khai mở chiến lược công nghiệp ven biển ở Cảng Thiên Tân và quận Tân Hải[388]. Ngày 22 tháng 03 năm 2006, Quốc vụ viện đã xác định vị thế của Thiên Tân là thành phố cảng quốc tế, trung tâm kinh tế phương Bắc, thành phố sinh thái[389]. Năm 2008, Đường sắt liên thành phố Bắc Kinh – Thiên Tân, cao tốc tốc độ 350 km/h được xây dựng đi vào hoạt động. Cùng năm, Thiên Tân là một phần tổ chức Thế vận hội Mùa hè 2008. Năm 2014, Thiên Tân cùng Bắc Kinh và Hà Bắc liên kết chính sách khoa học quốc gia, thành phố tập trung nghiên cứu Sản xuất cơ sở, Trung tâm vận chuyển quốc tế phương Bắc, Sáng tạo đổi mới tài chính và Cải cách mở cửa. Cùng năm, Dự án chuyển nước Nam – Bắc hoàn thành, chuyển nước qua Thiên Tân. Năm 2015, Vụ nổ tại Thiên Tân 2015 diễn ra, khiến 173 người chết[390]. Các Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố Thiên Tân từ 1979 đến 2020 là Hồ Khải Lập (1980 – 1982), Lý Thụy Hoàn (1982 – 1989)[391], Nhiếp Bích Sơ (1989 – 1993)[392], Trương Lập Xương (1993 – 1998), Lý Thịnh Lâm (1998 – 2002), Đới Tương Long (2002 – 2007)[393], Hoàng Hưng Quốc (2007 – 2016)[394], Vương Đông Phong (2016 – 2017)[395]Trương Quốc Thanh (2018 – nay).

 
Lý Thụy Hoàn (1934), Lãnh đạo Quốc gia Chủ tịch Chính Hiệp (1993 – 2003).

Trong giai đoạn này, Bí thư Thiên Tân thường là Ủy viên Bộ Chính trị, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Trong chín vị Thị trưởng, có ba vị thăng chức thành Bí thư. Có Trương Lập Xương (1939), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVI, Bí thư Thành ủy thành phố Thiên Tân, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Thiên Tân có tới hai Lãnh đạo Quốc gia từng công tác ở đây, đó là Hồ Khải LậpLý Thụy Hoàn. Hồ Khải Lập sau Sự kiện Thiên An Môn năm 1989, phải rời khỏi vị trí lãnh đạo, cùng thời điểm đó, Lý Thụy Hoàn trở thành lãnh đạo.Trong đó Hồ Khải Lập (1929), Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIII, vị trí thứ tư, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ nhiệm Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc. Vị trí Lãnh đạo Quốc gia (1987 – 1989). Lý Thụy Hoàn (1934), Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIII, XIV, XV, (vị trí thứ sáu, bốn), Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Bí thư Thành ủy thành phố Thiên Tân. Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ sáu.

Từ năm 1979 đến nay, Hoàng Hưng Quốc (1954) từng là Thị trưởng Thiên Tân lâu nhất, tới hơn chín năm, đồng thời tạm giữ Quyền Bí thư Thiên Tân giai đoạn 2014 – 2016. Bí thư Thiên Tân là lãnh đạo cấp Phó Quốc gia nhưng ông không đạt được vị trí này, và việc giữ Quyền tạm thời gần hai năm là chưa từng có ở Trung Quốc. Trong những năm là Thị trưởng, ông được công chúng đề cao, nhưng vào năm 2016, Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành điều tra và ông bị bắt. Ông đã vi phạm nghiêm trọng quy tắc, điều luật Đảng, thống nhất Đảng và đây cũng là một phần lý do khiến ông không thể trở thành lãnh đạo chính thức, bị bắt giữ[396]. Năm 2017, ông bị phán quyết 12 năm tù trong Chiến dịch đả hổ diệt ruồi với tội danh nhận hối lộ 40,03 triệu nhân dân tệ (khoảng sáu triệu đô la) hơn 20 năm trước, khi là Bí thư Thị ủy Thai Châu, những năm công tác ở Đồng bằng Trường Giang[397]. Dù là tài năng kinh tế, từng là nhân sự của Tập Cận Bình, giúp nhiều khu vực như Thai Châu, Ninh Ba, Thiên Tân phát triển nhanh, nhưng ông đã vi phạm nguyên tắc Đảng và phải chịu thanh trừng.

Thượng HảiSửa đổi

Các Thị trưởng Thượng HảiSửa đổi

 
Lãnh đạo Quốc gia Tối cao Giang Trạch DânTổng thống Hoa Kỳ George W. Bush.
 
Nguyên soái Trần Nghị (1901 – 1972), Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Ngày 27 tháng 05 năm 1949, Giải phóng quân nắm quyền kiểm soát Thượng Hải, thành phố trở thành Trực hạt thị cùng với Bắc KinhThiên Tân. Cùng tháng, Chính phủ Nhân dân thành phố Thượng Hải được thành lập. Thủ trưởng là Trần Nghị, Thị trưởng Thượng Hải đầu tiên. Trần Nghị (陈毅. 1901 – 1972)[398] quản lý Thượng Hải suốt giai đoạn 1949 – 1958, trong đó chuyển tên sang Thị trưởng Ủy ban Nhân dân thành phố Thượng Hải (1955 – 1958). Ông được phong Nguyên soái Thập Đại năm 1955, về sau là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIII, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Ngoại giao, Bí thư Thượng Hải. Ông là Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, qua đời khi đang công tác chức vụ Phó Tổng lý kiêm Bộ trưởng Ngoại giao. Trong những năm đầu, nền kinh tế Thượng Hải đã được khôi phục lại từ năm 1949 đến 1952, sản lượng nông nghiệpcông nghiệp của thành phố tăng lần lượt 51,5% và 94,2%.[399] Có 20 quận nội thành và 10 vùng ngoại ô vào thời điểm đó.[400]

 
Chu Dung Cơ (1928), Lãnh đạo Quốc gia, Tổng lý Quốc vụ viện.
 
Kha Khánh Thi (1902 – 1965), Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Giai đoạn 1958 – 1965, Thị trưởng Ủy ban Nhân dân thành phố Thượng Hải là Kha Khánh Thi, kiêm nhiệm Bí thư Thượng Hải. Kha Khánh Thi (柯庆施. 1902 – 1965)[401] là người lãnh đạo Thượng Hải trong thời kỳ Đại nhảy vọt. Trước và sau Đại nhảy vọt, ông đã quá tích cực trong các vấn đề như chính sách nông nghiệp, chính sách công nghiệp và công cộng, đóng vai trò bảo đảm lương thực người dân, giúp Thượng Hải không sụt giảm nghiêm trọng kinh tế. Khi hầu hết các vùng toàn quốc chịu nhiều thiệt hại nghiêm trọng, Thượng Hải là nơi ít tổn thất.[402] Là khu công nghiệp của Trung Quốc với hầu hết các công nhân công nghiệp lành nghề, Thượng Hải đã trở thành một trung tâm cho chủ nghĩa cánh tả cực đoan trong những năm 1950 và 1960. Thượng Hải cũng được xem là căn cứ của Giang Thanh cùng Tứ nhân bang.[403] Trong những năm này, Trương Văn Thiên phân tích và phê phán Đại nhảy vọt, và nhận đổ lỗi từ Kha Khánh Thi, người còn đánh giá cao Trương Xuân Kiều. Kha Khánh Thi là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIII, Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Năm 1965, khi đang công tác ở Thành Đô, ông qua đời đột ngột. Tào Địch Thu (曹荻秋. 1909 – 1976)[404] là người được bổ nhiệm kế vị Kha Khánh Thi. Tào Địch ThuThị trưởng Thượng Hải giai đoạn 1965 – 1967, trước đó từng là Thị trưởng Trùng Khánh, một thành phố còn thuộc Tứ Xuyên.

 
Hàn Chính (1954), Lãnh đạo Quốc gia, Phó Tổng lý thứ nhất.
 
Thượng tướng Tô Chấn Hoa (1912 – 1979), Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Năm 1966, Đại Cách mạng Văn hóa bùng nổ, Ủy ban Nhân dân thành phố Thượng Hải mất kiểm soát. Đến tháng 02 năm 1967, Ủy ban Công xã tạm thời thành phố Thượng Hải được thành lập, thủ trưởng là Trương Xuân Kiều đóng vai trò xử lý. Cùng năm, Ủy ban Nhân dân thành phố giải thể, Ủy ban Cách mạng thành phố được thành lập. Chủ nhiệm tiếp tục là Trương Xuân Kiều. Trương Xuân Kiều (张春桥. 1917 – 2005)[405] kiêm nhiệm Bí thư Thượng Hải lãnh đạo Thượng Hải giai đoạn 1967 – 1976, suốt cuộc cách mạng. Trong cuộc Đại Cách mạng Văn hóa (1966 – 1976), xã hội Thượng Hải đã bị tổn hại nặng nề, với 310.000 người bị kết án sai trái, hơn một triệu người có liên quan. Khoảng 11.500 người đã bị bức hại một cách bất công. Tuy nhiên, ngay cả trong thời kỳ hỗn loạn nhất của cuộc cách mạng, Thượng Hải vẫn duy trì sản xuất kinh tế với tốc độ tăng trưởng hàng năm tích cực.[399] Trương Xuân Kiều là Ủy viên Ban Thường vụ khóa X (1973 – 1976), Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Phó Tổ trưởng Tiểu tổ Cách mạng văn hóa, Thường vụ Quân ủy. Ông là một trong Tứ nhân bang, Lãnh đạo Quốc gia vị trí thứ tám (1973 – 1976), là một trong Tứ nhân bang, lãnh đạo của Đại Cách mạng Văn hóa vô sản. Năm 1976, ông bị thanh trừng, giam lỏng cho đến khi qua đời.

