Mở trình đơn chính

USS America (CVA/CV-66) là một siêu hàng không mẫu hạm lớp Kitty Hawk được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong thập niên 1960. Nhập biên chế năm 1965, nó trải qua phần lớn quãng đời hoạt động phục vụ tại Đại Tây DươngĐịa Trung Hải, nhưng cũng từng được biệt phái ba lượt sang khu vực Thái Bình Dương trong giai đoạn Chiến tranh Việt Nam. Nó cũng tham gia các Chiến dịch Lá chắn Sa mạcBão táp Sa mạc tại vùng vịnh Ba Tư đầu Thập niên 1990 trước khi xuất biên chế năm 1996.

USS America (CV-66)
USS America (CV-66) underway in the Indian Ocean on 24 April 1983.jpg
USS America trên đường đi trong Ấn Độ Dương, 24 tháng 4 năm 1983
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: America
Đặt tên theo: Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ
Đặt hàng: 25 tháng 11 năm 1960
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding
Đặt lườn: 9 tháng 1 năm 1961
Hạ thủy: 1 tháng 2 năm 1964
Đỡ đầu bởi: bà Catherine McDonald
Nhập biên chế: 23 tháng 1 năm 1965
Xuất biên chế: 9 tháng 8 năm 1996
Xếp lớp lại: CV-66
Xóa đăng bạ: 9 tháng 8 năm 1996
Cảng nhà: Norfolk, Virginia
Khẩu hiệu: Don't Tread On Me
Biệt danh: The Big "A"
Số phận: Đánh chìm sau khi làm mục tiêu tác xạ, 14 tháng 5 năm 2005
Huy hiệu: USS America (CV-66) insignia 1963.png
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Kitty Hawk
Trọng tải choán nước: 61.174 tấn Anh (62.156 t) (tiêu chuẩn)
83.573 tấn Anh (84.914 t) (đầy tải)
Độ dài: 990 ft (300 m) (mực nước)
1.048 ft (319 m) (chung)
Sườn ngang: 129 ft (39 m) (mực nước)
248 ft (76 m) (tối đa)
Mớn nước: 38 ft (12 m)
Động cơ đẩy: 8 x nồi hơi;
4 x turbine hơi nước Westinghouse;
4 x trục;
công suất 280.000 mã lực càng (210 MW)
Tốc độ: 34 kn (63 km/h; 39 mph)
Tầm xa: 12.000 mi (19.000 km)
Thủy thủ đoàn: 5.624
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
AN/SPS-49 & AN/SPS-48
Thiết bị chiến đấu điện tử
và nghi trang:
AN/SLQ-32
Vũ trang: 24 × tên lửa đối không Sea SparrowRIM-116 Rolling Airframe;
3 × hệ thống phòng thủ tầm gần Phalanx CIWS
Máy bay mang theo: 80 máy bay

America là chiếc tàu sân bay đầu tiên được sử dụng làm mục tiêu thử nghiệm vũ khí kể từ Chiến dịch Crossroads năm 1946. Sau khi trải qua bốn tuần lễ thử nghiệm vào năm 2005, nó bị đánh đắm tại vị trí về phía Đông Nam mũi Hatteras, bất chấp sự phản đối của nhiều cựu thủy thủ đoàn con tàu muốn giữ lại con tàu như một tàu bảo tàng. Nó là chiếc tàu chiến lớn nhất từng bị đánh đắm.

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

 
America đang được đóng tại Newport News, 1961

Nguyên được đặt hàng như một tàu sân bay chạy năng lượng hạt nhân thuộc lớp Enterprise, việc chi phí chế tạo bị đội lên đáng kể khi đóng chiếc Enterprise đã đưa đến việc hủy bỏ chiếc CVAN-66, và con tàu được đặt hàng trở lại như một chiếc lớp Kitty Hawk chạy năng lượng thông thường. Nó được đặt lườn tại xưởng tàu Newport News, Virginia của hãng Newport News Shipbuilding and Dry Dock Corp. vào ngày 1 tháng 1 năm 1961, được hạ thủy vào ngày 1 tháng 2 năm 1964, được đỡ đầu bởi bà Catherine McDonald, phu nhân Đô đốc David L. McDonald, Tư lệnh Tác chiến Hải quân. Con tàu được cho nhập biên chế tại Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 23 tháng 1 năm 1965 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại tá Hải quân Lawrence Heyworth Jr..

