USS Independence (CV/CVA-62) là một tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ. Nó là chiếc thứ tư, cũng là chiếc cuối cùng, của lớp siêu hàng không mẫu hạm Forrestal chạy bằng năng lượng thông thường. Nó là chiếc tàu chiến thứ năm của Hải quân Mỹ, và là chiếc tàu sân bay thử hai, mang cái tên này. Nó nhập biên chế năm 1959, và trải qua phần lớn thời gian ban đầu hoạt động tại Địa Trung Hải, nhưng cũng từng tham gia trong cuộc Chiến tranh Việt Nam vào năm 1965.

USS Independence (CV-62) at sea during the later 1980s or early 1990s (NH 97715).jpg
Tàu sân bay USS Independence (CV-62) ngoài biển khơi, khoảng cuối thập niên 1980 hay đầu thập niên 1990
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Independence (CV-62)
Đặt hàng: 2 tháng 7 năm 1954
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân New York
Kinh phí: 182,3 triệu Đô la Mỹ[1]
Đặt lườn: 1 tháng 7 năm 1955
Hạ thủy: 6 tháng 6 năm 1958
Đỡ đầu bởi: bà Thomas S. Gates
Nhập biên chế: 10 tháng 1 năm 1959
Xuất biên chế: 30 tháng 9 năm 1998
Xóa đăng bạ: 8 tháng 3 năm 2004
Khẩu hiệu: "Freedom's Flagship"
Số phận: Tháo dỡ, 2017
Đặc điểm khái quát [2]
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Forrestal
Trọng tải choán nước: 60.000 tấn (59.000 tấn Anh) (tiêu chuẩn);
80.643 tấn (79.369 tấn Anh) (đầy tải)
Độ dài: 990 ft (300 m) (mực nước);
1.070 ft (330 m) (chung)
Sườn ngang: 129 ft 4 in (39,42 m) (mực nước)
Mớn nước: 35 ft 9 in (10,90 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;
4 × trục;
8 × nồi hơi Babcock & Wilcox;br/>công suất 280.000 shp (210 MW)
Tốc độ: 34 hải lý một giờ (63 km/h)
Tầm xa: 8.000 hải lý (15.000 km) ở tốc độ 20 hải lý một giờ (37 km/h);
4.000 hải lý (7.400 km) ở tốc độ 30 hải lý một giờ (56 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
3.126 (con tàu) + 2.089 (không đoàn) + 70 (soái hạm) + 70 (thủy quân lục chiến)
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
radar đối không 3D AN/SPS-48C;
radar đối không 2D AN/SPS-49(V5);
radar đối biển AN/SPS-67(V1);
radar đạo hàng AN/SPS-64;
radar điều khiển hỏa lực tên lửa đối không Mk 91
Thiết bị chiến đấu điện tử
và nghi trang:
AN/SLQ-29;
ống phóng rocket mồi bẫy Mark 36 SRBOC
Vũ trang: Ban đầu: 8 × pháo 5 in (130 mm)/54 caliber Mark 42;
Tái trang bị: 3 × dàn phóng tên lửa 8 nòng Sea Sparrow Mark 29;
3 × pháo Phalanx CIWS 20 mm Mark 15 guns
Bọc giáp: sàn đáp: 3 in (76 mm)
Máy bay mang theo: 70 - 90 × máy bay: 14 × F-14 Tomcat, 36 × F/A-18 Hornet, 4 × EA-6B Prowler, 4 × E-2C Hawkeye, 8 × S-3/ES-3 Viking, 3 × SH-60F Seahawk, 2 × HH-60 Seahawk
Thiết bị bay: sàn đáp kích thước 326 m × 77 m (1.070 ft × 253 ft)

Sau 39 năm phục vụ, Independence được cho xuất biên chế vào năm 1998. Bị bỏ không trong nhiều năm tại Xưởng hải quân Puget Sound, Bremerton, Washington, cuối cùng con tàu cũng được kéo đi vào ngày 10 tháng 3 năm 2017. Nó đi đến Brownsville, Texas vào ngày 1 tháng 6 năm 2017 để bắt đầu được tháo dỡ.

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

 
Independence đang được chế tạo tại Xưởng hải quân Brooklyn, 1955
 
Independence đang được trang bị tại Xưởng hải quân Brooklyn, tháng 6 năm 1958; tàu sân bay Enterprise (CV-6) ở đối diện đang chuẩn bị để loại bỏ

Lớp Forrestal được thiết kế vào đầu thập niên 1950 như là một phiên bản nhỏ hơn của dự án siêu hàng không mẫu hạm USS United States (CVA-58) bị hủy bỏ. Không giống như lớp United States, chúng được sử dụng trong cả các đòn tấn công hạt nhân lẫn vũ khí thông thường, nên dự định sẽ mang theo một không đoàn máy bay hỗn hợp bao gồm máy bay tiêm kích, máy bay cường kích hạng nhẹ và ném bom, tất cả đều là máy bay phản lực. Những tàu sân bay mới được thiết kế chung quanh kiểu máy bay ném bom mới Douglas A3D Skywarrior, với bốn thang nâng đủ lớn cho những kiểu máy bay mới nhất. Vì máy bay phản lực tiêu thụ nhiều nhiên liệu hơn máy bay động cơ piston, lớp Forrestal cũng có trữ lượng nhiên liệu máy bay lớn hơn nhiều những tàu sân bay hiện có, với 750.000 galông Mỹ (2.800.000 l) xăng máy bay và 789.000 galông Mỹ (2.990.000 l) nhiên liệu phản lực; hơn gấp đôi so với lớp Midway.[3][4]

Independence được chế tạo với một sàn đáp chéo góc cùng bốn máy phóng hơi nước C-7, gồm hai ở phía mũi và hai trên sàn đáp chéo. Nó cũng được trang bị radar dò tìm không trung tầm xa AN/SPS-37 và radar đo độ cao AN/SPS-8B. Vũ khí phòng thủ bao gồm tám pháo 5 in (130 mm)/54 caliber Mark 42 đặt trên các bệ nhô bên mạn tàu bên dưới sàn đáp để không ảnh hưởng đến hoạt động không lực.[4][5] Phi đoàn phối thuộc ban đầu cho lớp Forrestal có khoảng 90, cho dù thành phần cụ thể thay đổi theo từng phi đoàn và nhiệm vụ.[6]

Hợp đồng chế tạo Independence, chiếc thứ tư cũng là chiếc cuối cùng của lớp Forrestal, được trao cho Xưởng hải quân Brooklyn vào ngày 2 tháng 7 năm 1954,[7] và con tàu được đặt lườn vào ngày 1 tháng 7 năm 1955.[8] Nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 6 năm 1958, được đỡ đầu bởi bà Thomas S. Gates, phu nhân Bộ trưởng Hải quân;[9][10] và nhập biên chế vào ngày 10 tháng 1 năm 1959 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại tá Hải quân R. Y. McElroy.[8]

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

Thử nghiệm và huấn luyệnSửa đổi

 
Independence trong chuyến đi chạy thử máy, 1959

Independence tiến hành chạy thử máy huấn luyện, với việc hạ cánh lần đầu tiên trên sàn đáp bởi một máy bay giao nhận tàu sân bay Grumman C-1 Trader tiến hành vào ngày 2 tháng 3, 1959 Nó đi đến cảng nhà mới tại Norfolk, Virginia vào ngày 30 tháng 6, 1959, rồi thực hiện chuyến đi huấn luyện trong mười tuần lễ tại vùng biển Caribe.[9][11] Trong chuyến đi chạy thử máy này, đang khi tiến hành những thử nghiệm tính tương thích trên tàu sân bay, một máy bay phản lực Douglas A3D Skywarrior đã được Independence phóng lên thành công với tổng trọng lượng 84.000 pound (38.000 kg), trở thành máy bay có trọng lượng nặng nhất từng cất cánh từ tàu sân bay vào lúc đó.[12]

1960 - 1964Sửa đổi

 
Independence (phía trước) cùng các tàu chị em SaratogaIntrepid, năm 1961, nhân kỷ niệm 50 năm ngành hàng không hải quân Hoa Kỳ
 
Một chiếc Vought F-8C Crusader thuộc Liên đội VF-84, sẵn sàng để được phóng từ Independence, trong lượt hoạt động tại Địa Trung Hải 1963-1964

Independence hoạt động thực hành huấn luyện ngoài khơi Virginia Capes trong một năm tiếp theo, trước khi khởi hành vào ngày 4 tháng 8, 1960 cho chuyến đi đầu tiên sang Địa Trung Hải. Nó hoạt động cùng Đệ lục Hạm đội tại khu vực Đông Địa Trung Hải, trong những nỗ lực duy trì hòa bình tại một khu vực tiềm ẩn những mâu thuẩn và xung đột, cho đến khi quay trở về Norfolk vào ngày 3 tháng 3, 1961. Đến ngày 4 tháng 8, nó lại lên được đi sang Địa Trung Hải cho một lượt phục vụ khác cùng Đệ lục Hạm đội, rồi quay trở về Norfolk vào ngày 19 tháng 12.[9]

Independence lên đường vào ngày 19 tháng 4, 1962 cho lượt phục vụ thứ ba cùng Đệ lục Hạm đội tại Địa Trung Hải, vào lúc tình hình căng thẳng do Tổng thống John F. Kennedy tái khẳng định quyền kiểm soát của Hoa Kỳ, AnhPháp trên phần lãnh thổ Tây Berlin trước áp lực của Liên Xô. Nó quay trở về Norfolk vào ngày 27 tháng 8, và lên đường đi vùng biển Caribe vào ngày 11 tháng 10 để thực tập. Khi Tổng thống Kennedy ra lệnh phong tỏa Cuba vào ngày 24 tháng 10 do vụ Khủng hoảng tên lửa Cuba, chiếc tàu sân bay đã đi đến ngoài khơi Puerto Rico và đóng vai trò quan trọng trong việc gây áp lực, buộc Liên Xô phải rút bỏ những tên lửa đạn đạo tầm trung mang đầu đạn hạt nhân khỏi hòn đảo Trung Mỹ này. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, nó quay trở về Norfolk vào ngày 25 tháng 11, tiếp tục thực tập huấn luyện trước khi được đại tu tại Xưởng hải quân Norfolk, rồi tiến hành huấn luyện ôn tập tại vịnh Guantánamo, Cuba.[9]

Rời Norfolk vào ngày 6 tháng 8, 1963, Independence vượt Đại Tây Dương để tham gia cuộc tập trận phối hợp trong khu vực vịnh Biscay cùng các đơn vị không-hải lực của Anh và Pháp, rồi tiến vào Địa Trung Hải vào ngày 21 tháng 8 để tiếp tục phục vụ cùng Đệ lục Hạm đội. Tại đây con tàu đã tham gia cuộc tập trận phối hợp giữa các nước thành viên Khối NATO, bao gồm các hoạt động hỗ trợ trên không cho lực lượng nhảy dù Thổ Nhĩ Kỳ, trinh sát, liên lạc và hỗ trợ tấn công tiếp vận đối phương. Tổng thống Makarios III của đảo quốc Cyprus đã viếng thăm con tàu vào ngày 7 tháng 10, 1963, rồi sau đó nó tham gia cuộc tập trận song phương giữa Hoa Kỳ và Ý trong vùng biển Adriatic với các tàu phóng lôi Ý, và tập trận song phương với Pháp khi máy bay của nó “đối đầu” với máy bay Không quân Pháp và một hoạt động trên biển với tàu tuần dương Pháp Colbert (C611). Sau khi hoàn thành mọi nhiệm vụ, nó quay trở về Norfolk vào ngày 4 tháng 3, 1964.[9]

Sau những đợt thực hành huấn luyện dọc theo vùng bờ Đông, trải rộng từ New York cho đến Mayport, Florida ở phía Nam, Independence khởi hành từ Norfolk vào ngày 8 tháng 9, 1964 để tham gia cuộc Tập trận Teamwork của Khối NATO tại vùng biển Na Uy và ngoài khơi bờ biển nước Pháp, trước khi đi đến Gibraltar. Nó quay trở về Norfolk vào ngày 5 tháng 11, 1964, và đi vào Xưởng hải quân Norfolk để đại tu.[9]

1965 - 1970Sửa đổi

Vào ngày 10 tháng 5, 1965, Independence khởi hành cho một lượt phục vụ kéo dài bảy tháng tại khu vực Tây Thái Bình Dương, bao gồm hơn 100 ngày hoạt động trong biển Đông ngoài khơi bờ biển Việt Nam, là chiếc tàu sân bay đầu tiên của Hạm đội Đại Tây Dương làm nhiệm này; nó cũng là chiếc tàu sân bay thứ năm của Hải quân Hoa Kỳ hoạt động ngoài khơi Việt Nam. Do thành tích phục vụ tại đây từ ngày 5 tháng 6 đến ngày 21 tháng 11, chiếc tàu sân bay cùng với Không đoàn Tàu sân bay 7 phối thuộc được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân.[9]

Các liên đội không quân của Independence đã tham gia một loạt các đợt không kích phối hợp nhằm đánh phá các tuyến đường tiếp liệu trọng yếu của đối phương ở phía Bắc khu vực Hà Nội-Hải Phòng, cũng như những vị trí đặt tên lửa đất đối không S-75 Dvina (SAM II) tại khu vực này. Chiếc tàu sân bay đã tung ra hơn 7000 phi vụ tấn công xuống miền Bắc Việt Nam trong thời gian này.[9]

 
F-4B Phantom II thuộc Liên đội VF-41 được phóng từ Independence trong lượt bố trí tại Việt Nam 1965

Independence quay trở về cảng nhà Norfolk vào ngày 13 tháng 12. Trong nữa đầu năm 1966 nó hoạt động ngoài khơi Norfolk, được tiếp liệu và huấn luyện các liên đội không quân, và tham gia cuộc Tập trận Strikex vào ngày 4 tháng 5. Nó rời Norfolk vào ngày 13 tháng 6 để phục vụ cùng Đệ lục Hạm đội tại Địa Trung Hải, tham gia các cuộc tập trận cùng hạm đội và với Khối NATO từ tháng 7 đến tháng 12, rồi quay trở về Hoa Kỳ vào đầu năm 1967. Sau một giai đoạn hoạt động tại chỗ từ Norfolk, con tàu được đại tu tại Xưởng hải quân Norfolk. Thời gian lưu lại trong ụ tàu để đại tu bị ngắt quãng khi Independence phải rời ụ tàu sớm, nhường chỗ cho chiếc tàu sân bay chị em Forrestal (CVA-59) bị hư hại sau khi mắc tai nạn hỏa hoạn vào ngày 19 tháng 9, 1967. [9][13]

Independence lên đường đi sang Địa Trung Hải vào ngày 30 tháng 4, 1968 cho một lượt hoạt động kéo dài chín tháng tại Địa Trung Hải; nó quay trở về Norfolk, Virginia vào ngày 27 tháng 1, 1969. Đến ngày 3 tháng 9, 1969 nó lại khởi hành từ Norfolk cho một cuộc tập trận trong Khối NATO tại khu vực Bắc Đại Tây Dương, nơi nó tham gia thử nghiệm hoạt động của kiểu máy bay cất hạ cánh thẳng đứng và đường băng ngắn Hawker Siddeley Harrier trên tàu sân bay. Quay trở về cảng nhà vào ngày 9 tháng 10, chiếc tàu sân bay lại được biệt phái sang Địa Trung Hải một lần nữa từ ngày 23 tháng 6, 1970 đến ngày 31 tháng 1, 1971, nơi nó được phái đến khu vực Đông Địa Trung Hải vào lúc xảy ra những cuộc xung đột với Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) tại Jordan.[9]

Thập niên 1970Sửa đổi

 
Independence (phía trước) hoạt động phối hợp cùng tàu sân bay HMS Ark Royal của Hải quân Anh tại Bắc Đại Tây Dương, 1971

Tin tức nhận được vào ngày 25 tháng 9, 1970 về việc Gamal Abdel Nasser, Tổng thống Cộng hòa Ả Rập Thống nhất (Ai Cập) từ trần đã gieo mối lo ngại rằng tình hình tại Trung Đông sẽ rơi vào bất ổn và khủng hoảng. Vì vậy Independence đã cùng với John F. Kennedy (CV-67), Saratoga (CV-60) và bảy tàu chiến khác được huy động trực chiến, và sẵn sàng để hoạt động hỗ trợ cho việc di tản công dân Hoa Kỳ nếu cần thiết, cũng như đối phó với sự hiện diện của Hải quân Liên Xô tại Địa Trung Hải.[9]

Phi công Thủy quân Lục chiến thuộc các phi đội cường kích VMA-142, VMA-131 và VMA-133 bắt đầu huấn luyện chuẩn nhận hạ cánh trên tàu sân bay với kiểu máy bay cường kích A-4 Skyhawk trên Independence từ ngày 3 tháng 8, 1971. Trong ba ngày tiếp theo, bốn phi công hiện dịch và 20 phi công trừ bị đã hoạt động trên chiếc tàu sân bay, lần đầu tiên một phi đội Thủy quân Lục chiến Trừ bị được chuẩn nhận để phục vụ trên tàu sân bay.[9]

 
Một chiếc F-4J Phantom II thuộc Liên đội VF-101 bên cạnh một chiếc F-4K của Liên đội Không lực 892 Hải quân Anh đang chờ đợi để được phóng lên từ Independence