Tại Thượng Hải, kế nhiệm Trương Xuân Kiều làm Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng kiêm nhiệm Bí thư Thượng HảiTô Chấn Hoa (1976 – 1979) và Bành Xung (1979). Tô Chấn Hoa (苏振华. 1912 – 1979)[406]Thượng tướng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X, XI, Chính ủy Hải quân, Thường vụ Quân ủy. Ông là một Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Tô Chấn Hoa là người chỉ huy Hải quân, nhiều lần tổ chức các đợt thử nghiệm. Năm 1978, khi đang là Thị trưởng Thượng Hải kiêm Chính ủy Hải quân, một vụ việc xảy ra ở biển Hoa Đông khi hạm đội khu trục tai nạn. Đặng Tiểu Bình đã chỉ trích công tác của ông. Tô Chấn Hoa không hài lòng và tới thủ đô gặp Hoa Quốc Phong, Lãnh đạo tối cao đương nhiệm và nhận được lời ủng hộ, để ông cầm được quân đội, trở thành vấn đề mang tính đối đầu với Đặng Tiểu Bình. Sau đó Đặng Tiểu Bình cùng các đồng sự là Nguyên soái Diệp Kiếm Anh, Đại tướng Tư lệnh Hải quân Tiêu Kính Quang, Đại tướng Tham mưu trưởng Giải phóng quân La Thụy Khanh, dưới lãnh đạo của Đặng Tiểu Bình đã ngăn cản tiến trình của Tô Chấn Hoa. Trong cùng năm, Hoa Quốc Phong hạ vị, Đặng Tiểu Bình trở thành Lãnh đạo Tối cao. Vào tháng 01 năm 1979, Tô Chấn Hoa đột ngột qua đời vì vỡ màng tim. Kế nhiệm ông ở Thượng Hải là Bành Xung. Bành Xung (彭冲. 1915 – 2010)[407] là Ủy viên Bộ Chính trị khóa XI, Bí thư Ban Bí thư Trung ương Đảng, Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Cuối năm 1979, Ủy ban Cách mạng thành phố Thượng Hải được giải thể, Chính phủ Nhân dân thành phố Thượng Hải tái lập cho đến ngày nay. Bành Xung tiếp tục được bổ nhiệm làm Thị trưởng Thượng Hải (1919 – 1980) và Uông Đạo Hàm (汪道涵. 1915 – 2005)[408] giai đoạn 1981 – 1985. Các Thị trưởng từ đó cho đến 2020 là Giang Trạch Dân (1985 – 1988), Chu Dung Cơ (1988 – 1991), Hoàng Cúc (1991 – 1995), Từ Khuông Địch (1995 – 2001), Trần Lương Vũ (2002 – 2003), Hàn Chính (2003 – 2012), Dương Hùng (2012 – 2017) và Ứng Dũng (2017 – nay). Kể từ năm 1949, Thượng Hải đã đóng góp tương đối nặng nề về ngân sách nhà nước cho Trung ương. Năm 1983, đóng góp ngân sách trung ương của thành phố lớn hơn đầu tư nhận được trong 33 năm (1950 – 1983) cộng lại làm cho phúc lợi của người dân Thượng Hải khó khăn, hạ sút tốc độ phát triển cơ sở hạ tầng và vốn đầu tư của Thượng Hải.[409] Tầm quan trọng của thành phố đối với tài chính kinh tế trung ương cũng khiến Thượng Hải khó khăn trong tự do hóa kinh tế bắt đầu vào năm 1978. Cuối năm 1990, Đặng Tiểu Bình đã cho phép Thượng Hải tiến hành cải cách kinh tế, hướng tới toàn cầu hóa. Nguồn thuế thu tại Thượng Hải vẫn đóng góp cho Trung ương giảm từ 70% xuống chỉ còn 20%. Các Thị trưởng Thượng Hải phụ trách kinh tế thành phố. Một trong những địa điểm quan trọng đối với sự phát triển được thành lập đó là quận Phố Đông, dẫn đến sự ra đời của khu vực Lục Gia Chủy.[410]

Lãnh đạo kinh tếSửa đổi

 
Tứ nhân bang Trương Xuân Kiều (1917 – 2005), Lãnh đạo Quốc gia.

Năm Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia thực tế là Nguyên soái Trần Nghị, Phó Tổng lý Kha Khánh Thi, Thượng tướng Tô Chấn Hoa, Bí thư Ban Bí thư Bành XungTrần Lương Vũ (陈良宇. 1946)[411], Ủy viên Bộ Chính trị khóa XVI, Bí thư Thượng Hải. Trần Lương Vũ đã công tác cả đời ở Thượng Hải, góp sức phát triển Thượng Hải nhiều mặt đáng kể. Có thể kể tới ông xây dựng mạng lưới giao thông đường sắt trên cao, đường ngầm và đường bộ phát triển, tăng số lượng xe cộ Thượng Hải 3,5 lần, tốc độ trung bình trong thành phố cũng tăng từ 10 km/h lên đến 25 km/h, nối kết Phố ĐôngPhố Tây bằng bốn cây cầu bắc ngang sông Hoàng Phố, tăng diện tích nhà ở của người dân trung bình từ 6,6 mét vuông/người năm 1990 lên tới 12,1 mét vuông/người năm 2001. Ông đã đưa ra chính sách hợp tác với Đài Loan trong phát triển, trao đổi kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật, chủ trì nhiều hội nghị lớn bàn về xây dựng các công trình quan trọng như hệ thống cảng biển, xây dựng ngành công nghệ thông tin, bảo hiểm xã hội, chính sách thu hút nhân tài hải ngoại, giành quyền cho Expo 2010 Thượng Hải Trung Quốc, tiến hành kế hoạch hiện đại hóa cuộc sống người dân Thượng Hải, thuyết phục công ty lớn như General Motors, Honeywell International chuyển trụ sở từ Singapore sang Thượng Hải. Tuy nhiên, ông cũng là người giữ vai trò chủ chốt trong việc gây ra tình trạng tham nhũng nghiêm trọng ở Trung Quốc thập niên đầu thế kỷ XXI. Năm 2006, ông bị bắt, phán quyết 18 năm .[412]

Trùng KhánhSửa đổi

Thời kỳ phân táchSửa đổi

Trong những năm 19491997, Trùng Khánh là một địa cấp thị trực thuộc Tứ Xuyên, cùng với Tứ Xuyên tạo thành đơn vị cấp tỉnh đông dân số nhất Trung Quốc. Vào ngày 14 tháng 03 năm 1997, Phiên họp thứ năm của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc lần thứ VIII đã xem xét và phê chuẩn đề xuất sáp nhập các khu vực địa cấp thị Trùng Khánh, Vạn Châu, Phù Lăng, và Kiềm Giang của tỉnh Tứ Xuyên để thành lập thành phố Trùng Khánh. Năm 1997, khi chia tách, tổng dân số của Trùng Khánh và Tứ Xuyên là 114.720.000 người.[413] Vào tháng sáu cùng năm, Chính phủ Nhân dân thành phố Trùng Khánh được tổ chức, nâng cấp là cơ quan cấp tỉnh[414]. Mục tiêu nhằm thúc đẩy sự phát triển các khu vực phía tây, tương đối nghèo hơn Trung Quốc. Là một khu vực công nghiệp quan trọng ở phía tây Trung Quốc, Trùng Khánh nhanh chóng đô thị hóa[415].

Từ đó cho đến năm 2020, Trùng Khánh có sáu Thị trưởng Chính phủ Nhân dân thành phố Trùng Khánh, gồm: Bồ Hải Thanh (1997 – 1999) từ Thị trưởng địa cấp thị Trùng Khánh trước năm 1997 nâng lên thành Thị trưởng trực hạt thị, Bao Tự Định (1999 – 2002), Vương Hồng Cử (2002 – 2009), Hoàng Kì Phàm (2009 – 2016), Trương Quốc Thanh (2016 – 2017), Đường Lương Trí từ năm 2017. Hiện tại, Đường Lương TríThị trưởng Trùng Khánh, Trương Quốc ThanhThị trưởng Thiên Tân, thời gian công tác ở Trùng Khánh là một năm tạm thời của ông.

Với những đặc thù về thời gian, vị trí địa lý, tình hình chung, các Thị trưởng Trùng Khánh giai đoạn 1997 – 2020 này có sự khác biệt. Chưa có Thị trưởng được điều chuyển, bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo cao cấp. Tháng 01 năm 2008, Vương Hồng Cử được tái bầu cử là Thị trưởng nhưng đã từ chức vào ngày 30 tháng 11 năm 2009, khi chưa đến tuổi nghỉ hưu. Lúc này, Bạc Hy Lai là lãnh đạo Trùng Khánh, kiểm soát chính trị toàn bộ, ông cũng là người Trùng Khánh duy nhất từng giữ vị trí cho đến nay. Kế nhiệm Vương Hồng CửHoàng Kì Phàm. Hoàng Kì Phàm được điều chuyển đến làm việc tại Trùng Khánh từ năm 2001, vài năm sau khi thành phố được nâng lên thành trực hạt thị tương đương với Thượng Hải. Ông là Phó Thị trưởng từ năm 2001 đến 2009 và là Ủy ban Thường vụ Tỉnh ủy Trùng Khánh. Điều đặc biệt là ông đã công tác phụ tá suốt bốn vị lãnh đạo tối cao Trùng Khánh, tức Bí thư Thành ủy thành phố Trùng Khánh Hạ Quốc Cường, Uông Dương, Bạc Hy LaiTrương Đức Giang, mỗi người có một tư tưởng chính trị và chỉ đạo độc đáo, và tất cả đều tiếp tục trở thành cán bộ cao cấp, Lãnh đạo Quốc gia và Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Hoàng Kì Phàm được coi là đã tồn tại trong những lần thay đổi đó, mệnh danh (四朝元老, Tứ Triều Nguyên Lão, nghĩa là người phục vụ bốn hoàng đế)[416]. Ông được coi là đồng minh chính trị quan trọng của Bạc Hy Lai, người đột ngột không được lãnh đạo quốc gia ủng hộ sau sự kiện Vương Lập Quân vào tháng 02 năm 2012, bị cách chức và tháng 03 năm 2013. Hoàng Kì Phàm đã gây bất ngờ khi tiếp tục giữ chức vị, phụ tá Trương Đức Giang, lãnh đạo Trùng Khánh tiếp theo

Thủ trưởng vùng tự trịSửa đổi

Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh HạSửa đổi

 
Dương Tĩnh Nhân (1908 – 2001), Phó Tổng lý Quốc vụ viện, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Chủ tịch Hồi Ninh Hạ (1960 – 1968).

Ninh Hạ là một tỉnh thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khi nước độc lập năm 1949. Từ năm 1954 đến 1958, Ninh Hạ được sáp nhập vào Cam Túc. Vào năm 1958, Ninh Hạ được tách ra và chuyển đổi thành Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ. Quyết định này được đưa ra do người Hồi là một trong những dân tộc thiểu số lớn nhất ở Trung Hoa, và tập trung nhiều ở Ninh Hạ, tuy nhiên người Hồi vẫn chỉ chiếm thiểu số trong dân số Ninh Hạ. Theo số liệu năm 2010, người Hồi chiếm 38% dân số Ninh Hạ, và người Hán chiếm 62%. Hán chiếm Năm 2018, Ninh Hạ là đơn vị hành chính đông thứ ba mươi về số dân, đứng thứ hai mươi chín về kinh tế Trung Quốc với 6,8 triệu dân, tương đương với El Salvador và GDP danh nghĩa đạt 232,7 tỉ NDT (36,9 tỉ USD) tương ứng với Latvia[417]. Ninh Hạ có chỉ số GDP đầu người đứng thứ mười lăm đạt 54.094 NDT (tương ứng 8.175 USD).

Thời kỳ đầuSửa đổi

Giai đoạn 1950 – 1958, Ninh Hạ là một trong những nơi xảy ra Nổi dậy Hồi giáo Quốc dân Đảng, thuộc về Trung Quốc Quốc dân Đảng với lực lượng Hồi giáo Trung Quốc chống lại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong thời gian này, tại Ninh Hạ, các cổ vật của Trung Quốc có niên đại từ triều đại nhà Đườngnhà Tống, một số trong đó thuộc sở hữu của Hoàng đế Tống Chân Tông đã được khai quật và sau đó đến tay Mã Hồng Quỳ, Chủ tịch Chính phủ tỉnh Ninh Hạ (1931 – 1948), từ chối công khai những phát hiện này. Tất cả được mang đến Đài Loan năm 1971 cho Tưởng Giới Thạch, đặt tại Bảo tàng Cố cung Quốc gia.[418]

Từ năm 1949 đến 1954, Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Ninh Hạ gồm Phan Tự Lực (1949 – 1951), Hình Triệu Đường (1951 – 1954), cả hai đều là người Hán. Phan Tự Lực là Lãnh đạo Ninh Hạ đầu tiên, sau khi Cách mạng Văn hóa nổ ra, ông đã bị chỉ trích và thanh trừng. Ông qua đời vào ngày 22 tháng 05 năm 1972, tại Trường Cán bộ Ngũ Thất, huyện Hoắc Châu, Sơn Tây.

 
Ảnh ngày cưới Phan Tự Lực và vợ Dao Thục Hiền năm 1946, trước khi trở thành Chủ tịch Ninh Hạ, chụp bởi Nhiếp ảnh gia Chiến tranh Sa Phi.

Từ năm 1958 đến năm 1968, cơ quan quản lý hành chính Ninh Hạ có tên là Ủy ban Nhân dân Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ, với hai Tỉnh trưởngLưu Các Bình (1958 – 1960) và Dương Tĩnh Nhân (1960 – 1968). Giai đoạn này là thời điểm đầu tiên mà Khu tự trị thành lập, khi cả hai Tỉnh trưởng đều là người Hồi. Lưu Các Bình (1904 – 1992) sau đó là Ủy viên Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương Trung Quốc, tương đương với Ủy viên Quốc vụ ngày nay. Còn Dương Tĩnh Nhân (1908 – 2001) là cán bộ cao cấp nhất từng có từ 1949 đến 2020 từng có của Ninh Hạ, sau đó dần kiên qua các chức vụ, Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Dân tộc Nhà nước Trung Quốc, Trưởng Ban Công tác Mặt trận Thống nhất Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Phó Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch thứ nhất Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Ông cũng đặc biệt khi là người Hồi duy nhất từng là Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ.

Giai đoạn 1968 – 1979, Ủy ban Cách mạng Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ là cơ quan quản lý hành chính, với Chủ nhiệm Khang Kiện Dân Thiếu tướng (1968 – 1977) và Hoắc Sĩ Liêm (1977 – 1979), là người Hán. Theo đặc điểm của thời kỳ Đại Cách mạng Văn hóa vô sản, các ông đều kiêm nhiệm vị trí Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ. Năm 1969, biên giới Ninh Hạ được mở rộng về phía Bắc chiếm một phần của khu tự trị Nội Mông, nhưng đã dời về như cũ vào năm 1979.

Từ 1979Sửa đổi

Từ năm 1979, Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ được thành lập. Giai đoạn 1979 – 2020, Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ có bảy Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ, hai người phụ nữ, bao gồm Mã Tín (1980 – 1983), Hắc Bá Lý (1983 – 1986), Bạch Lập Thầm (1986 – 1997), Mã Khải Trí (1997 – 2007)[419], Vương Chính Vĩ (2007 – 2013)[420], Lưu Tuệ (2013 – 2016)[421], Hàm Huy (2016 – nay).

STT Tên Tiểu Nhi Kinh Giới Năm sinh Dân tộc Nhiệm kỳ   Ủy viên Trung ương
Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ (1958 – 1968)
1 Lưu Cách Bình ﻟِﯿَﻮْ  قْ پٍ Nam 1904 – 1992 Người Hồi 04/1958 – 09/1960 Ủy viên Ủy ban Chính phủ Nhân dân Trung ương Trung Quốc khóa I
2 Dương Tĩnh Nhân ﻳْﺎ دٍ ژٌ Nam 1908 – 2001 Người Hồi 10/1960 – 04/1968 Phó Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khóa V
Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ (1979 – nay)
1 Mã Tín ﻣَﺎ  سٍ Nam 1915 – 1999 Người Hồi 01/1980 – 02/1983 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XII
2 Hắc Bá Lý حْ  بُ لِ Nam 1918 – 2005 Người Hồi 02/1983 – 07/1986 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XII
3 Bạch Lập Thầm ﺑَﻰْ  لِ چٌ Nam 1941 Người Hồi 07/1986 – 09/1997 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIV, XV, XVI, XVII
4 Mã Khải Trí ﻣَﺎ  چِ جِ Nam 1943 Người Hồi 09/1997 – 05/2007 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XV, XVI
5 Vương Chính Vĩ وْا  ﺟْﻊ وِ Nam 1957 Người Hồi 05/2007 – 06/2013 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, XVIII
6 Lưu Tuệ ﻟِﯿَﻮْ  ﺧُﻮِ Nữ 1959 Người Hồi 03/2013 – 06/2016 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII
7 Hàm Huy ﺷِﯿًﺎ ﺧُﻮِ Nữ 1958 Người Hồi 07/2016 - Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX

Trong giai đoạn này, các Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ quê quán ở nhiều tỉnh thành khác nhau nhưng đều là người Hồi, là lãnh đạo vị trí thứ hai của Ninh Hạ, lãnh đạo vị trí thứ nhất của Ninh Hạ là Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Hồi Ninh Hạ, được bổ nhiệm bởi Trung ương, là những người Hán. Có hai Chủ tịch nữ là Lưu TuệHàm Huy. Các Chủ tịch thường quản lý hành chính tỉnh, sau đó chuyển về Trung ương, công tác ở Ủy ban Dân tộc của Đại hội đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc, Ủy ban Các vấn đề Dân tộc Nhà nước Trung Quốc. Lưu Tuệ sinh năm 1959, chưa đến tuổi nghỉ hưu, thông thường được giao trọng trách công tác, bổ nhiệm vị trí cao nhưng hiện tại đang là Phó Bí thư Ban Cán sự Đảng Ủy ban Các vấn đề Dân tộc Nhà nước Trung Quốc, là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII nhưng không trúng cử Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX. Năm 2019, Mã Khải TríHàm Huy là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, với Vương Chính VĩPhó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc.

Khu tự trị Nội Mông CổSửa đổi

Thời tự trịSửa đổi

 
"Mông Cổ Vương", Thượng tướng Ô Lan Phu (1906 – 1988), Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1983 – 1988) Lãnh đạo Nội Mông 1947 – 1967. Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia.

Trong những năm đầu sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Đảng Cộng sản có lực lượng dân quân, đối phó với hoạt động độc lập của các thân vương người Mông Cổ thuộc dòng dõi Thành Cát Tư Hãn với danh nghĩa chống chế độ phong kiến. Sau đó, Đảng Cộng sản đã giành được quyền kiểm soát Mãn Châu cũng như Nội Mông với sự hỗ trợ của Liên Xô. Tháng 04 năm 1947, tại Miếu Vương Da (王爺廟) nay là Ulan Hot đã diễn ra hội nghị Đại biểu Nhân dân Nội Mông Cổ, thông qua việc ra đời Chính phủ tự trị Nội Mông Cổ, bầu Ô Lan Phu (乌兰夫) làm Chủ tịch.

Ban đầu, Khu tự trị Nội Mông Cổ chỉ bao gồm khu vực Hulunbuir, sau đó nó được mở rộng về phía tây khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc kiểm soát hoàn toàn Trung Quốc đại lục. Năm 1949, Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã quyết định sáp nhập Đông và Tây Mông Cổ, chuyển thủ phủ từ Trương Gia Khẩu tới Hohhot sau khi giành được Tuy Viễn. Vào ngày 02 tháng 12, Chính phủ Tự trị Nội Mông Cổ được đổi tên thành Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Nội Mông. Nội Mông cuối cùng bao gồm lãnh thổ 5/6 minh từ thời nhà Thanh, phần phía bắc của khu vực cũ Sát Cáp Nhĩ. Năm 1954, tỉnh Ninh Hạ cũ (宁复) bị bãi bỏ, các kỳ AlxaEjin quy thuộc khu tự trị Nội Mông. Năm 1955, tỉnh Nhiệt Hà bị bãi bỏ, các đơn vị chia về Khu tự trị Nội Mông Cổ. Khu tự trị Nội Mông Cổ có diện tích là 1.158.300 km2, xếp hạng ba trong danh sách các đơn vị hành chính Trung Quốc. Cùng năm, Ủy ban Nhân dân Khu tự trị Nội Mông Cổ được thành lập, Ô Lan Phu tiếp tục giữ cương vị.

Trong lịch sử giai đoạn đầu của Nội Mông, Ô Lan Phu là lãnh đạo quan trọng. Năm 1923, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Xã hội Chủ nghĩa Trung Quốc, năm 1925 gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc, nhập ngũ Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, chiến đấu nhiều năm rồi trở thành Chủ tịch Chính phủ tự trị Nội Mông Cổ (1947 – 1949), Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Nội Mông Cổ (1949 – 1955) rồi Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Khu tự trị Nội Mông Cổ (1955 – 1967). Ông kiêm nhiệm Bí thư Khu ủy Khu tự trị Nội Mông Cổ, lãnh đạo cao nhất của Nội Mông suốt hơn 20 năm, là người Mông Cổ duy nhất từ giữ chức Bí thư Nội Mông cho đến nay (2020). Từ năm 1958 đến 1960, trong Đại nhảy vọt, nền kinh tế của Nội Mông vẫn tăng trưởng. Bị ảnh hưởng bởi Đại nhảy vọt, nền kinh tế của Nội Mông giảm mạnh từ năm 1960 đến 1962. Nội Mông đã áp dụng chính sách thận trọng hơn đối với các khu vực du mục, và các khu vực ấy đã không bị thiệt hại nhiều. Sau khi điều chỉnh chính sách, nền kinh tế của Nội Mông dần được cải thiện.

Trong Đại Cách mạng Văn hóa, Ô Lan Phu bị thanh lọc, làn sóng đàn áp đã được khởi xướng để chống lại người Mông Cổ trong khu tự trị. Ông bị chỉ trích bị công kích với cáo buộc thành lập vương quốc Nội Mông Cổ độc lập.[422] Từ năm 1966 đến 1972, ông bị quản chế tại Bắc Kinh, và thu hồi các chức vụ, ông đổi tên thành Vương Tự Lực. Năm 1972, theo quan điểm của Mao Trạch Đông, 13 cán bộ cao cấp như Đàm Chấn Lâm, Lý Tỉnh Toàn và ông được giải phóng.

Hai tướng quân Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng Nội Mông 1967 – 1978

Ô Lan Phu, (Chữ Mông Cổ: ᠤᠯᠠᠭᠠᠨᠬᠦᠦ, tiếng Trung: 乌兰夫, Cyrillic Mongolian: Улаанхүү). Ông với tên gọi riêng là Mông Cổ Vương, Thượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, từng giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1983 – 1988), Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc dự khuyết khóa VIII, chính thức khóa XI, XII, Phó Tổng lý Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Phó Chủ tịch thứ nhất Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Dân tộc Nhà nước Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, cao nhất người Mông Cổ (Trung Quốc) từng có cho đến khi qua đười năm 1988.[423]

Năm 1967, Ủy ban Cách mạng Khu tự trị Nội Mông Cổ được thành lập. Các Chủ nhiệm đều là tướng quân, gồm Trung tướng Đằng Hải Thanh (1967 – 1971), Thượng tướng Vưu Thái Trung (1971 – 1979), Thiếu tướng Khổng Phi (1978 – 1979). Đằng Hải Thanh (滕海清) (1907 – 1997) và Vưu Thái Trung (尤太忠) (1918 – 1998) là người Hán kiêm nhiệm Bí thư Nội Mông. Thiếu tướng Khổng Phi là người Mông Cổ, quản lý hành chính Nội Mông ít tháng tước khi cơ cấu thay đổi.

Từ 1979Sửa đổi

Nội Mông Cổ đã phát triển đáng kể kể từ khi Đặng Tiểu Bình khởi xướng cải cách kinh tế vào năm 1978. Từ năm 1979, Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Nội Mông Cổ được tái lập. Các Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Nội Mông CổKhổng Phi (1979 – 1983), Bố Hách (1983 – 1993), Uliji (1993 – 1998), Vân Bố Long (1998 – 2000), Uyunqimg (2000 – 2003), Dương Tinh (2003 – 2008), Bagatur (2008 – 2016)[424]Bố Tiểu Lâm (2016 – nay). Trong đó UyunqimgBố Tiểu Lâmphụ nữ, còn Vân Bố Long gặp tai nạn và qua đời năm 2000 ở Chính Lam.

STT Tên Chữ Quê quán Sinh Dân tộc Nhiệm kỳ   Ủy viên Trung ương
Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Nội Mông Cổ (1979 – nay)
1 Khổng Phi ᠺᠣᠩ ᠹᠡᠢ Horqin Tả Dực Trung, Nội Mông 1911

1993

Người Mông Cổ 1979 – 1983 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XI
2 Bố Hách ᠪ ᠥᠭᠡ Tumed Tả, Nội Mông 1926

2017

Người Mông Cổ 1983 – 1993 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XII, XIII.
3 Uliji ᠥᠯᠵᠡᠢ Horqin Hữu Dực Trung, Nội Mông 1933

2001

Người Mông Cổ 1993 – 01/1998 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIV
4 Vân Bố Long ᠶᠦᠩᠪᠤᠯᠤᠨ Tumed Hữu, Nội Mông 1937

2000

Người Mông Cổ 01/1998 – 06/2000 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XV
5 Uyunqimg ᠣᠶᠤᠨᠴᠢᠮᠡᠭ Bắc Phiếu, Liêu Ninh 1942 Người Mông Cổ 08/2000 – 04/2003 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVI, XVII
6 Dương Tinh ᠶᠠᠩᠵᠢᠩᠢ Jung Gar, Nội Mông 1953 Người Mông Cổ 04/2003 – 04/2008 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVII, XVIII
7 Bagatur ᠪᠠᠭᠠᠲᠤᠷ Khang Bình, Liêu Ninh 1955 Người Mông Cổ 04/2008 – 03/2016 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, XVIII
8 Bố Tiểu Lâm ᠪᠤ ᠰᠢᠶᠣᠯᠢᠨ Tumed Tả, Nội Mông 1958 Người Mông Cổ 03/2016 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX
 
Dương Tinh (1953), Bí thư Ban Bí thư, Ủy viên Quốc vụ, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, Chủ tịch Nội Mông (2003 – 2008)
 
Bản đồ Khu tự trị Nội Mông Cổ.Địa cấp thị: 2. Bayan Nur, 3. Ô Hải, 4. Ordos, 5. Bao Đầu, 6. Hohhot (thủ phủ), 7. Ulanqab, 9. Xích Phong, 10. Thông Liêu, 12. HulunbuirMinh: 1. Alxa, 8. Xilin Gol, 11. Hưng An.

Như đường lối chung của cả nước, các Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Nội Mông Cổ đều là người Mông Cổ, lãnh đạo vị trí thứ hai của Nội Mông, vị trí cao nhất là Bí thư Khu ủy Khu tự trị Nội Mông Cổ, đều là người Hán. Giai đoạn này, Dương Tinh (1953)[425] là người có chức vụ cao nhất về sau, là Bí thư Ban Bí thư Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Thư ký Quốc vụ viện Trung Quốc, Ủy viên Quốc vụ, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Tuy nhiên, ông đã vi phạm nghiêm trọng vấn đề về tham nhũng, bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc, cách tất cả chức vụ Đảng và Chính quyền năm 2018. Hiện tại, BagaturPhó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Dân tộc Nhà nước Trung Quốc, Bố Tiểu LâmChủ tịch Nội Mông, cả hai đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX. Cho đến nay ở Nội Mông, Ô Lan Phu vẫn là lãnh đạo được ghi nhớ về tinh thần. Các Chủ tịch Nội Mông như Thiếu tướng Khổng Phi (1911 – 1993) là em rể, Bố Hách (1926 – 2017) là con trai trưởng, Vân Bố Long (1937 – 2000) là cháu trai[426]Bố Tiểu Lâm (1958) là con gái Bố Hách, cháu nội của ông.

Năm 2018, Nội Mông là đơn vị hành chính đông thứ hai mươi ba về số dân, đứng thứ hai mươi một về kinh tế Trung Quốc với 25 triệu dân, tương đương với Úc[60] và GDP danh nghĩa đạt 1.729 tỉ NDT (261,3 tỉ USD) tương ứng với Phần Lan[417]. Nội Mông có chỉ số GDP đầu người đứng thứ chín, đạt 68.303 NDT (tương ứng 10.322 USD).

Khu tự trị dân tộc Choang Quảng TâySửa đổi

Thời kỳ đầuSửa đổi

 
Trương Vân Dật (1892 – 1974), Đại tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Chủ tịch Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Tây (1949 – 1954).

Vào ngày 31 tháng 10 năm 1949, Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc đã phát động Chiến dịch Quảng Tây, với tư lệnh là Nguyên soái Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Lâm Bưu. Lần lượt các nơi được giành lại cho Cộng hòa Nhân Dân Trung Hoa, giành thành phố Quế Lâm, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây vào ngày 22 tháng 11, giành lại, Nam Ninh ngày 04 tháng 12 và giành lại Nam Quan (友谊关, Hữu Nghị Quan Trung QuốcViệt Nam), kết thúc chiến dịch. Vào tháng 02 năm 1950, Chính phủ Nhân dân tỉnh Quảng Tây được thành lập tại Nam Ninh, với Trương Vân Dật (1892 – 1974) là Chủ tịch đầu tiên. Ông lãnh đạo Quảng Tây giai đoạn 1949 – 1954. Vào năm 1955, ông được thụ phong hàm Đại tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (Thập Đại tướng), điều chuyển vị trí công tác rời Quảng Tây.

Người kế nhiệm Đại tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Trương Vân DậtThượng tướng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc Vi Quốc Thanh, Thủ trưởng hành chính Quảng Tây giai đoạn 1954 – 1975. Vào ngày 05 tháng 03 năm 1958, tỉnh Quảng Tây được đổi thành Khu tự trị Quảng Tây theo đề nghị của Thủ tướng Chu Ân Lai, bởi đây là nơi sống của người Tráng dù chỉ là thiểu số đối với người Hán. Quảng Tây trở thành một Khu tự trị (Trung Quốc). Năm 1965, Khâm Châu một lần nữa được chuyển từ tỉnh Quảng Đông đến Quảng Tây. Vào ngày 12 tháng 10 năm 1965, được phê chuẩn bởi Quốc vụ viện Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Khu tự trị Quảng Tây được đổi tên thành Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Vi Quốc Thanh trong 21 năm thủ trưởng Quảng Tây lần lượt giữ chức vụ Tỉnh trưởng Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Tây (1954 – 1958), Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (1958 – 1968), Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (1968 – 1975).[294] Về sau, ông được bầu làm Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Trong 20 năm lãnh đạo Quảng Tây, ông đã tiến hành các cuộc điều tra và nghiên cứu chuyên sâu theo đường lối, chỉ thị và chính sách của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, kết hợp với các điều kiện thực tế của Quảng Tây, đẩy nhanh việc xây dựng Quảng Tây. Ông chỉ đạo sản xuất công nghiệp và nông nghiệp tại Quảng Tây, đạt được tiến bộ lớn.

Từ 1979Sửa đổi

Vào tháng 12 năm 1979, Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây đã được tổ chức lại. Từ đó đến nay, các Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng TâyDiễm Ứng Cơ, Vi Thuần Thúc, Thành Khắc Kiệt, Lý Triệu Chước[427], Lục Binh[428], Mã Biểu[429]Trần Vũ.

STT Tên Quê quán Năm sinh Dân tộc Nhiệm kỳ   Ủy viên Trung ương
Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây (1979 – nay)
1 Diễm Ứng Cơ Đông Lan, Quảng Tây. 1915 – 1992 Người Tráng 12/1979 – 04/1983 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XII
2 Vi Thuần Thúc Tượng Châu, Quảng Tây 1922 – 2016 Người Tráng 04/1983 – 01/1990 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIII
3 Thành Khắc Kiệt Nam Ninh, Quảng Tây 1933 – 2000 Người Tráng 01/1990 – 01/1998 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIV, XV
4 Lý Triệu Chước Bình Quả, Quảng Tây 1944 – Người Tráng 01/1998 – 04/2003 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XV, XVI, XVII
5 Lục Binh Vũ Minh, Quảng Tây 1944 - Người Tráng 04/2003 – 12/2007 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVII
6 Mã Biểu Điền Dương, Quảng Tây 1954 - Người Tráng 12/2007 – 04/2013 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, XVIII
7 Trần Vũ Sùng Tả, Quảng Tây 1954 - Người Tráng 04/2013 - Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX
 
Trần Vũ (1954 -) bên trái, đương nhiệm Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây trong cuộc đàm phán đầu tư cùng Dr. Mahesh Sharma, Bộ trưởng Nhà nước Bộ Môi trường, Rừng và Biến đổi khí hậu Ấn Độ.

Hiện tại, Mã BiểuPhó chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (chín vị trí đầu của Chính Hiệp) và Trần VũChủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây đương nhiệm, cả hai đều là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX.[63]

Từ năm 1979 đến nay, các Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây đều có quê quán Quảng Tây và là người Tráng, không trở thành Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, thường được đưa về Trung ương làm Ủy viên Thường vụ Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trước khi nghỉ hưu. Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây là lãnh đạo vị trí thư hai của Khu tự trị, đứng sau Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, Bí thư là người Hán.

Trong số các Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây, có Thành Khắc Kiệt, vi phạm pháp luật tham nhũng nghiêm trọng. Trong khoảng thời gian từ năm 1994 đến năm 1997, Thành Khắc Kiệt nhận hối lộ tổng cộng 41,09 triệu nhân dân tệ (thực tế nhiều hơn nhiều lần) từ các đợt khoản vay của Ngân hàng Xây dựng Trung QuốcNgân hàng Công Thương Trung Quốc, công ty quốc nội, doanh nhân Hồng Kông trong các đợt hối lộ để đấu thầu, kinh doanh bất động sản tại Quảng Tây. Năm 2000, Thành Khắc Kiệt bị cách chức, khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Trung Quốc, kết án tử hình, chết bởi tiêm.[430]

Năm 2018, Quảng Tây đông thứ mười một về số dân, đứng thứ mười tám về kinh tế Trung Quốc với 48,8 triệu dân, tương đương với Colombia[60], Tây Ban Nha và GDP đạt 2.040 tỉ NDT (303,7 tỉ USD) tương ứng với Pakistan.[417]

Tân CươngSửa đổi

Thủ trưởng Duy Ngô NhĩSửa đổi

 
Burhan Shahidi (1894 – 1989), Chủ tịch Tân Cương đầu tiên (1949 – 1955).

Những năm 1912 – 1949, Tân Cương nhiều xung đột, lần lượt thuộc Trung Hoa Dân Quốc (1912 – 1933), Đệ nhất Cộng hòa Đông Turkestan (1933 – 1934), lãnh chúa Thịnh Thế Tài (1934 – 1944) và Đệ nhị Cộng hòa Turkestan (1944 – 1949). Khi Giải phóng quân tiến đến năm 1949, Tân Cương là một tỉnh thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khi nước độc lập. Đây là nơi sinh sống của nhiều dân tộc khác nhau, các dân tộc chính có thể kể tới là Duy Ngô Nhĩ, Hán, Kazakh, Hồi, KyrgyzMông Cổ. Đây là đơn vị hành chính cấp tỉnh duy nhất ở Trung Quốc có số lượng dân tộc thiểu số đông nhất trong khu vực, đông hơn cả người Hán khi người Duy Ngô Nhĩ chiếm tới 47%, người Hán chiếm 39%. Người Duy Ngô Nhĩ từng thành lập Đế quốc Hồi Cốt (Uyghur) ở đây. Cơ quan hành chính tỉnh Tân Cương là Chính phủ Nhân dân tỉnh Tân Cương, với thủ trưởng là Chủ tịch Burhan Shahidi (1949 – 1955). Burhan Shahidi (Tiếng Trung: 包尔汉·沙希迪, Tiếng Duy Ngô Nhĩ: بۇرھان شەھىدى‎,Từ Hán – Việt: Bao Nhĩ Hán Sa Hi Địch) (1894 – 1989) một người Duy Ngô Nhĩ sinh ra ở khu vực thuộc Đế quốc Nga. Ông là người yêu Tân Cương, hoạt động ở Tân Cương suốt nửa thế kỷ 20, từng là Chủ tịch Chính phủ Tân Cương (1948 – 1949) thuộc Turkestan rồi gia nhập Trung Quốc năm 1949, kết nạp Đảng cùng năm. Sau đó ông là Phó Chủ tịch Chính Hiệp, Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại.[431] Tại Tân Cương giai đoạn đầu, Ospan Batyr, một Người Kazakh đã lãnh đạo nhân dân Kazakhstan chiến đấu chống Cộng sản. Ông bị bắt tại Kumul (Đông Tân Cương), và bị xử tử tại Ürümqi vào ngày 29 tháng 04 năm 1951. Sau khi chết, những người của ông đã chạy trốn qua dãy núi Himalaya. Sau đó, họ được đưa đến Thổ Nhĩ Kỳ, nơi họ sống.

 
Saifuddin Azizi (1915 – 2003), Lãnh đao cấp Phó Quốc gia, Bí thư Tân Cương, Chủ tịch Tân Cương 1955 – 1967, 1972 – 1978.

Vào năm 1955, Tân Cương được chuyển đổi thành Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương. Chính phủ Nhân dân tỉnh Tân Cương được chuyển đổi thành Ủy ban Nhân dân Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương. Thủ trưởng là Chủ tịch Saifuddin Azizi. Saifuddin Azizi giữ vị trí Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Khu tự trị suốt giai đoạn 1955 – 1967. Saifuddin Azizi (Tiếng Trung: 赛福鼎·艾则孜, Tiếng Duy Ngô Nhĩ: سەيپىدىن ئەزىزى, Từ Hán – Việt: Tái Phúc Đỉnh Nghệ Tắc Tư) sinh (1915 – 2003) là lãnh đạo cao cấp nhất từng giữ vị trí Chủ tịch Tân Cương, cũng lâu nhất hơn 18 năm. Ông là Trung tướng Giải phóng quân, Ủy viên Bộ Chính trị khóa X, XI, Bí thư Tân Cương, Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại, Ủy viên Ủy ban Chính phủ (nay là Quốc vụ viện), Phó Chủ tịch Chính Hiệp. Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia. Ông là người Duy Ngô Nhĩ, cũng là người Duy Ngô Nhĩ duy nhất từng giữ chức Bí thư Tân Cương, lãnh đạo Tân Cương tối cao.[432]

 
Burhan Shahidi (phải), Saifuddin Azizi (trái) và Tập Trọng Huân (giữa). Ảnh tháng 07 năm 1952, sau khi đánh bại Ospan Batyr.

Năm 1968, như các đơn vị hành chính khác, Ủy ban Nhân dân giải thể, Ủy ban Cách mạng Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương được thành lập. Chủ nhiệm Ủy ban đầu tiên là Long Thư Kim (1910 – 2003), Thiếu tướng Giải phóng quân, người Hán, lãnh đạo giai đoạn 1968 – 1972. Sau đó, Saifuddin Azizi quay trở lại làm lãnh đạo giai đoạn 1972 – 1978. Rồi Uông Phong (1910 – 1998) kế nhiệm trong thời gian ngắn 1978 – 1979. Trong thời gian này, các Chủ nhiệm Ủy ban Cách mạng Tân Cương đều kiêm nhiệm Bí thư Tân Cương.

Năm 1979, Ủy ban Cách mạng Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương được giải thể, Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương được thành lập, thủ trưởng là Chủ tịch. Trong giai đoạn 1979 – 2020, Tân Cương có sáu Chủ tịchIsmail Amat (1979 – 1985), Tömür Dawamat (1985 – 1993), Ablet Abdureshit (1993 – 2003)[433], Ismail Tiliwaldi (2003 – 2007)[434], Nur Bekri (2008 – 2014)[435]Shohrat Zakir (2014 – nay). Tất cả đều là người Duy Ngô Nhĩ. Trong thời gian này, quan hệ Trung QuốcLiên Xô (trước năm 1991), Trung QuốcNga (sau năm 1991) có nhiều biến động. Chia rẽ Trung – Xô, Chiến tranh Xô – Afghanistan đều ảnh hướng tới Tân Cương. Sự thay đổi quan hệ của Tổng thống Boris Yeltsin, Tổng thống Putin có liên quan tới người Duy Ngô Nhĩ. Các Chủ tịch Tân Cương có nhiệm vụ hoạt động theo chỉ đạo Trung ương, chỉ đạo của Bí thư Tân Cương về tham gia đối phó biến động Khu tự trị.

Từ 1979Sửa đổi

Giai đoạn 1979 – 2020, Tân Cương có Ismail Amat (Tiếng Trung: 司马义·艾买提, Tiếng Duy Ngô Nhĩ: ئىسمائىل ئەھمەد‎, Từ Hán – Việt: Tư Mã Nghĩa Nghệ Mãi Thì) (1935 – 2018) là lãnh đạo thăng cấp cao nhất, từng là Phó Ủy viên trưởng Nhân Đại, Ủy viên Quốc vụ, Phó Chủ tịch Chính Hiệp, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề Dân tộc Nhà nước, chức vụ cấp Phó Quốc gia.[436] Các Chủ tịch Ismail Amat, Tömür Dawamat, Ablet Abdureshit, Ismail Tiliwaldi đều được điều chuyển lên Trung ương sau khi hoàn thành công tác, đến thời gian nghỉ hưu với chức vụ Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc.

STT Tên Tiếng Duy Ngô Nhĩ Quê quán Năm sinh Dân tộc Nhiệm kỳ   Ủy viên Trung ương
Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Tây Tạng (1979 – nay)
1 Ismail Amat ئىسمائىل ئەھمەد Hòa Điền, Tân Cương 1935 – 2018 Người Duy Ngô Nhĩ 1979 – 1985 Ủy ban Trung ương khóa XI, XII XIII, XIV, Ủy viên Quốc vụ
2 Tömür Dawamat تۆمۈر داۋامەت Toksun, Tân Cương 1927 – 2018 Người Duy Ngô Nhĩ 1985 – 1993 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XII, XIII, XIV
3 Ablet Abdureshit ئابلەت ئابدۇرىشىت Y Ninh, Tân Cương 1942 Người Duy Ngô Nhĩ 1993 – 01/2003 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XV, XVI, XVII
4 Ismail Tiliwaldi ئىسمائىل تىلىۋالدى Sơ Phụ, Tân Cương 1944 Người Duy Ngô Nhĩ 01/2003 – 12/2007 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVII
5 Nur Bekri نۇر بەكرى‎ Bác Lạc Tân Cương 1961 Người Duy Ngô Nhĩ 01/2008 – 12/2014 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII
6 Shohrat Zakir شۆھرەت زاكىر Y Ninh, Tân Cương 1953 Người Duy Ngô Nhĩ 12/2014 - Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX

Tháng 07 năm 2009, Tân Cương diễn ra Bạo động tại Ürümqi. Vụ bạo động bao gồm 1.000 người[437][438][439] tham gia và sau đó đã tăng lên tới khoảng 3.000 người[440]. Ít nhất đã có 184 người chết, trong đó có 137 là người Hán và 46 là người Duy Ngô Nhĩ và một người Hồi. Bạo động diễn ra hàng loạt ở Địa khu Aksu, Châu tự trị Ili, Địa khu Kashgar. Lãnh đạo tối cao Hồ Cẩm Đào đã rời hội nghị G8 tại Ý, trở về Tân Cương chỉ đạo giải quyết[441], Tòa án Nhân dân Tối cao phán quyết tử hình chín bị cáo (tám Người Duy Ngô Nhĩ), một người Hán. Trong thời gian này, Chủ tịchNur Bekri (1961). Sau Bạo động tại Ürümqi, tháng 7 năm 2009, Nur Bekri đã phát biểu trên truyền hình, trong đó ông phân tích tình hình dẫn đến bạo loạn và sau đó lên án người mà ông coi là kẻ cầm đầu các cuộc tấn công. Ngày 21 tháng 09 năm 2018, Ủy ban Giám sát phụ tá Ủy ban Kiểm Kỷ tiến hành điều tra vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật nhà nước đối với Nur Bekri. Trước đó, ngày 18 tháng 09 năm 2018, ông tham gia đoàn đại biểu của Trung Quốc đến Nga bàn về đầu tư và bị bắt ngay sau khi đặt chân về đến sân bay Bắc Kinh.[442] Phiên xét xử ngày 02 tháng 12 năm 2019 tại Thẩm Dương, xác định Nur Bekri phạm tội nhận hối lộ 79,1 triệu tệ (hơn 10 triệu USD), tịch thu tài sản cá nhân, tước quyền chính trị và phán quyết tù chung thân[443]. Ông đã chủ động thú nhận sai lầm, không kháng cáo. Về Nur Bekri, ông trở thành Chủ tịch Tân Cương năm 2008, khi mới 47 tuổi, thuộc về đối tượng cán bộ chiến lược. Tuy nhiên trong những năm công tác, nhất là tại Bạo động Ürümqi, ông đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ Trung ương, do đó khi là Ủy viên Trung ương khóa XVIII mà không phải là Ủy viên khóa XIX, dù vẫn ở hàm Chính Tỉnh – Chính Bộ nhưng hạ cấp về vị trí Phó Chủ nhiệm Ủy ban Cải Phát, Cục trưởng Cục Năng lượng rồi bị xử lý năm 2018 – 2019.[444]

Năm 2015, khi Nur Bekri được điều chuyển, Trung ương đặt Shohrat Zakir làm Chủ tịch khi ông 62 tuổi đang là Chủ nhiệm Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương, theo tình huống thông thường sẽ điều lên trung ương chuẩn bị nghỉ hưu. Shohrat ZakirỦy viên Trung ương khóa XIX, đương nhiệm Chủ tịch Tân Cương, 67 tuổi.

Năm 2018, Tân Cương là đơn vị hành chính đông thứ hai mươi tư về số dân, đứng thứ hai mươi sáu về kinh tế Trung Quốc với 24 triệu dân, tương đương với Cameroon và GDP danh nghĩa đạt 1.220 tỉ NDT (184,3 tỉ USD) tương ứng với Kazakhstan. Tân Cương có chỉ số GDP đầu người đứng thứ mười chín, đạt 49.275 NDT (tương ứng 7.475 USD).

Khu tự trị Tây TạngSửa đổi

Tây Tạng tự trị

 
Tenzin GyatsoChoekyi Gyaltsen đến Bắc Kinh thương thuyết hòa bình Tây Tạng năm 1954. Từ trái qua Choekyi Gyaltsen, Mao Trạch ĐôngTenzin Gyatso.

Từ 1912 đến 1950, khu vực Khu tự trị Tây Tạng hiện nay (bao gồm Ü-Tsang và miền tây Kham) được Đạt Lai Lạt Ma lãnh đạo, với Chính phủ Tây Tạng. Năm 1950, Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào khu vực Qamdo của Tây Tạng, nhận ít kháng cự.[445] Năm 1951, dưới sức ép của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Kashag (Chính phủ Tây Tạng) đã ký Hiệp nghị giữa Chính phủ Nhân dân Trung ương và Chính phủ Tây Tạng về Biện pháp giải phóng hòa bình Tây Tạng, xác nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Tây Tạng. Hiệp ước gồm 17 điều, được phê chuẩn tại Lhasa ít tháng sau đó. Thỏa thuận có một số điều trọng yếu như:

Điều 1: "Người dân Tây Tạng sẽ trở lại với gia đình của Tổ quốc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa."

Điều 3: "Người Tây Tạng có quyền tự trị dưới sự lãnh đạo thống nhất của Chính phủ Trung ương Trung Quốc."

Điều 15: "Thành lập Ủy ban Quân sự và Ủy ban Hành chính khu vực ở Tây Tạng."

Theo bản thỏa thuận, mục tiêu của Trung Quốc là đưa Tây Tạng trở thành một đơn vị hành chính. Năm 1955, Ủy ban trù bị Khu tự trị Tây Tạng được thành lập, để xúc tiến thành lập một hệ thống về hành chính theo đường lối cộng sản dưới mô hình Xô viết. Ủy ban tồn tại trong giai đoạn 1955 – 1965 với ba Chủ nhiệm là Tenzin Gyatso[446] Chủ nhiệm trên danh nghĩa giai đoạn 1956 – 1964, Choekyi Gyaltsen[447] Quyền Chủ nhiệm giai đoạn 1959 – 1964 và Ngapoi Ngawang Jigme (1964 – 1965). Trong đó đều là người Tạng.

Tenzin Gyatso (chữ Tạng: བསྟན་འཛིན་རྒྱ་མཚོ་) (1935) là Đạt-lai Lạt-ma thứ 14. Đạt-lai Lạt-ma được người Tạng xem là hiện thân của Quán Thế Âm, là danh hiệu của nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo Tây Tạng thuộc trường phái Cách-lỗ. Ông là lãnh đạo tinh thần Tây Tạng thập niên 1950, được đề nghị làm Chủ nhiệm Ủy ban trù bị, Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân. Năm 1959, ông cùng 80.000 người dân Tây Tạng vượt qua dãy Hymalaya đến tị nạn tại, Drahamsala miền Bắc Ấn Độ, phản đối Hiệp định, ban hành Hiến pháp dân chủ, dựa trên Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyềnHiến chương Liên Hợp Quốc. Từ năm 1959 đến nay, ông đi khắp nơi trên thế giới, liên tục cố gắng kêu gọi tách và độc lập Tây Tạng.[3] Ông được Ủy ban Nobel Na Uy trao tặng Giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1989. Ông nói:[4]

 
Tenzin Gyatso (1935), Đạt-lai Lạt-ma thứ 14, Lãnh đạo tinh thần người Tạng.

Trong thời kì Đại nhảy vọt 1958 – 1962, đã có khoảng 200.000 đến một triệu người Tây Tạng chết và khoảng sáu nghìn chùa chiền bị phá hủy tại vùng đất này.[448] Năm 1959, Nổi dậy Tây Tạng 1959 nổ ra, uớc tính có khoảng 89.000 người chết trong cuộc nổi dậy.[449] Trong thời gian đó, Tổng lý Chu Ân Lai đã ban hành sắc lệnh tuyên bố giải thể Kashag và tăng cường hoạt động của Ủy ban trù bị. Choekyi Gyaltsen (1938 – 1989) được bổ nhiệm làm Quyền Chủ nhiệm Ủy ban trù bị, kiêm Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân, Tenzin Gyatso là Chủ nhiệm danh nghĩa.

 
Trung tướng Ngapoi Ngawang Jigme (1910 – 2009), Lãnh đạo hành chính Tây Tạng nhiều thời kỳ.

Choekyi Gyaltsen (chữ Tạng: བློ་བཟང་འཕྲིན་ལས་ལྷུན་གྲུབ་ཆོས་ཀྱི་རྒྱལ་མཚན་) là Ban-thiền Lạt-ma thứ 10. Ban-thiền Lạt-ma được người Tạng xem là hiện thân của A-di-đà, lãnh đạo tỉnh thần thứ hai xếp sau Đạt-lai Lạt-ma. Những năm đầu là Chủ nhiệm, ông tuân thủ Trung ương Trung Quốc. Đến năm 1964, tại Lễ hội cầu nguyện Monlam, ông bất ngờ kêu gọi quyền độc lập và tách rời Tây Tạng, ủng hộ và ca ngợi Tenzin Gyatso. Sau đó, ông bị đưa về Bắc Kinh, cách chức và giam lỏng cho đến khi qua đời năm 1989. Kế nhiệm Choekyi GyaltsenNgapoi Ngawang Jigme. Ngapoi Ngawang Jigme (chữ Tạng: ང་ཕོད་ངག་དབང་འཇིགས་མེད) (1910 – 2009)[450], Trung tướng Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc, là hậu duệ hoàng tộc Tây Tạng[451]. Ông từng là Phó Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Phó Chủ tịch Ủy ban Toàn quốc Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, Lãnh đạo cấp Phó Quốc gia, cao nhất từng có của người Tạng.

Năm 1965, Khu tự trị Tây Tạng chính thức được thành lập và Ủy ban Nhân dân Khu tự trị Tây Tạng là cơ quan hành chính. Ngapoi Ngawang Jigme tiếp tục công tác, được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm, giai đoạn 1965 – 1968. Năm 1968, Ủy ban Nhân dân giải thể, Ủy ban Cách mạng được thành lập. Từ 1968 đến 1979, Tây Tạng có hai Chủ nhiệm, lãnh đạo hành chính kiêm Bí thư Khu ủyThiếu tướng Tằng Ung Nhã (曾雍雅) (1968 – 1970) và Thiếu tướng Nhâm Vinh (任荣) (1970 – 1979) cả hai đều là người Hán.

Từ 1979Sửa đổi

Năm 1979, Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Tây Tạng được thành lập. Phương hướng của Tây Tạng được xác định rõ ràng. Chính phủ Nhân dân được lãnh đạo bởi Chủ tịch, người Tạng, phụ trách quản lý hành chính, phát triển kinh tế – xã hội khu vực, vị trí thứ hai. Lãnh đạo cao nhất khu là Bí thư Khu ủy, chỉ đạo đường lối, phương hướng chung của Tây Tạng, thường là người Hán. Tây Tạng giai đoạn 1979 – 2020 có 10 Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Tây Tạng, là Sanggyai Yexe (1979 – 1981), Ngapoi Ngawang Jigme quay trở về công tác (1981 – 1983), Doje Cedain (1983 – 1985), Doje Cering (1985 – 1990), Gyaincain Norbu (1990 – 1998), Legqog (1998 – 2003)[452], Qiangba Puncog (2003 – 2010)[453],Padma Choling (2010 – 2013)[454], Losang Jamcan (2013 – 2017)[455], Che Dalha (2017 – nay).

STT Tên Chữ Tạng Quê quán Năm sinh Dân tộc Nhiệm kỳ   Ủy viên Trung ương
Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Tây Tạng (1979 – nay)
1 Sanggyai Yexe སངས་རྒྱས་ཡེ་ཤེས Barkam, Tứ Xuyên 1917 – 2008 Người Tạng 08/1979 – 04/1981 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa IX, X
2 Ngapoi Ngawang Jigme ང་ཕོད་ངག་དབང་འཇིགས་མེད་ Lhasa, Tây Tạng 1910 – 2009 Người Tạng 04/1981 – 02/1983 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nhiều giai đoạn.
3 Doje Cedain རྡོ་རྗེ་ཚེ་བརྟན་ Tây Ninh, Thanh Hải 1926 – 2013 Người Tạng 02/1983 – 1985 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIII
4 Doje Cering རྡོ་རྗེ་ཚེ་རིང་ Hạ Hà, Cam Túc 1939 Người Tạng 1985 – 1990 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIII, XIV, XV, XVI
5 Gyaincain Norbu རྒྱལ་མཚན་ནོར་བུ་ Ba Đường, Tứ Xuyên 1932 Người Tạng 1990 – 05/1998 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVI
6 Legqog ལེགས་མཆོག Giang Tư, Tây Tạng 1944 Người Tạng 05/1998 – 04/2003 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVI, XVII
7 Qiangba Puncog བྱང་པ་ཕུན་ཚོགས་ Xương Đô, Tây Tạng 1947 Người Tạng 04/2003 – 01/2010 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVII
8 Padma Choling པདྨ་འཕྲིན་ལས་ Qamdo, Tây Tạng 1952 Người Tạng 01/2010 – 01/2013 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XVIII
9 Losang Jamcan བློ་བཟང་རྒྱལ་མཚན Zhag'yab, Tây Tạng 1957 Người Tạng 01/2013 – 01/2017 Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX, XVIII
10 Che Dalha ཆེ་དགྲ་ལྷ Shangri-La, Vân Nam 1958 Người Tạng 01/2017 - Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX

Năm 2020, Che DalhaLosang Jamcan là Ủy viên Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XIX[63], thứ tự là Chủ tịch Tây Tạng và Chủ nhiệm Nhân Đại Tây Tạng. Ở Khu tự trị Tây Tạng, có điểm khác về lãnh đạo. Chức vụ Chủ tịch Nhân Đại không được kiêm bởi Bí thư Khu ủy, mà bởi một người Tạng khác, thường là Chủ tịch giữ sau khi rời khỏi chức vụ Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Tây Tạng. Các Chủ tịch Chính phủ Nhân dân Khu tự trị Tây Tạng còn có thêm nhiệm vụ giải quyết các cuộc nổi dậy ở Tây Tạng. Có thể kể đến Bạo động năm 2008 tại Tây Tạng, bắt đầu bằng việc các nhà sư kêu gọi thả nhà sư đang bị giam giữ tháng 10 năm 2007, dịp kỷ niệm Tenzin Gyatso nhận Huy chương Vàng của Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 27 tháng 9 năm 2007[456], khiến tình hình Tây Tạng thiếu ổn định.

Năm 2018, Tây Tạng là đơn vị hành chính đông thứ ba mươi hai về số dân, xếp hạng cuối về kinh tế Trung Quốc với ba triệu dân, tương đương với Bosna và Hercegovina[60] và GDP danh nghĩa đạt 147,9 tỉ nhân dân tệ (22,3 tỉ USD) tương ứng với Trinidad và Tobago[417]. Tây Tạng có chỉ số GDP đầu người đứng thứ hai mươi sáu, đạt 43.397 NDT (tương ứng 6.558 USD), vị trí thấp trong các đơn vị hành chính.

Lãnh đạo đặc khu hành chínhSửa đổi

Hồng KôngSửa đổi

Đặc khu trưởngSửa đổi

Hồng Kông trở thành thuộc địa của Đế quốc Anh vào cuối Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất vào năm 1842. Trong thế kỷ XIX, XX, khu vực trải qua nhiều sự việc trong lịch sử thế giới. Chiến tranh thế giới thứ hai với Đế quốc Nhật Bản xâm lược sau trận Hồng Kông. Sau khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, xuất hiện người Việt tị nạn Hồng Kông, chính quyền Hồng Kông đã trải qua 25 năm xử lý vấn đề hồi hương người tị nạn. Năm 1984, Trung QuốcAnh hai nước đã ký Tuyên bố chung Trung – Anh, đồng ý chuyển chủ quyền Hồng Kông cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997, sau 100 năm Anh đã thuê Tân Giới. Chủ quyền lãnh thổ được chuyển sang Trung Quốc vào năm 1997. Kể từ năm đó, Hồng Kôngđặc khu hành chính, một đơn vị hành chính cấp tỉnh của Trung Quốc. Đối với Hồng Kông, khu vực được giữ quyền tự chủ trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, lập pháp, dân sự, ngoại trừ ngoại giao và quốc phòng, cho đến năm 2046, hoàn toàn trực thuộc Trung Quốc. Chính quyền Hồng Kông bao gồm Chính phủ Đặc khu hành chính Hồng Kông, phụ trách quản lý hành chính và Hội đồng lập pháp Hồng Kông, phụ trách lập pháp. Thủ trưởng hành chính Hồng Kông, chức vụ cao nhất thuộc về Đặc khu trưởng Đặc khu hành chính Hồng Kông.

Đặc khu trưởng Hồng Kôngngười đứng đầu chính phủ Hồng Kông, đại biểu tối cao của Đặc khu hành chính Hương Cảng, nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Chức vụ này thay thế chức Thống đốc Hồng Kông, tức phó vương Vương quốc Anh vào thời Anh thuộc.[457] Chức Trưởng quan Hành chính được quy định trong Luật Cơ bản Hồng Kông và được chính thức thành lập ngày 01 tháng 07 năm 1997. Theo Điều 44 của Luật Cơ bản, Trưởng quan Hành chính phải là công dân Trung Quốc theo quy định của Pháp lệnh Hộ chiếu Đặc khu hành chính Hồng Kông.[458][459] Điều kiện trở thành Trưởng quan đó là:

Điều 44: Cá nhân phải ít nhất 40 tuổi, thường trú tại Hồng Kông, là công dân Trung Quốc, có quyền công dân ở tại Hồng Kông và thường trú tại Hồng Kông trong một thời gian liên tục không dưới 20 năm. Điều 47: Trưởng quan Hành chính phải là một người chính trực, tận tụy với nhiệm vụ của mình.[459]

Trưởng quan Hành chính có các nhiệm vụ bao gồm đề cử các công chức thuộc Chính phủ Hồng Kông để Quốc vụ viện dưới sự chỉ đạo của Tổng lý bổ nhiệm, quản lý các vấn đề hành chính, bổ nhiệm các thẩm phán và những công chức khác, phê chuẩn các văn bản luật được Hội đồng Lập pháp Hồng Kông thông qua, và ban tặng huân chương cho người có công. Luật Cơ bản cho phép Trưởng quan Hành chính nhiều quyền lực nhưng bắt buộc rằng, trước khi có những quyết sách quan trọng, cần phải đề xuất dự luật đó cho Hội đồng Lập pháp, trình các văn bản dưới luật, và giải tán Hội đồng Lập pháp, nhưng chỉ được thi hành sau khi tham vấn Hội đồng Hành chính, tổ chức với các thành viên viên do chính Đặc khu trưởng bổ nhiệm.[460] Sau khi nghỉ hưu, cựu Trưởng quan Hành chính có quyền tham gia Văn phòng cựu Trưởng quan Hành chính, hiện tại ở số 28, đường Kennedy.[461] Văn phòng cung cấp hỗ trợ hành chính cho các cựu Trưởng quan, thực hiện giao tiếp hoặc bất kỳ hoạt động nào khác liên quan đến vai trò chính thức trước đây của Trưởng quan. Các hoạt động bao gồm giao tiếp các phái đoàn đến, tham gia truyền thông trong và ngoài nước, phát biểu.[462] Văn phòng quản lý bảo vệ an ninh cá nhân, di chuyển, chăm sóc y tế. Trưởng quan Hành chính giữ danh hiệu Người tôn kính (The Honourable), và đứng thứ ba trong thứ tự ưu tiên của Hồng Kông, sau Trưởng quan đương nhiệm và Chủ tịch Hội đồng Lập pháp đương nhiệm.[463]

Trưởng quan Hành chính đứng đầu trong danh sách thứ hạng Công chức Hồng Kông, làm việc tại Phủ Lễ tân Hồng Kông, khu Trung Hoàn, đảo Hồng Kông. Lương Trưởng quan Hồng Kông ở một trong những mức cao nhất trên thế giới đối với một nhà lãnh đạo chính trị, hiện chỉ đứng sau Thủ tướng Singapore, đạt trị giá 273.000 USD mỗi năm cộng với các đặc quyền vào năm 1992.[464] Năm 2005, lương của Trưởng quan Đổng Kiến Hoa là ba triệu đô la Hồng Kông (378.500 USD). Từ năm 2009 đến cuối năm 2014, mức lương đạt 4,22 triệu đô la Hồng Kông. Vào tháng 01 năm 2015, Trưởng quan Lương Chấn Anh đã đảo ngược việc đóng băng thanh toán vào năm 2012, tăng lương lên 4,61 triệu đô la Hồng Kông (591.000 USD).[465] Lương Trưởng quan cao hơn khoảng ba mươi chín lần so với mức lương hàng năm hiện tại của Chủ tịch Trung Quốc.[466] Tại Hồng Kông, Trưởng quan được bầu bởi một ủy ban gồm 1.200 người chức không bầu cử toàn khu, bốn năm một lần. Ủy ban này được lựa chọn bởi Quốc vụ viện. Trưởng quan được Quốc vụ viện sau cuộc bầu cử.

Thuộc Trung Hoa từ 1997Sửa đổi

Năm 1997, Trưởng quan Hồng Kông đầu tiên là Đổng Kiến Hoa (tên tiếng Anh: Tung Chee-hwa, Hán phồn thể: 董建華. 1937)[467], không đảng phái, trúng cử nhiệm kỳ một và nhiệm kỳ hai, quản lý giai đoạn 1997 – 2005. Ông nhận Huân chương Đại tử kinh (Dương tử kinh), là Ủy viên Hội đồng Hành chính (1992 – 1996) rồi trở thành Phó Chủ tịch Chính Hiệp từ năm 2005 cho đến nay. Những năm đầu, kinh tế Hồng Kông đã chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, dịch cúm gia cầm do H5N1 gây ra cũng xuất hiện. Đổng Kiến Hoa đã khai trương Sân bay Quốc tế Hồng Kông năm 1998, sau sáu năm xây dựng. Năm 2003, nửa triệu người tham gia vào cuộc tuần hành biểu thị phản đối chính quyền của Đổng Kiến Hoa và đề xuất thi hành Điều 23 Luật Cơ bản, các vấn đề về sự vi phạm quyền công dân và sự tự do. Đề xuất này sau đó bị Chính phủ Hồng Kông hủy bỏ. Năm 2005, Đổng Kiến Hoa đệ đơn từ chức Trưởng quan. Tăng Âm Quyền, Ty trưởng Hành chính, đã được cử làm Trưởng quan, công tác hết nhiệm kì của Đổng Kiến Hoa. Tăng Âm Quyền (tên tiếng Anh: Donald Tsang Yam-kuen, Hán phồn thể: 曾蔭權. 1937)[468], không đảng phái, tạm quyền nhiệm kỳ hai, trúng cử nhiệm kỳ ba giữ vị trí giai đoạn 2005 – 2012. Ông nhận Huân chương Đại tử kinhHuân chương Đế quốc Anh (cấp KBE).[469][470] Ông đã trúng cử tỷ lệ 649/772 phiếu, 84.1%, trong những năm 2005 – 2012 không có biểu tình nghiêm trọng.

 
Biểu tình Hồng Kông 2019 – 2020. Tuyên bố phía tổ chức: Hai triệu người, phía cảnh sát: 338.000 người.

Trưởng quan Hồng Kông đương nhiệm là Lâm Trịnh Nguyệt Nga, nhậm chức từ ngày 01 tháng 07 năm 2017 sau khi thắng cử ngày 26 tháng 03 năm 2017 với 777/1,163 phiếu, tỷ lệ 66.8% và đã được Tổng lý Quốc vụ viện Lý Khắc Cường bổ nhiệm. Lâm Trịnh Nguyệt Nga (tên tiếng Anh: Carrie Lam Cheng Yuet-ngor, Hán phồn thể: 林鄭月娥. 1957)[471], không đảng phái, lãnh đạo trận doanh kiến chế, nhận Huân chương Đại tử kinhKim tử kinh, từng giữ chức vụ Ty trưởng Ty Phát triển và Ty trưởng Ty Hành chính trước khi trở thành Trưởng quan, và là người phụ nữ đầu tiên trở thành Trưởng quan Hồng Kông, được mệnh danh là chiến sỹ kiên cường.[472] Từ năm 1997 đến 2020, lãnh đạo Hồng Kông có bốn người, đều là người không đảng phái, thuộc về trận doanh kiến chế, có hai vị là Đổng Kiến HoaLương Chấn Anh tiến về trung ương giữ chức vụ Phó Chủ tịch Chính Hiệp như là chức vụ lúc nghỉ hưu.[473] Chính phủ Hồng Kông bao gồm các cơ quan, tức các Ty đa lĩnh vực, chủ yếu chú trọng thuộc về ba Ty là Ty Hành chính, Ty Tài chínhTy Công lý, với thủ trưởng là Ty trưởng, cấp bậc Chính Sảnh – Chính Cục.[474] Thời điểm hiện tại, tình hình Hồng Kông liên tục mâu thuẫn phức tạp. Vào tháng 06 năm 2019, các cuộc biểu tình lớn nổ ra để phản đối sửa đổi dự luật được đề xuất cho phép dẫn độ những người chạy trốn, sang Trung Quốc đại lục. Các cuộc biểu tình đã tiếp tục diễn ra vào tháng 09 thu hút gần 2 triệu người dân Hồng Kông.[475] Nhìn chung, Hồng Kông đang trong thời kỳ rối loạn nhất định về xã hội, Trưởng quan Hồng Kông đại diện khu vực, Bí thư Ủy ban Trung ương Công tác đặc khu và Chủ nhiệm Văn phòng Liên lạc Chính phủ Nhân dân trung ương đại diện Trung ương, đóng vai trò xử lý, đối phó mâu thuẫn.

Lâm Trịnh Nguyêt NgaLương Chấn AnhTăng Âm QuyềnĐống Kiến Hoa

Ma CaoSửa đổi

Trưởng quan Ma CaoSửa đổi

Ma Cao có diện tích 115,3 km², nằm ở phía Nam Đồng bằng Châu Giang, là đặc khu hành chính Trung Quốc, một trong 33 đơn vị hành chính cấp tỉnh.[476] Khu vực được đứng đầu và đại diện bởi Trưởng quan Ma Cao, được phép duy trì hệ thống riêng của