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

Chạy thử máy và huấn luyệnSửa đổi

Tiếp tục được trang bị hoàn tất cho đến ngày 15 tháng 3 năm 1965, America ở lại Hampton Roads để tiến hành những hoạt động ngoài khơi Virginia Capes cho đến khi lên đường vào ngày 25 tháng 3. Nó thực hiện cuộc phóng máy bay đầu tiên vào ngày 5 tháng 4, khi Trung tá Hải quân Kenneth B. Austin, Hạm phó của America, cất cánh chiếc Douglas A-4C Skyhawk khỏi sàn đáp. Nó tiếp tục đi đến vùng biển Caribe để chạy thử máy và huấn luyện, hoàn tất tại vịnh Guantánamo, Cuba vào ngày 23 tháng 6.[1]

America đi vào Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 10 tháng 7 để sửa chữa sau chạy thử máy, nó ở lại xưởng tàu cho đến ngày 21 tháng 8, rồi hoạt động tại chỗ cho đến cuối tháng 8, khi nó lần lượt đi đến Virginia Capes và Bermuda, quay trở về Norfolk vào ngày 9 tháng 9. Nó trở thành soái hạm của Đội tàu sân bay 2, khi Tư lệnh, Chuẩn đô đốc J. O. Cobb, treo cờ hiệu của mình trên tàu vào ngày 25 tháng 9.[1]

1965 – 1966Sửa đổi

Vào ngày 3 tháng 9 năm 1965, một máy bay và một phi công đã bị mất khi hệ thống phóng của America gặp trục trặc; càng đáp trước chiếc máy bay bị kéo rời ra, thùng nhiên liệu phụ bị thủng và chiếc máy bay bị lật nghiêng, gây ra một đám cháy khiến một thủy thủ trên sàn đáp bị bỏng. Sĩ quan radar đã phóng ra khỏi máy bay an toàn, nhưng phi công đã cùng máy bay bị rơi xuống biển. Đến ngày 16 tháng 10, hai chiếc F-4 Phantom II đã va chạm trên không cách con tàu 20 mi (32 km); cả hai phi công đã phóng ra an toàn và được cứu vớt sau đó. Kể từ khi rời Norfolk, America bị mất năm máy bay.[2]

America lên đường cho lượt hoạt động đầu tiên tại Địa Trung Hải vào cuối năm 1965, và hiện diện tại cảng Livorno, Ý vào ngày đầu năm mới 1966. Trong những tuần lễ tiếp theo nó lần lượt viếng thăm các cảng Cannes, Genoa, Toulon, Athens, Istanbul, Beirut, Valletta, Taranto, Palmavịnh Pollensa, Tây Ban Nha. Trong lượt phục vụ cùng Đệ lục Hạm đội này, từ ngày 28 tháng 2 đến ngày 10 tháng 3, nó đã tham gia cuộc Tập trận "Fairgame IV" phối hợp giữa Hoa Kỳ và Pháp, vốn mô phỏng một cuộc chiến tranh quy ước chống lại một quốc gia tìm cách tấn công một nước đồng minh trong Khối NATO. Con tàu lên đường vào ngày 1 tháng 7 để quay trở về Hoa Kỳ, về đến Căn cứ Hải quân Norfolk, Virginia vào ngày 10 tháng 7, nhưng nó chỉ ở lại cảng một thời gian ngắn rồi đi vào Xưởng hải quân Norfolk vào ngày 15 tháng 7 để sửa chữa.[1]

America tiến hành những hoạt động tại chỗ từ ngày 29 tháng 8 đến ngày 19 tháng 9, rồi đi đến khu vực vịnh Guantánamo, Cuba để huấn luyện. Sau khi cơn bão Inez càn quét qua suốt khu vực Trung Mỹ, thủy thủ đoàn con tàu phải dành ra khoảng 1.700 giờ công để trợ giúp Căn cứ Hải quân vịnh Guantánamo phục hồi và quay trở lại hoạt động bình thường. Sau đó, nó hoạt động chuẩn nhận cho kiểu máy bay cường kích mới A-7 Corsair II đi vào hoạt động trên tàu sân bay, tiến hành những phi vụ bay thử nghiệm ngoài khơi Virginia Capes. Con tàu cũng tiến hành thử nghiệm hệ thống hỗ trợ hạ cánh tự động, chứng tỏ khả năng hạ cánh “không dùng tay” cho các kiểu máy bay F-4 Phantom II, F-8 Crusader và A-4 Skyhawk.[1]

Từ ngày 28 tháng 11 đến ngày 15 tháng 12, America tham gia cuộc Tập trận LANTFLEX 66, tích lũy kinh nghiệm trong các hoạt động phòng không, chống tàu ngầm và không lực trên tàu sân bay. Con tàu cũng tham gia hoạt động rải mìn, bắn tên lửa, và hỗ trợ trên không cho hoạt động đổ bộ. Nó quay trở về Norfolk vào ngày 15 tháng 12, và ở lại cảng cho đến hết năm 1966.[1]

Lượt hoạt động Địa Trung Hải thứ hai (1967)Sửa đổi

 
America trong lượt hoạt động 1967 tại Địa Trung Hải

America khởi hành từ Norfolk vào ngày 10 tháng 1 năm 1967 cho lượt phục vụ thứ hai cùng Đệ lục Hạm đội tại Địa Trung Hải. Trên đường đi vượt Đại Tây Dương, nó tiến hành chuẩn nhận hoạt động tàu sân bay cho đội bay chiếc máy bay trực thăng SH-3A Sea King, thực hành bắn tên lửa giữa đại dương và các hoạt động không quân khác. Khi đến gần Gibraltar vào ngày 18 tháng 1, nó đón tiếp sự “viếng thăm” của máy bay trinh sát tầm xa Xô Viết Tupolev Tu-95 "Bears"; hai chiếc F-4B Phantom II đã được cử ra gặp gỡ những chiếc "Bears" và hộ tống chúng khi bay ngang con tàu. America thay phiên cho tàu sân bay Independence (CV-62) tại vịnh Pollensa vào ngày 22 tháng 1.[1]

Trước khi thả neo tại Athens, vào ngày 4 tháng 2, America tham gia cuộc tập trận ngăn chặn-kiểm soát phối hợp với một trung tâm kiểm soát và chỉ huy Ý. Ít lâu sau đó, chiếc tàu sân bay lại gặp gỡ các lực lượng Ý trong một cuộc thực tập tấn công tàu sân bay bằng những tàu tuần tra cao tốc. Sang đầu tháng 3, trong thành phần Đội đặc nhiệm 60.1, nó cùng các tàu hộ tống đã tham gia cuộc Tập trận "Poker Hand IV" phối hợp cùng Hải quân Hoàng gia Anh, có sự tham gia của HMS Hermes (R12). Hai chiếc tàu sân bay đã trao đổi các lượt tấn công để thử nghiệm hệ thống phòng không của mỗi con tàu.[1]

 
Một chiếc F-4B Phantom II thuộc Phi đội VF-33 chờ đợi để được phóng lên từ America trong lượt hoạt động 1967 tại Địa Trung Hải; phía sau là tàu khu trục lớp Gearing William C. Lawe (DD-763) và xa hơn là một tàu khu trục lớp Kashin của Hải quân Liên Xô.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ “USS America (CV 66) History”. US Carriers. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2017. 
  2. ^ see www.ejection-history.org.uk Michael V Bennett Ejection Bailout Diary (log) Kept by USN Safety Center: Entries 81,82,94,95,96,97&98 www.ussamerica.org/membershiplog.asp James Bissette, Richard D. Bean, Robert A. Dallas, Richard Delgott and Terry Michael Hart

Liên kết ngoàiSửa đổi