Independence khởi hành từ Norfolk vào tháng 9, 1971 để đi sang vùng biển Bắc Âu, băng qua vòng Bắc Cực vào ngày 28 tháng 9, và hoạt động tại khu vực Bắc Hải. Trong chuyến đi này nó đã hoạt động thực hành hoán chuyển máy bay cùng tàu sân bay Hải quân Anh HMS Ark Royal (R09), rồi băng qua eo biển Manche để chuyển sang eo biển Gibraltar và phục vụ tại Địa Trung Hải sau đó.[9]

Vào tháng 5, 1973, Tổng thống Richard M. Nixon phát biển bài diễn văn hàng năm nhân Ngày Lực lượng Vũ trang từ sàn đáp của Independence. Trong khi đặt cảng nhà tại Norfolk, con tàu đã có những lượt biệt phái sang Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương. Từ ngày 8 đến ngày 13 tháng 10, 1973, Independence thuộc Đội đặc nhiệm 60.1, Franklin D. Roosevelt (CV-42) thuộc Đội đặc nhiệm 60.2, và tàu tấn công đổ bộ Guadalcanal (LPH-7) thuộc Lực lượng Đặc nhiệm 61 đã được báo động để sẵn sàng làm nhiệm vụ di tản công dân Hoa Kỳ tại Trung Đông sau khi nổ ra cuộc Chiến tranh Yom Kippur. Independence đã hoạt động tại khu vực đảo Crete.[9]

Sang mùa Hè năm 1974, Independencelại khởi hành từ Norfolk cho một lượt phục vụ khác tại Địa Trung Hải, phục vụ cùng Đội đặc nhiệm 60.1 và Không đoàn Tàu sân bay CVW-7. Thay phiên cho Franklin D. Roosevelt, IndependenceSaratoga tiếp nối thông lệ tuần tra tại khu vực Địa Trung Hải, trong khi bị máy bay và tàu chiến Xô-viết theo dõi. Vào ngày 8 tháng 9, con tàu chứng kiến một hình thức mới của khủng bố, khi một quả bom kích nổ trong khoang hành lý của máy bay Boeing 707 thuộc Chuyến bay TWA 841, khiến nó rơi xuống biển Ionia và toàn bộ 88 người trên máy bay thiệt mạng. Đi đến địa điểm rơi máy bay, Independence và các tàu khác trải qua hai ngày thu thập thi thể của hành khách và thành viên đội bay.[14]

Vào ngày 20 tháng 6, 1979, Đại úy Hải quân Donna L. Spruill trở thành nữ phi công hải quân đầu tiên được chuẩn nhận hạ cánh máy bay cánh cố định trên tàu sân bay. Đại úy Spruill đã hạ cánh một chiếc máy bay vận tải C-1A Trader bên trên Independence.[9]

Thập niên 1980Sửa đổi

 
Independence và tàu khu trục Luce (DDG-38) đang được tàu chở dầu Canisteo (AO-99) tiếp nhiên liệu trên đường đi, khoảng năm 1981

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Moore, John biên tập (1991). Jane's American Fighting Ships of the 20th Century. New York, NY: Mallard Press. ISBN 978-1-5614-4720-6. 
  2. ^ Baker 1998, tr. 992.
  3. ^ Chesneau 1998, tr. 264.
  4. ^ a ă Gardiner & Chumbley 1995, tr. 569.
  5. ^ Chesneau 1998, tr. 266–267.
  6. ^ Chesneau 1998, tr. 266.
  7. ^ “Independence (CV 62)(ex-CVA 62): Multi-Purpose Aircraft Carrier”. National Vessel Register. Naval Sea Systems Command, United States Navy. 1 tháng 3 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2011. 
  8. ^ a ă Baker 1992, tr. 992.
  9. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Independence. Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2015. 
  10. ^ Video: Brooklyn, N.Y. 1958/06/09 (1958). Universal Newsreel. 9 tháng 6 năm 1958. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2012. 
  11. ^ Weeks 1999, tr. 14.
  12. ^ Grossnick 1997, tr. 228.
  13. ^ Weeks, Mike (tháng 4 năm 1999). “Freedom's Flagship” (PDF). Naval Aviation News: 12–21. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2009. 
  14. ^ “Aircraft Accident Report 75-7” (PDF). National Transportation Safety Board. 1974. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2016. 

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi

Reunion groups: