USS Constellation (CV-64) là một siêu hàng không mẫu hạm lớp Kitty Hawk được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong thập niên 1960. Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này để vinh danh “một chùm sao mới” thể hiện trên quốc kỳ Hoa Kỳ. Là một trong những chiến hạm nhanh nhất của Hải quân, chứng minh qua một cuộc thi đua năm 1985, con tàu được thủy thủ đoàn đặt biệt danh "Connie". Constellation là tàu sân bay Hoa Kỳ cuối cùng được chế tạo tại một xưởng tàu khác hơn xưởng Newport News Shipbuilding & Drydock Company. Sau hơn bốn thập niên hoạt động, con tàu được cho xuất biên chế vào năm 2003 và bị tháo dỡ tại Brownsville, Texas từ năm 2015 đến năm 2017.

USS Constellation (CV-64)
USS Constellation (CV-64)
USS Constellation vào tháng 4 năm 2003, khi đi đến Perth, Australia
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: Constellation
Trúng thầu: 1 tháng 7 năm 1956[1]
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Brooklyn
Kinh phí: 264,5 triệu Đo la Mỹ
Đặt lườn: 14 tháng 9 năm 1957[1]
Hạ thủy: 8 tháng 10 năm 1960[1]
Đỡ đầu bởi: bà Mary Herter
Trưng dụng: 1 tháng 10 năm 1961[1]
Nhập biên chế: 27 tháng 10 năm 1961[1]
Xuất biên chế: 6 tháng 8 năm 2003[1]
Xóa đăng bạ: 2 tháng 12 năm 2003[1]
Biệt danh: Connie
Số phận: Tháo dỡ, hoàn tất 10 tháng 5 năm 2017
Đặc điểm khái quát [1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Kitty Hawk
Trọng tải choán nước: 61.981 tấn Anh (62.976 t) (tiêu chuẩn)
82.538 tấn Anh (83.862 t) (đầy tải)
Độ dài: 990 ft (300 m) (mực nước)
1.088 ft (332 m) (chung)
Sườn ngang: 130 ft (40 m) (mực nước)
282 ft (86 m) (tối đa)
Mớn nước: 39 ft (12 m)[1]
Động cơ đẩy: 8 x nồi hơi;
4 x turbine hơi nước Westinghouse;
4 x trục;
công suất 280.000 mã lực càng (210 MW)
Tốc độ: 34 kn (63 km/h; 39 mph)
Tầm xa: 12.000 mi (19.000 km)
Thủy thủ đoàn: 5.624 (thủy thủ đoàn: 3.150 & không đoàn: 2.480) [1]
Vũ trang: 24 × tên lửa đối không Sea SparrowRIM-116 Rolling Airframe;
3 × hệ thống phòng thủ tầm gần Phalanx CIWS
Máy bay mang theo: 72 máy bay

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

Hợp đồng chế tạo Constellation được trao cho Xưởng hải quân New York, Brooklyn, New York vào ngày 1 tháng 7 năm 1956, và nó được đặt lườn vào ngày 14 tháng 9 năm 1957.[2] Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 10 năm 1960, được đỡ đầu bởi bà Mary Herter, phu nhân Bộ trưởng Ngoại giao Christian Herter. Constellation được chuyển giao cho Hải quân vào ngày 1 tháng 10 năm 1961, và nhập biên chế vào ngày 27 tháng 10 năm 1961 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại tá Hải quân T. J. Walker.[3] Chi phí chế tạo con tàu vào lúc đó là 264,5 triệu Đô la Mỹ.[4]

Hỏa hoạn đang khi chế tạoSửa đổi

 
Constellation đang được đóng tại Xưởng hải quân Brooklyn, tháng 2 năm 1960

Constellation bị hư hại nặng bởi một trận hỏa hoạn đang khi chế tạo vào ngày 19 tháng 12 năm 1960.[3][4] Chiếc tàu sân bay đang trong giai đoạn chế tạo sau cùng trong Xưởng hải quân Brooklyn tại Brooklyn, New York khi đám cháy bùng phát.[5]

Vụ hỏa hoạn xảy ra khi một xe nâng hoạt động trên sàn chứa máy bay gặp tai nạn đẩy kiện hàng nó đang nâng vào một tấm thép. Tấm thép ngã đã làm bung nắp một thùng chứa 500 galông Mỹ (1.900 l; 420 gal Anh) dầu diesel, và nhiên liệu từ thùng chứa đã chảy tràn xuống các hầm tàu bên dưới. Nhiên liệu có thể đã bắt lửa từ một mỏ hàn, rồi lan sang các vách ngăn tạm bằng gỗ. Đám cháy lan tràn nhanh chóng, khiến các lối đi của con tàu hoàn toàn bị ngập khói. Một chỉ huy Hải quân đã nhận xét về thiết kế con tàu trong một cuộc thẩm vấn, "Những con tàu trong lớp này là những cấu trúc phức tạp nhất từng được con người thiết kế."[5]

Lính chữa cháy đã phải mất đến 17 giờ để dập tắt hoàn toàn cuộc hỏa hoạn, tuy nhiên 50 công nhân của xưởng tàu đã thiệt mạng.[5] Những hư hại vật chất đã khiến tốn kém 75 triệu Đô la để sửa chữa, và trì hoãn việc hoàn tất con tàu thêm bảy tháng, đưa đến những lời đồn đại rằng con tàu bị cháy tại New York là chiếc Kitty Hawk (CV-63), và trận hỏa hoạn đã khiến Hải quân phải hoán đổi tên và số hiệu lườn tàu giữa hai con tàu chị em, vốn đang được đóng cùng lúc ở những xưởng tàu khác nhau thuộc tiểu bang khác.[6] Một bản tin ngắn trên báo New York Times phát hành một ngày sau vụ hỏa hoạn, 20 tháng 12, đã gọi tên con tàu là USS Constellation.[7]

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

Thập niên 1960Sửa đổi

Một cuộc hỏa hoạn khác lại xảy ra bên trên Constellation vào ngày 7 tháng 11 năm 1961, trong khi con tàu đang được chạy thử nghiệm ngoài biển, khiến bốn người thiệt mạng và làm bị thương chín người khác.[8]

Sau khi hoàn tất việc trang bị và thử máy nghiệm thu, Constellation rời cảng nhà Norfolk, Virginia vào ngày 7 tháng 2 năm 1962 để tiến hành những hoạt động không quân đầu tiên tại vùng biển ngoài khơi Virginia Capes. Nó thực hiện cú phóng máy bay bằng máy phóng và hạ cánh với cáp hãm cùng ngày hôm đó, thực hiện bởi Trung tá Hải quân George C. Watkins, chỉ huy Liên đội Tàu sân bay 13 (CVG-13), lái một chiếc A4D-2 Skyhawk thuộc Phi đội Cường kích 34. Sau một tháng hoạt động tại chỗ, nó lên đường cho một chuyến đi chạy thử máy huấn luyện tại vùng biển Caribe.

Vào mùa Hè năm 1962, Constellation được điều động sang Hạm đội Thái Bình Dương, và Liên đội CVG-13 tách khỏi con tàu. Nó đón lên tàu các đơn vị của Liên đội Tàu sân bay 5 (CVG-5) tại Mayport, Florida trước khi khởi hành vào ngày 25 tháng 7 cho chuyến đi kéo dài hai tháng vòng qua mũi Horn để đi đến cảng nhà mới San Diego, California. Đến tháng 11, với Liên đội Tàu sân bay 14 (CVG-14) trên tàu, nó thực tập và huấn luyện nhằm chuẩn bị cho lượt biệt phái đầu tiên sang khu vực Tây Thái Bình Dương trong thành phần Đệ Thất hạm đội. Chuyến đi bình yên này kéo dài từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1963.

Đợt bố trí thứ hai của Constellation bắt đầu từ ngày 5 tháng 5 năm 1964. Nó thay phiên cho tàu sân bay chị em Kitty Hawk (CV-63) để tuần tra trong vịnh Bắc Bộ ngoài khơi Việt Nam vào ngày 8 tháng 6, nhận lên tàu Phi đoàn Tàu sân bay 14 (CVW 14)[Note 1] và thực hiện các phi vụ trinh sát hình ảnh bên trên không phận Lào cho đến ngày 13 tháng 7. Sau một giai đoạn bảo trì tại Căn cứ Hải quân vịnh Subic, Philippines, nó lên đường viếng thăm cảng Hong Kong vào ngày 27 tháng 7. Tuy nhiên những diễn biến trong sự kiện vịnh Bắc Bộ vào các ngày 24 tháng 8 buộc nó phải cắt ngắn chuyến viếng thăm và quay trở lại hoạt động.

 
USS Constellation trong lượt phục vụ tại Viễn Đông 1964–1965.

Constellation lên đường quay trở lại vịnh Bắc Bộ, và đến ngày 4 tháng 8 đã tung ra những máy bay F-4B Phantom II, phối hợp cùng những chiếc xuất phát từ tàu sân bay Ticonderoga (CV-14), để bảo vệ trên không cho các tàu khu trục; nội các của Tổng thống Lyndon Baines Johnson đã lấy cớ bị các tàu phóng lôi Bắc Việt Nam tấn công để có dịp leo thang trong sự xung đột này. Vào ngày 5 tháng 8, hai chiếc tàu sân bay đã thực hiện Chiến dịch Pierce Arrow, một loạt các cuộc không kích xuống kho xăng dầu và tàu hải quân của Bắc Việt Nam. Phi đoàn CVW-14 bị mất hai máy bay, một chiếc A-1 Skyraider của Trung úy Hải quân Richard C. Sather, người đã tử trận; và một chiếc A-4 Skyhawk của Trung úy Hải quân Everett Alvarez, Jr., người trở thành tù binh chiến tranh Hoa Kỳ đầu tiên trong cuộc Chiến tranh Việt Nam.[9] Các hoạt động dần dần quay trở lại nhịp điệu thường lệ cho đến hết thời gian còn lại của lượt hoạt động, và con tàu quay trở về San Diego vào ngày 1 tháng 2 năm 1965, kết thúc đợt biệt phái kéo dài chín tháng. Thành tích phục vụ trong lượt này được ghi nhận bằng danh hiệu Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân cho Constellation và Phi đoàn CVW-14.

Constellation sau đó trải qua một giai đoạn đại tu kéo dài tám tháng trong xưởng tàu, rồi chuẩn bị cho lượt hoạt động tiếp theo, lần đầu tiên trong môi trường chiến tranh. Phi đoàn Tàu sân bay 15 (CVW-15) được phối thuộc trên tàu trước khi nó lên đường đi sang Việt Nam vào tháng 5 năm 1966. Trong suốt 111 ngày trực chiến tại Trạm Yankee trong vịnh Bắc Bộ, máy bay của nó đã đánh phá các tuyến đường tiếp vận cùng những mục tiêu khác để ngăn chặn việc vận chuyển nhân sự và vũ khí, tiếp liệu vào miền Nam. Vào ngày 13 tháng 7, chiếc F-4B Phantom II thuộc Phi đội Tiêm kích 161 (VF-161) do Đại úy Hải quân William M. McGunigan và Trung úy Hải quân Robert M. Fowler điều khiển đã bắn rơi một máy bay phản lực MiG-17, đánh dấu chiếc MiG đối phương đầu tiên bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh. Sau bảy tháng hoạt động, nó quay trở về San Diego vào tháng 12, bị mất 16 thành viên đội bay và 15 máy bay. Cả Constellation lẫn Phi đoàn CVW-15 đều được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tưởng thưởng Hải quân trong đợt này.

 
Sơ đồ mạn phải USS Constellation, khoảng năm 1999

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Các liên đội tàu sân bay được đổi tên thành phi đoàn từ ngày 20 tháng 12 năm 1963

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g “Constellation (CV-64)”. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ Benjamin, Philip (15 tháng 9 năm 1957). “Keel of Carrier Constellation Laid; NAVY LAYS KEEL OF HUGE CARRIER To Be Longest in World Leahy Heads Group”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018. 
  3. ^ a ă Constellation (CV-64). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. 
  4. ^ a ă Terzibaschitsch, Stefan (1989). Aircraft carriers of the U.S. Navy (ấn bản 2). Annapolis, Md.: Naval Institute Press. tr. 262–267. ISBN 0-87021-001-7. 
  5. ^ a ă â Haberman, Clyde (21 tháng 12 năm 2010). “Recalling a Brooklyn Disaster Otherwise Forgotten”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ Polmar 2005, tr. 122
  7. ^ Baldwin, Hanson (20 tháng 12 năm 1960). “YARD WORK MAKES SHIP DEFENSELESS; Repairs or Construction, as on Constellation, Puts Vessel in Peril”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2011. 
  8. ^ “4 on Constellation Killed in New Fire During Test at Sea; 4 KILLED IN BLAZE ON CONSTELLATION Supercarrier Again Has Fatal Fire”. The New York Times. 7 tháng 11 năm 1961. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018. 
  9. ^ Moise 1996, tr. 219-220

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi