USS Constellation (CV-64) là một siêu hàng không mẫu hạm lớp Kitty Hawk được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong thập niên 1960. Nó là chiếc tàu chiến thứ ba của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này để vinh danh “một chùm sao mới” thể hiện trên quốc kỳ Hoa Kỳ. Là một trong những chiến hạm nhanh nhất của Hải quân, chứng minh qua một cuộc thi đua năm 1985, con tàu được thủy thủ đoàn đặt biệt danh "Connie". Constellation là tàu sân bay Hoa Kỳ cuối cùng được chế tạo tại một xưởng tàu khác hơn xưởng Newport News Shipbuilding & Drydock Company. Sau hơn bốn thập niên hoạt động, con tàu được cho xuất biên chế vào năm 2003 và bị tháo dỡ tại Brownsville, Texas từ năm 2015 đến năm 2017.

USS Constellation (CV-64)
USS Constellation (CV-64)
USS Constellation vào tháng 4 năm 2003, khi đi đến Perth, Australia
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: Constellation
Trúng thầu: 1 tháng 7 năm 1956[1]
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Brooklyn
Kinh phí: 264,5 triệu Đo la Mỹ
Đặt lườn: 14 tháng 9 năm 1957[1]
Hạ thủy: 8 tháng 10 năm 1960[1]
Đỡ đầu bởi: bà Mary Herter
Trưng dụng: 1 tháng 10 năm 1961[1]
Nhập biên chế: 27 tháng 10 năm 1961[1]
Xuất biên chế: 6 tháng 8 năm 2003[1]
Xóa đăng bạ: 2 tháng 12 năm 2003[1]
Biệt danh: Connie
Số phận: Tháo dỡ, hoàn tất 10 tháng 5 năm 2017
Đặc điểm khái quát [1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Kitty Hawk
Trọng tải choán nước: 61.981 tấn Anh (62.976 t) (tiêu chuẩn)
82.538 tấn Anh (83.862 t) (đầy tải)
Độ dài: 990 ft (300 m) (mực nước)
1.088 ft (332 m) (chung)
Sườn ngang: 130 ft (40 m) (mực nước)
282 ft (86 m) (tối đa)
Mớn nước: 39 ft (12 m)[1]
Động cơ đẩy: 8 x nồi hơi;
4 x turbine hơi nước Westinghouse;
4 x trục;
công suất 280.000 mã lực càng (210 MW)
Tốc độ: 34 kn (63 km/h; 39 mph)
Tầm xa: 12.000 dặm (19.000 km)
Thủy thủ đoàn: 5.624 (thủy thủ đoàn: 3.150 & không đoàn: 2.480) [1]
Vũ trang: 24 × tên lửa đối không Sea SparrowRIM-116 Rolling Airframe;
3 × hệ thống phòng thủ tầm gần Phalanx CIWS
Máy bay mang theo: 72 máy bay

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

Hợp đồng chế tạo Constellation được trao cho Xưởng hải quân New York, Brooklyn, New York vào ngày 1 tháng 7 năm 1956, và nó được đặt lườn vào ngày 14 tháng 9 năm 1957.[2] Nó được hạ thủy vào ngày 8 tháng 10 năm 1960, được đỡ đầu bởi bà Mary Herter, phu nhân Bộ trưởng Ngoại giao Christian Herter. Constellation được chuyển giao cho Hải quân vào ngày 1 tháng 10 năm 1961, và nhập biên chế vào ngày 27 tháng 10 năm 1961 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại tá Hải quân T. J. Walker.[3] Chi phí chế tạo con tàu vào lúc đó là 264,5 triệu Đô la Mỹ.[4]

Hỏa hoạn đang khi chế tạoSửa đổi

 
Constellation đang được đóng tại Xưởng hải quân Brooklyn, tháng 2 năm 1960

Constellation bị hư hại nặng bởi một trận hỏa hoạn đang khi chế tạo vào ngày 19 tháng 12 năm 1960.[3][4] Chiếc tàu sân bay đang trong giai đoạn chế tạo sau cùng trong Xưởng hải quân Brooklyn tại Brooklyn, New York khi đám cháy bùng phát.[5]

Vụ hỏa hoạn xảy ra khi một xe nâng hoạt động trên sàn chứa máy bay gặp tai nạn đẩy kiện hàng nó đang nâng vào một tấm thép. Tấm thép ngã đã làm bung nắp một thùng chứa 500 galông Mỹ (1.900 l; 420 gal Anh) dầu diesel, và nhiên liệu từ thùng chứa đã chảy tràn xuống các hầm tàu bên dưới. Nhiên liệu có thể đã bắt lửa từ một mỏ hàn, rồi lan sang các vách ngăn tạm bằng gỗ. Đám cháy lan tràn nhanh chóng, khiến các lối đi của con tàu hoàn toàn bị ngập khói. Một chỉ huy Hải quân đã nhận xét về thiết kế con tàu trong một cuộc thẩm vấn, "Những con tàu trong lớp này là những cấu trúc phức tạp nhất từng được con người thiết kế."[5]

Lính chữa cháy đã phải mất đến 17 giờ để dập tắt hoàn toàn cuộc hỏa hoạn, tuy nhiên 50 công nhân của xưởng tàu đã thiệt mạng.[5] Những hư hại vật chất đã khiến tốn kém 75 triệu Đô la để sửa chữa, và trì hoãn việc hoàn tất con tàu thêm bảy tháng, đưa đến những lời đồn đại rằng con tàu bị cháy tại New York là chiếc Kitty Hawk (CV-63), và trận hỏa hoạn đã khiến Hải quân phải hoán đổi tên và số hiệu lườn tàu giữa hai con tàu chị em, vốn đang được đóng cùng lúc ở những xưởng tàu khác nhau thuộc tiểu bang khác.[6] Một bản tin ngắn trên báo New York Times phát hành một ngày sau vụ hỏa hoạn, 20 tháng 12, đã gọi tên con tàu là USS Constellation.[7]

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

Thập niên 1960Sửa đổi

Một cuộc hỏa hoạn khác lại xảy ra bên trên Constellation vào ngày 7 tháng 11 năm 1961, trong khi con tàu đang được chạy thử nghiệm ngoài biển, khiến bốn người thiệt mạng và làm bị thương chín người khác.[8]

Sau khi hoàn tất việc trang bị và thử máy nghiệm thu, Constellation rời cảng nhà Norfolk, Virginia vào ngày 7 tháng 2 năm 1962 để tiến hành những hoạt động không quân đầu tiên tại vùng biển ngoài khơi Virginia Capes. Nó thực hiện cú phóng máy bay bằng máy phóng và hạ cánh với cáp hãm cùng ngày hôm đó, thực hiện bởi Trung tá Hải quân George C. Watkins, chỉ huy Liên đội Tàu sân bay 13 (CVG-13), lái một chiếc A4D-2 Skyhawk thuộc Phi đội Cường kích 34. Sau một tháng hoạt động tại chỗ, nó lên đường cho một chuyến đi chạy thử máy huấn luyện tại vùng biển Caribe.[3]

Vào mùa Hè năm 1962, Constellation được điều động sang Hạm đội Thái Bình Dương, và Liên đội CVG-13 tách khỏi con tàu. Nó đón lên tàu các đơn vị của Liên đội Tàu sân bay 5 (CVG-5) tại Mayport, Florida trước khi khởi hành vào ngày 25 tháng 7 cho chuyến đi kéo dài hai tháng vòng qua mũi Horn để đi đến cảng nhà mới San Diego, California. Đến tháng 11, với Liên đội Tàu sân bay 14 (CVG-14) trên tàu, nó thực tập và huấn luyện nhằm chuẩn bị cho lượt biệt phái đầu tiên sang khu vực Tây Thái Bình Dương trong thành phần Đệ Thất hạm đội. Chuyến đi bình yên này kéo dài từ tháng 2 đến tháng 9 năm 1963.[3]

Đợt bố trí thứ hai của Constellation bắt đầu từ ngày 5 tháng 5 năm 1964. Nó thay phiên cho tàu sân bay chị em Kitty Hawk (CV-63) để tuần tra trong vịnh Bắc Bộ ngoài khơi Việt Nam vào ngày 8 tháng 6, nhận lên tàu Phi đoàn Tàu sân bay 14 (CVW 14)[Note 1] và thực hiện các phi vụ trinh sát hình ảnh bên trên không phận Lào cho đến ngày 13 tháng 7. Sau một giai đoạn bảo trì tại Căn cứ Hải quân vịnh Subic, Philippines, nó lên đường viếng thăm cảng Hong Kong vào ngày 27 tháng 7. Tuy nhiên những diễn biến trong sự kiện vịnh Bắc Bộ vào các ngày 24 tháng 8 buộc nó phải cắt ngắn chuyến viếng thăm và quay trở lại hoạt động.[3]

 
USS Constellation trong lượt phục vụ tại Viễn Đông 1964–1965.

Constellation lên đường quay trở lại vịnh Bắc Bộ, và đến ngày 4 tháng 8 đã tung ra những máy bay F-4B Phantom II, phối hợp cùng những chiếc xuất phát từ tàu sân bay Ticonderoga (CV-14), để bảo vệ trên không cho các tàu khu trục; nội các của Tổng thống Lyndon Baines Johnson đã lấy cớ bị các tàu phóng lôi Bắc Việt Nam tấn công để có dịp leo thang trong sự xung đột này. Vào ngày 5 tháng 8, hai chiếc tàu sân bay đã thực hiện Chiến dịch Pierce Arrow, một loạt các cuộc không kích xuống kho xăng dầu và tàu hải quân của Bắc Việt Nam. Phi đoàn CVW-14 bị mất hai máy bay, một chiếc A-1 Skyraider của Trung úy Hải quân Richard C. Sather, người đã tử trận; và một chiếc A-4 Skyhawk của Trung úy Hải quân Everett Alvarez, Jr., người trở thành tù binh chiến tranh Hoa Kỳ đầu tiên trong cuộc Chiến tranh Việt Nam.[9] Các hoạt động dần dần quay trở lại nhịp điệu thường lệ cho đến hết thời gian còn lại của lượt hoạt động, và con tàu quay trở về San Diego vào ngày 1 tháng 2 năm 1965, kết thúc đợt biệt phái kéo dài chín tháng. Thành tích phục vụ trong lượt này được ghi nhận bằng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Hải quân cho Constellation và Phi đoàn CVW-14.[3]

Constellation sau đó trải qua một giai đoạn đại tu kéo dài tám tháng trong xưởng tàu, rồi chuẩn bị cho lượt hoạt động tiếp theo, lần đầu tiên trong môi trường chiến tranh. Phi đoàn Tàu sân bay 15 (CVW-15) được phối thuộc trên tàu trước khi nó lên đường đi sang Việt Nam vào tháng 5 năm 1966. Trong suốt 111 ngày trực chiến tại Trạm Yankee trong vịnh Bắc Bộ, máy bay của nó đã đánh phá các tuyến đường tiếp vận cùng những mục tiêu khác để ngăn chặn việc vận chuyển nhân sự và vũ khí, tiếp liệu vào miền Nam. Vào ngày 13 tháng 7, chiếc F-4B Phantom II thuộc Phi đội Tiêm kích 161 (VF-161) do Đại úy Hải quân William M. McGunigan và Trung úy Hải quân Robert M. Fowler điều khiển đã bắn rơi một máy bay phản lực MiG-17, đánh dấu chiếc MiG đối phương đầu tiên bị bắn rơi trong cuộc chiến tranh. Sau bảy tháng hoạt động, nó quay trở về San Diego vào tháng 12, bị mất 16 thành viên đội bay và 15 máy bay. Cả Constellation lẫn Phi đoàn CVW-15 đều được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Hải quân trong đợt này.[3]

 
Sơ đồ mạn phải USS Constellation, khoảng năm 1999

Sau một giai đoạn nghỉ ngơi và bảo trì, Constellation cùng Phi đoàn Tàu sân bay 14 (CVW-14) được điều sang vùng chiến sự vào tháng 4, 1967. Nó thoạt tiên hoạt động tại Trạm Dixie, một khu vực tuần tra cách ngoài khơi Nam Việt Nam khoảng 60 dặm (97 km), và tung ra các cuộc không kích xuống vùng Tam giác sắt, trước khi di chuyển đến Trạm Yankee, một khu vực tuần tra khác cách ngoài khơi Bắc Việt Nam khoảng 50 dặm (80 km); trải qua tổng cộng 121 ngày hoạt động. Những chiếc F-4B Phantom II thuộc các phi đội tiêm kích VF-142 và VF-143 đã bắn rơi bốn máy bay MiG đối phương trong không chiến. Lượt phục vụ kéo dài tám tháng kết thúc vào tháng 12, CVW-14 chịu tổn thất 16 máy bay và 20 phi công, trong đó bảy người tử trận và tám người bị bắt làm tù binh. Cả Constellation lẫn Phi đoàn CVW-14 đều được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Hải quân trong đợt này.[3]

Constellation bắt đầu lượt bố trí thứ tư tại khu vực Tây Thái Bình Dương và Việt Nam vào ngày 29 tháng 5, 1968. Trong đợt này nó cùng Phi đoàn CVW-14 chỉ hoạt động giới hạn bên dưới vĩ tuyến 20 tại Bắc Việt Nam, sau một chỉ thị của Tổng thống vào tháng 3. Đến ngày 1 tháng 11, theo mệnh lệnh của Tổng thống Johnson, mọi hoạt động ném bom xuống miền Bắc Việt Nam được chấm dứt lúc 21 giờ 00 giờ Sài Gòn. Phi vụ cuối cùng được chiếc tàu sân bay nhắm vào khu vực giới hạn do Trung tá Hải quân Kenneth E. Enney lái một máy bay cường kích A-7 Corsair II thực hiện. Con tàu quay trở về cảng nhà vào ngày 31 tháng 1, 1969 sau khi thực hiện hơn 11.000 phi vụ chiến đấu và hỗ trợ, ném khoảng 20.000 tấn bom đạn. CVW-14 bị mất mười lăm máy bay, trong đó chín chiếc do hoạt động của đối phương; có sáu phi công tử trận và ba người bị bắt làm tù binh.[3]

Constellation trở lại Việt Nam vào tháng 8, 1969 cho một lượt phục vụ thứ năm, tiếp tục hoạt động cùng Phi đoàn CVW-14. Sau một giai đoạn ban đầu kéo dài 20 ngày hỗ trợ các hoạt động tác chiến tại Nam Việt Nam và Lào, nó lên đường đi sang Trạm phòng thủ tại vùng biển Nhật Bản, được hình thành sau khi xảy ra vụ bắt giữ tàu gián điệp USS Pueblo (AGER-2). Vào ngày 2 tháng 10, một máy bay trực thăng chuẩn bị hạ cánh xuống con tàu bị hỏng cánh quạt đuôi và rơi xuống biển, khiến chín người mất tích và không bao giờ tìm thấy. Chiếc tàu sân bay quay trở lại Trạm Yankee vào ngày 1 tháng 11, đồng thời cũng đánh dấu một cột mốc mới, khi một chiếc F-4J do Trung tá Hải quân R. K. Billings và Trung úy Hải quân Jeff Taylor thuộc Phi đội Tiêm kích VF-143 điều khiển đã hạ cánh lần thứ 100.000 trên con tàu. Trong một phi vụ vào ngày 28 tháng 3, 1970, một chiếc F-4 do các trung úy Jerome E. Beaulier và Steven J. Barkley điều khiển đã bắn rơi một máy bay MiG-21 đối phương. Lượt hoạt động kéo dài chín tháng với tổng cộng 128 ngày hoạt động hoàn tất vào tháng 5. CVW-14 bị tổn thất bảy máy bay, trong đó năm chiếc do hoạt động của đối phương; một thành viên đội bay bị bắt làm tù binh, nhưng không có ai tử trận.[3]

Thập niên 1970Sửa đổi

Sau khi quay trở về Hoa Kỳ, trải qua một đợt đại tu kéo dài chín tháng trong ụ tàu, chỉ là lượt đại tu thứ hai kể từ khi nhập biên chế. Sang mùa Xuân năm 1971, nó được phối thuộc Không đoàn Tàu sân bay CVW-9, và rời San Diego vào ngày 1 tháng 10 cho một lượt phục vụ khác trong Chiến tranh Việt Nam. Nó thực hiện những phi vụ ném bom các tuyến đường tiếp vận quân sự tại Lào cùng các phi vụ trinh sát tại miền Bắc Việt Nam, kéo dài sang năm 1972. Vào ngày 19 tháng 1, đội bay chiếc F-4 Phantom thuộc Phi đội Tiêm kích VF-96 do Đại úy Randall H. "Duke" Cunningham và Trung úy William P. Driscoll điều khiển đã bắn rơi một chiếc MiG-21, lần đầu tiên cho một máy bay Hải quân kể từ chiếc công của Phi đội VF-142 vào ngày 28 tháng 3, 1970. Chiếc tàu sân bay đã gần cuối kế hoạch bố trí hoạt động, khi lượt hoạt động bất ngờ bị kéo dài do cuộc tổng tấn công của quân đội chủ lực Bắc Việt Nam vào mùa Xuân năm 1972.[3]

 
Constellation trên đường đi ngoài khơi Việt Nam, 1971–72.

Các hoạt động không kích hỗ trợ lực lượng trên bộ vào giai đoạn đầu được tiếp nối bởi các đợt ném bom cường độ cao xuống các mục tiêu tại Bắc Việt Nam. Vào ngày 8 tháng 5, 1972, Cunningham và Driscoll thuộc Phi đội VF-96 tiếp tục ghi thêm một chiến công bắn rơi một chiếc MiG-17; rồi sang ngày 10 tháng 5, Cunningham và Driscoll lại bắn rơi thêm ba chiếc MiG-17, trở thành những phi công Ách đầu tiên trong Chiến tranh Việt Nam. Thêm ba chiếc MiG-17 nữa bị các đội bay của VF-96 bắn rơi: hai chiếc bởi các đại úy Michael J. Connelly và Thomas J. Blonski cùng một chiếc bởi Đại úy Steven C. Shoemaker và Trung úy Keith V. Crenshaw. Phi đội Tiêm kích VF-92 góp công vào bảng thành tích khi Đại úy Curt Dose và Thiếu tá James McDevitt bắn rơi một chiếc MiG-21. Tổng cộng phi công của Constellation đã bắn rơi bảy chiếc MiG chỉ trong ngày 10 tháng 5. Đợt hoạt động kết thúc vào ngày 1 tháng 7 sau khi chiếc tàu sân bay trải qua 154 ngày ngoài khơi bờ biển Việt Nam; nó bị mất bảy máy bay, hai thành viên đội bay tử trận và hai bị bắt làm tù binh. Constellation cùng Không đoàn CVW-9 phối thuộc được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Tuyên dương Tổng thống do thành tích trong đợt hoạt động này. [3]

Phản kháng của thủy thủ da màuSửa đổi

Vào cuối năm 1972, Constellation trở thành tâm điểm chú ý của giới truyền thông khi những thành viên da màu của thủy thủ đoàn phản kháng về điều mà họ coi là sự phân biệt đối xử của Hải quân, đưa đến những sự kiện mà nhiều người xem là một cuộc binh biến. Con tàu quay trở về Hoa Kỳ vào 1 tháng 7, và chuẩn bị để được phái sang Tây Thái Bình Dương vào đầu năm 1973, và những bổ sung và thay thế về nhân sự diễn ra khi nó ở lại Hoa Kỳ cho đến khi nó có nhiều hơn 250 người so với số chỗ ở tối đa có được của con tàu. Chỉ huy con tàu đã ra lệnh thải hồi (kém hơn việc giải ngũ thông thường) năm thủy thủ đa đen mà ông cho là những người hay gây rối, đồng thời vạch kế hoạch tiếp tục cho giải ngũ sớm thêm 250 người khác vốn sẽ hết hạn phục vụ khi con tàu đang hoạt động ở nước ngoài. Đang khi chiếc tàu sân bay tiến hành tập trận ngoài khơi bờ biển California, có tin đồn lan truyền rằng Hạm trưởng sẽ ra lệnh thải hồi 250 thủy thủ da màu. Vào ngày 1 tháng 11, các thủy thủ da đen đã phục kích tại hành lang và đánh một đầu bếp da trắng vỡ xương hàm. Hạm trưởng ra lệnh mở một cuộc họp lúc 21 giờ 00 ngày 3 tháng 11 để công bố kế hoạch giải ngũ của 250 người. Nhưng vào trưa ngày 3 tháng 11, một nhóm 50 thủy thủ da màu đã biểu tình ngồi tại phòng ăn, và đến đêm 3-4 tháng 11, khoảng 60 thủy thủ da màu đã chiếm quyền cuộc họp, từ chối không rời phòng ăn và đe dọa “sẽ làm nổ tung con tàu.” [10][11]

Constellation quay trở về San Diego vào ngày 4 tháng 11 để đưa 130 người rời tàu, bao gồm 12 thủy thủ da trắng, trước khi trở ra khơi tiếp tục cuộc tập trận, và quay trở lại cảng vào ngày 7 tháng 11. Những thủy thủ bị buộc phải rời tàu được đưa trở lại bến tàu vào ngày 9 tháng 11, nhưng chỉ có tám người lên tàu; những người còn lại ngồi trên bến tàu trước các máy quay của các hãng truyền hình và cuối cùng được đưa trở lại trại binh trên bờ và thẩm vấn tại tòa án quân sự. Mười hai người được giải ngũ thông thường, 35 người được cho giải ngũ nhưng không được phép đăng ký tái ngũ, 73 người khác chịu đựng những hình phạt khác nhau bao gồm hạ bậc lương, hạ cấp bậc và cảnh cáo trước khi tiếp tục được nhận nhiệm vụ trên biển. [10][11]

Kết thúc Chiến tranh Việt NamSửa đổi

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Các liên đội tàu sân bay được đổi tên thành phi đoàn từ ngày 20 tháng 12 năm 1963

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g “Constellation (CV-64)”. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ Benjamin, Philip (15 tháng 9 năm 1957). “Keel of Carrier Constellation Laid; NAVY LAYS KEEL OF HUGE CARRIER To Be Longest in World Leahy Heads Group”. The New York Times. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h i Constellation III (CV-64). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2020. 
  4. ^ a ă Terzibaschitsch, Stefan (1989). Aircraft carriers of the U.S. Navy (ấn bản 2). Annapolis, Md.: Naval Institute Press. tr. 262–267. ISBN 0-87021-001-7. 
  5. ^ a ă â Haberman, Clyde (21 tháng 12 năm 2010). “Recalling a Brooklyn Disaster Otherwise Forgotten”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 12 năm 2010. 
  6. ^ Polmar 2005, tr. 122
  7. ^ Baldwin, Hanson (20 tháng 12 năm 1960). “YARD WORK MAKES SHIP DEFENSELESS; Repairs or Construction, as on Constellation, Puts Vessel in Peril”. The New York Times. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2011. 
  8. ^ “4 on Constellation Killed in New Fire During Test at Sea; 4 KILLED IN BLAZE ON CONSTELLATION Supercarrier Again Has Fatal Fire”. The New York Times. 7 tháng 11 năm 1961. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018. 
  9. ^ Moise 1996, tr. 219-220
  10. ^ a ă Ryan, Paul B., Captain, USN (tháng 1 năm 1976). “USS Constellation Flare-up: Was it Mutiny?”. United States Naval Institute Proceedings. tr. 46–52. 
  11. ^ a ă Guttridge, Leonard F. (2006). “19”. Mutiny: A History of Naval Insurrection . Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 9781591143482. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015. 

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi