USS Forrestal (CV-59)

USS Forrestal (CV-59) (sau đó là CVA-59, rồi AVT-59), là một siêu hàng không mẫu hạm được đặt tên theo James Forrestal (1898-1949) Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên của Hoa Kỳ. Nhập biên chế năm 1955, nó là chiếc siêu hàng không mẫu hạm đầu tiên được hoàn tất, và là chiếc dẫn đầu của lớp tàu sân bay mang tên nó, vốn còn bao gồm USS Saratoga, USS RangerUSS Independence. Không giống như lớp Nimitz tiếp nối, Forrestal và những chiếc cùng lớp có hệ thống động lực chạy bằng năng lượng thông thường. Nó vượt qua chiếc tàu sân bay Nhật Shinano thời Thế Chiến II như là chiếc tàu sân bay lớn nhất từng được chế tạo, và là chiếc đầu tiên được thiết kế để hỗ trợ cho thế hệ máy bay phản lực.

USS Forrestal (CVA-59) underway at sea on 31 May 1962 (KN-4507).jpg
Tàu sân bay USS Forrestal (CVA-59) trên đường đi, 31 tháng 5 năm 1962
Lịch sử
Hoa Kỳ
Tên gọi USS Forrestal (CVA-59)
Đặt tên theo James Forrestal
Đặt hàng 12 tháng 7 năm 1951
Hãng đóng tàu Newport News Shipbuilding
Kinh phí 217 triệu Đô la Mỹ[1]
Đặt lườn 14 tháng 7 năm 1952
Hạ thủy 11 tháng 12 năm 1954
Trưng dụng 29 tháng 9 năm 1955
Nhập biên chế 1 tháng 10 năm 1955
Xuất biên chế 11 tháng 9 năm 1993
Xếp lớp lại CVA-59 thành CV-59, 30 tháng 6 năm 1975
Xóa đăng bạ 11 tháng 9 năm 1993
Số tàu
  • Radio Call Sign:
  • November–Juliet–Victor–Foxtrot[2]
Khẩu hiệu First in Defense
Biệt danh list error: <br /> list (help)
Forest Fire;
Firestal;
Zippo;
Fidelity Integrity Dignity)[3]
Số phận Tháo dỡ, 2015
Đặc điểm khái quát [4]
Lớp và kiểu Lớp tàu sân bay Forrestal
Trọng tải choán nước list error: <br /> list (help)
60.000 tấn (59.000 tấn Anh) (tiêu chuẩn);
80.643 tấn (79.369 tấn Anh) (đầy tải)
Độ dài list error: <br /> list (help)
990 ft (300 m) (mực nước);
1.070 ft (330 m) (chung)
Sườn ngang list error: <br /> list (help)
129 ft 4 in (39,42 m) (mực nước);
249 ft 6 in (76,05 m) (sàn đáp)
Mớn nước 35 ft 9 in (10,90 m)
Động cơ đẩy list error: <br /> list (help)
4 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;
4 × trục;
8 × nồi hơi Babcock & Wilcox;br/>công suất 280.000 shp (210 MW)
Tốc độ 34 hải lý trên giờ (63 km/h)
Tầm xa list error: <br /> list (help)
8.000 hải lý (15.000 km) ở tốc độ 20 hải lý trên giờ (37 km/h);
4.000 hải lý (7.400 km) ở tốc độ 30 hải lý trên giờ (56 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ
3.126 (con tàu) + 2.089 (không đoàn) + 70 (soái hạm) + 70 (thủy quân lục chiến)
Hệ thống cảm biến
và xử lý
list error: <br /> list (help)
radar đối không 3D AN/SPS-48C;
radar đối không 2D AN/SPS-49(V5);
radar đối biển AN/SPS-67(V1);
radar đạo hàng AN/SPS-64;
radar điều khiển hỏa lực tên lửa đối không Mk 91
Tác chiến điện tử
và nghi trang
list error: <br /> list (help)
AN/SLQ-29;
ống phóng rocket mồi bẫy Mark 36 SRBOC
Vũ trang list error: <br /> list (help)
Ban đầu: 8 × pháo 5 in (130 mm)/54 caliber Mark 42;
Tái trang bị: 3 × dàn phóng tên lửa 8 nòng Sea Sparrow Mark 29;
3 × pháo Phalanx CIWS 20 mm Mark 15 guns
Bọc giáp sàn đáp: 3 in (76 mm)
Máy bay mang theo 70 - 90 × máy bay: 14 × F-14 Tomcat, 36 × F/A-18 Hornet, 4 × EA-6B Prowler, 4 × E-2C Hawkeye, 8 × S-3/ES-3 Viking, 3 × SH-60F Seahawk, 2 × HH-60 Seahawk
Thiết bị bay sàn đáp kích thước 326 m × 77 m (1.070 ft × 253 ft)

Con tàu được gọi theo cách thân mật "The FID", vì nó đặt theo tên vị Bộ trưởng Quốc phòng đầu tiên (FID viết tắt cho "First In Defense"); đây cũng là khẩu hiệu con tàu và được in trên phù hiệu con tàu. Nó còn có các tên lóng "USS Zippo" và "Forest Fire" hoặc "Firestal" do nhiều tai nạn hỏa hoạn từng xảy ra, mà nổi bật là sự cố hỏa hoạn năm 1967 vốn đã khiến 134 thủy thủ thiệt mạng và 161 người khác bị thương.

Forrestal đã phục vụ trong gần bốn thập niên tại Đại Tây Dương, Địa Trung HảiThái Bình Dương, rồi xuất biên chế vào năm 1993. Những nỗ lực gây quỹ nhằm bảo tồn con tàu như một tàu bảo tàng đã không thành công, và đến tháng 2 năm 2014 nó được kéo đến Brownsville, Texas để tháo dỡ. Việc tháo dỡ hoàn tất vào tháng 12 năm 2015.

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

 
Forrestal đang chạy thử máy ngoài biển, 29 tháng 9 năm 1955

Forrestal được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding vào ngày 14 tháng 7 năm 1952.[5] Đang khi chế tạo, thiết kế của nó được sửa đổi nhiều lần; cầu tàu nâng lên và hạ xuống được, một thiết kế có nguồn gốc từ dự án tàu sân bay United States (CVA-58) bị hủy bỏ, được thay bằng một đảo cấu trúc thượng tầng thông thường, và sàn đáp được cải biến thành dạng chéo góc và có máy phóng máy bay vận hành bằng hơi nước, những cải tiến dựa trên sáng kiến của Hải quân Hoàng gia Anh.[6] Nó được hạ thủy vào ngày 11 tháng 12 năm 1954 và nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 1 tháng 10 năm 1955.[7]

Đặc tính thiết kếSửa đổi

Forrestal là tàu sân bay Hoa Kỳ đầu tiên được chế tạo với một sàn đáp chéo góc, máy phóng hơi nước và một hệ thống hỗ trợ hạ cánh quang học, thay vì được bổ sung thêm sau khi đã hạ thủy.[8]

Thiết kế nguyên thủy, vốn lấy từ dự án tàu sân bay United States bị hủy bỏ, có tính năng đảo cấu trúc thượng tầng được hạ xuống bên dưới hầm tàu khi hoạt động không lực, nhưng được xem là quá phức tạp. Một giải pháp khác được xem xét là hai cột ăn-ten sẽ được hạ nghiêng xuống nhằm cho phép con tàu sân bay băng qua bên dưới cầu Brooklyn. Cột ăn-ten chính sẽ hạ nghiêng sang mạn và nằm trên sàn tàu, còn cột ăn-ten phụ sẽ hạ xuống phía đuôi tàu.[9]

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

1956 - 1962Sửa đổi

 
Forrestal vào năm 1955, không lâu sau khi nhập biên chế

Hoạt động từ cảng nhà tại Norfolk, Virginia, Forrestal trải qua năm đầu tiên cho các nhiệm vụ huấn luyện tại vùng biển ngoài khơi Virginia Capes và vùng biển Caribe; một nhiệm vụ quan trọng là huấn luyện các phi công sử dụng những thiết bị mới tiên tiến của nó. Trong giai đoạn này nó thường hoạt động tại vùng biển ngoài khơi Mayport, Florida, và vào ngày 7 tháng 11, 1956 đã khởi hành từ cho chuyến vượt Đại Tây Dương đầu tiên vào thời điểm đang diễn ra vụ Khủng hoảng kênh đào Suez; nó hoạt động tại phía Đông Đại Tây Dương, sẵn sàng tiến vào Địa Trung Hải nếu cần thiết. Con tàu quay trở về Norfolk vào ngày 12 tháng 12, và chuẩn bị tiếp liệu để khởi hành vào ngày 15 tháng 1, 1957 cho một lượt biệt phái sang hoạt động cùng Đệ lục Hạm đội tại Địa Trung Hải.[10]

Giống như những chuyến biệt phái sau này sang Địa Trung Hải, Forrestal viếng thăm nhiều cảng để “biểu dương lực lượng” đồng thời tiếp đón lên tàu những quan chức quan trọng và công chúng viếng thăm. Đối với các giới chức quân sự, nó phô diễn khả năng mang sức mạnh không quân ra biển trong các cuộc tập trận quân sự. Con tàu quay trở về Norfolk vào ngày 22 tháng 7, 1957, và tiến hành thực tập ngoài khơi bờ biển North Carolina để chuẩn bị cho việc tham gia cuộc tập trận chung đầu tiên cùng với Khối NATO, Chiến dịch Strikeback tổ chức tại Bắc Hải. Hoạt động kéo dài từ ngày 3 tháng 9 đến ngày 22 tháng 10 này cũng đã đưa con tàu viếng thăm Southampton, Anh Quốc, đồng thời cũng là dịp thực hành việc phối hợp hoạt động chung giữa Hải quân Hoa Kỳ với các nước thành viên NATO.[10]

Trong năm tiếp theo, Forrestal tiếp tục tham gia nhiều cuộc tập trận quân sự quan trọng và các hoạt động không quân thử nghiệm. Trong cuộc Khủng hoảng Lebanon vào mùa Hè 1958, chiếc tàu sân bay lại được huy động sang khu vực Đông Đại Tây Dương, sẵn sàng hỗ trợ các chiến dịch hải quân trong Địa Trung Hải. Nó khởi hành từ Norfolk vào ngày 11 tháng 7, đón lên tàu một phi đoàn không lực tại Mayport hai ngày sau đó, rồi tuần tra trong Đại Tây Dương cho đến khi quay trở về Norfolk vào ngày 17 tháng 7.[10]

 
Forrestal tại Địa Trung Hải, 1957, trong lượt biệt phái hoạt động đầu tiên cùng Đệ lục Hạm đội.

Trong lượt phục vụ thứ hai tại Địa Trung Hải từ ngày 2 tháng 9, 1958 đến ngày 12 tháng 3, 1959, Forrestal lại kết hợp một chương trình huấn luyện, tuần tra, và tham gia các cuộc tập trận lớn với các hoạt động viếng thăm xã giao, thiện chí hay phô trương lực lượng; danh sách những vị khách mời đặc biệt trong chuyến đi này do Bộ trưởng Quốc phòng Neil McElroy dẫn đầu. Sau khi quay trở về Norfolk, nó lại tiếp tục nhiệm vụ không ngừng nghỉ để đào tạo phi công mới, duy trì liên tục khả năng sẵn sàng chiến đấu để có thể phản ứng ngay lập tức mọi yêu cầu do tình hình thế giới đòi hỏi. Một vị khách đặc biệt viếng thăm con tàu trong năm này là Vua Hussein của Jordan.[10]

 
Một chiếc Fairey Gannet thuộc Liên đội Không lực Hải quân 849 Hải quân Anh bên trên Forrestal, 1962
 
Một chiếc RF-8A và một cặp F-8C Crusader đang bay ngang qua Forrestal trong chuyến đi Địa Trung Hải 1962–1963

Forrestal lại được biệt phái sang hoạt động cùng Đệ lục Hạm đội từ ngày 28 tháng 1 đến ngày 31 tháng 8, 1960, viếng thăm các cảng thường lệ tại Địa Trung Hải cũng như đến Split, Croatia (lúc đó là một phần của Nam Tư). Con tàu đã mở cửa cho khách tham quan, đồng thời tham gia vào lịch trình tuần tra và huấn luyện thường lệ của Đệ lục Hạm đội. Chiếc tàu sân bay lại hoàn tất một lượt bố trí khác cùng Đệ lục Hạm đội từ tháng 1 đến tháng 8, 1961 trước khi đi vào Xưởng hải quân Norfolk để sửa chữa, khi bộ sáu dây cáp hãm hạ cánh được thay thế bằng hệ thống bốn cáp, lấy chỗ trống có được làm chỗ nghỉ của thủy thủ đoàn, và hộ thống gương sàn đáp hỗ trợ hạ cánh bên phải được thay thế bằng thấu kính Fresnel cố định tại lối đi bên mạn trái, cùng những nâng cấp khác.[10]

Rời xưởng tàu, Forrestal thực hiện chuyến đi chạy thử máy tại vùng biển vịnh Guantánamo, Cuba vào tháng 1, 1962, rồi viếng thăm các cảng Port-au-Prince, HaitiPort of Spain, Trinidad. Sau đó nó đóng vai trò tàu sân bay phòng thủ trong một cuộc thực tập đổ bộ tại đảo Vieques, Puerto Rico, cuộc tập trận hải quân với lực lượng được huy động lớn nhất kể từ cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Phó tổng thống Lyndon B. Johnson đã có mặt trên chiếc Forrestal, và Tổng thống John F. Kennedy trên tàu sân bay Enterprise (CVN-65) để trực tiếp thị sát cuộc tập trận, cũng như sự hiện diện của nhiều đại sứ, tùy viên quân sự và quan chức ngoại giao các nước khác, để theo dõi cuộc phô diễn sức mạnh không lực hải quân ngoài khơi Virginia Capes vào tháng 6, 1962.[10]

Từ ngày 3 tháng 8, 1962 đến ngày 2 tháng 3, 1963, Forrestal được bố trí sang Địa Trung Hải trong vai trò soái hạm của Tư lệnh Đội tàu sân bay 4, và cùng với Enterprise tham gia các cuộc tập trận của Khối NATO tại Đại Tây Dương và Địa Trung Hải, phối hợp cùng các tàu sân bay của Anh và Pháp. Việc thực tập cất hạ cánh trao đổi được tiến hành với tàu sân bay Hải quân Anh HMS Ark Royal.[10]

1963 - 1967Sửa đổi

 
Một chiếc C-130 Hercules trên sàn đáp Forrestal, tháng 10, 1963.

Forrestal đã ghi dấu trong lịch sử, khi vào các ngày 8, 2122 tháng 11, 1963, Đại úy Hải quân James H. Flatley III và đội bay của ông thực hiện 21 lần hạ và cất cánh một máy bay vận tải C-130 Hercules trên sàn đáp chiếc tàu sân bay. Cuộc thử nghiệm được thực hiện tại vùng biển Bắc Đại Tây Dương cách bờ biển Massachusetts 500 nmi (930 km). Forrestal và chiếc C-130 đã lập kỷ lục mới về chiếc máy bay to nhất và nặng nhất từng hạ cánh trên một tàu sân bay. Hải quân đang cố xác định liệu chiếc Hercules to lớn có thể phục vụ trong vai trò máy bay giao nhận tàu sân bay (COD: Carrier Onboard Delivery) hay không. Vấn đề là không có máy bay nào có thể tiếp liệu cho tàu sân bay giữa biển khơi; và Hercules tỏ ra ổn định và tin cậy, có tầm bay xa và tải trọng lớn.[10]

Thử nghiệm thành công hơn mong đợi. Ở trọng lượng 85.000 lb (39.000 kg), chiếc KC-130F dừng hoàn toàn sau 267 ft (81 m) trên sàn đáp; và với tải trọng tối đa nó chỉ sử dụng chiều dài 745 ft (227 m) để cất cánh. Hải quân kết luận, với C-130 Hercules, họ có thể vận chuyển 25.000 lb (11.000 kg) hàng hóa đi xa 2.500 dặm (4.000 km) và đáp xuống một tàu sân bay. Tuy nhiên, ý tưởng này được xem quá mạo hiểm đối với hoạt động giao nhận: chiếc máy bay quá lớn không vừa với thang nâng hay hầm chứa máy bay, làm ảnh hưởng đến hoạt động không quân; vì vậy, chương trình C-2 Greyhound được phát triển và đưa ra sử dụng lần đầu tiên năm 1965. Hải quân đã tặng thưởng cho Đại úy Flatley Huân chương Chữ thập bay Dũng cảm do công lao khi tham gia thử nghiệm này.[10]

Vào năm 1964, Hoa Kỳ đã đứng sau lưng vụ đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Brazil João Goulart vốn có xu hướng xã hội chủ nghĩa thân tả. Tổng thống Lyndon B. Johnson, trong danh nghĩa Chiến dịch “Brother Sam”, đã phái Forrestal cùng bốn tàu chở dầu hỗ trợ đi đến vùng biển ngoài khơi Brazil sẵn sàng can thiệp nếu cần thiết; vụ đảo chính thành công khiến cho Brazil trải qua một giai đoạn 20 năm dưới chế độ cai trị độc tài của giới quân sự. Đến tháng 3, 1966, nó cùng các đơn vị khác của Đệ Lục hạm đội hỗ trợ cho các hoạt động tìm kiếm và khắc phục hậu quả sau tai nạn của một chiếc B-52 Stratofortress tại Palomares, Tây Ban Nha. Chiếc máy bay ném bom chiến lược mang theo bốn quả bom nhiệt hạch Mark 28 đã va chạm với một máy bay tiếp dầu trên không KC-135 Stratotanker khiến cả hai bị rơi, và vật liệu phóng xạ rơi vải làm ô nhiễm một vùng rộng trên đất liền.[10][11]

Hỏa hoạn 1967Sửa đổi

 
Tàu khu trục Rupertus (DD-851) đang trợ giúp chữa cháy cho Forrestal

Vào tháng 6, 1967, Forrestal khởi hành từ Norfolk để làm nhiệm vụ tại vùng biển ngoài khơi Việt Nam, và tại vịnh Bắc Bộ trong vòng bốn ngày, máy bay thuộc Không đoàn Cường kích Tàu sân bay 17 (CVAG-17) đã tung ra khoảng 150 phi vụ xuống các mục tiêu đối phương tại Bắc Việt Nam. Vào ngày 29 tháng 7, đang khi chuẩn bị cho lượt tấn công khác, một quả rocket Zuni gắn trên một máy bay tiêm kích F-4 Phantom II đã bị kích hoạt do sốc điện và bắn trúng phía hông bên trái một máy bay cường kích A-4 Skyhawk.[12] Vụ nổ làm vỡ thùng nhiên liệu 400-gallon gắn ngoài của chiếc Skyhawk, bắt lửa số nhiên liệu bị tung ra và gây ra hàng loạt vụ nổ và đám cháy khác. Tai nạn đã khiến 134 người thiệt mạng, 161 người bị thương, phá hủy 21 máy bay và tổn thất ước tính 72 triệu Đô-la. Một trong những người bị thương là Thiếu tá Hải quân John McCain, (sẽ trở thành tù binh chiến tranh, nghị sĩ và ứng viên tổng thống tương lai); ông cố thoát khỏi chiếc A-4 của mình đang bốc cháy và tìm cách trợ giúp một phi công khác khi một quả bom kích nổ.[10][13]

1968 - 1975Sửa đổi

 
Forrestal (phía trước) trên đường đi cùng tàu sân bay Anh HMS Ark Royal trong Địa Trung Hải, 1973

Forrestal lên đường quay trở về Hoa Kỳ, cho tách khỏi Không đoàn CVAG-17 phối thuộc tại Mayport, Florida vào ngày 12 tháng 9, 1967, và về đến cảng nhà Norfolk hai ngày sau đó. Việc sửa chữa những hư hại do vụ hỏa hoạn được tiến hành tại Xưởng hải quân Norfolk từ ngày 19 tháng 9, 1967 đến ngày 8 tháng 4, 1968. Từ năm 1968 đến năm 1973, con tàu được phái sang hoạt động ba lượt tại vùng biển Địa Trung Hải. Nó cũng đã từng cấp tốc đi đến Tunisia cho những hoạt động cứu trợ những nạn nhân của vụ ngập lụt vùng thung lũng sông Medjerda gần Tunis.[10]

Vào ngày 10 tháng 7, 1972, đang khi neo đậu tại cảng nhà Norfolk, Forrestal chịu đựng thêm một vụ hỏa hoạn nghiêm trọng khác, lần này do lỗi bất cẩn của một thủy thủ. Đám cháy bùng phát tại phòng máy tính của Trung tâm Thông tin Tác chiến (CIC), phá hủy toàn bộ thiết bị máy tính; hoạt động bơm nước chữa cháy đã khiến con tàu bị nghiêng đến mức có nguy cơ bị lật úp. Ước tính thiệt hại lên đến 7,5 triệu Đô-la, và chiếc tàu sân bay phải trải qua hai tháng sửa chữa tại Xưởng hải quân Norfolk trước khi có thể lên đường để thay phiên cho tàu sân bay John F. Kennedy (CV-67) tại Địa Trung Hải, vốn đã phải kéo dài thời gian của lượt biệt phái trong khi Forrestal được sửa chữa. Con tàu được trang bị máy tính mới, có thể vốn dự định dành cho chiếc Nimitz (CVN-68) lúc đó đang được chế tạo. [10][14]

Forrestal tiếp tục thực hiện thêm ba chuyến đi đến khu vực Địa Trung Hải từ năm 1973 đến năm 1975. Vào tháng 6, 1974, nó gửi 34 thủy thủ và hai sĩ quan đến Pháp, đại diện cho Hải quân Hoa Kỳ nhân kỷ niệm 30 năm cuộc Đổ bộ Normandy; lực lượng này đã tham gia duyệt binh tại Normandie vào ngày 6 tháng 6, 1974 dưới sự tham dự của Thống tướng hồi hưu Omar Bradley, và sau đó tại Cherbourg.[10]

Vào ngày 22 tháng 7, 1974, do sự kiện Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm đảo Cyprus, Đại sứ Hoa Kỳ Roger Davies đã yêu cầu di tản công dân Hoa Kỳ khỏi đảo quốc này. Forrestal đã hỗ trợ trên không cho chiến dịch di tản của Đệ Lục hạm đội, trong khi tàu tấn công đổ bộ Inchon (LPH-12) và các tàu khác đã giúp di tản tổng cộng 752 người, 498 trong số đó là công dân Hoa Kỳ.[10]

1975 - 1980Sửa đổi

 
Đảo cấu trúc thượng tầng của Forrestal, khoảng năm 1989

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Henry B. Comstock (tháng 8 năm 1954). ziADAAAAMBAJ &pg=PA12 “Biggest Ship Ever Built”. Popular Science. tr. 129. 
  2. ^ “Aircraft Carrier Photo Index: USS FORRESTAL (CVA-59)”. Navsource.org. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  3. ^ “USS Forrestal Ship's nickname "FID". Forrestal.org. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  4. ^ Baker 1998, tr. 992.
  5. ^ Polmar 2008, tr. 98
  6. ^ Polmar 2008, tr. 136
  7. ^ Polmar 2008, tr. 474
  8. ^ Hobbs, David (2007). “HMAS Melbourne (II) – 25 Years On”. The Navy – The Magazine of the Navy League of Australia 69 (4): 6. 
  9. ^ “Our Navy's Mightiest Carrier”. Popular Mechanics. Tháng 10 năm 1954. tr. 81–85. 
  10. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m Naval Historical Center. Forrestal (CVA-59). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2019. 
  11. ^ NAVPERS-719 DECK LOG – REMARKS SHEET USS Forrestal CVA-59 dated Tuesday, 15 March 1966, 08–12 watch and 12–16 watch, and obtained from the National Archives and Records Administration in July, 2015.
  12. ^ U.S. Navy Judge Advocate General Investigation Report of USS FORRESTAL Incident
  13. ^ Brown, Robert M. (2011). Tucker, Spencer C., biên tập. The Encyclopedia of the Vietnam War: A Political, Social, and Military History. ABC-CLIO, LLC. ISBN 978-1-8510-9961-0. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  14. ^ Horan, Robert. “U.S.S. Forrestal (CVN-72)”. Disabled American Veterans Florida Chapter #70. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2015. 

Thư mụcSửa đổi

  • Baker, A.D. (1998). The Naval Institute Guide to Combat Fleets of the World 1998–1999: Their Ships, Aircraft and Systems. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-111-4. 
  • Polmar, Norman (2008). Aircraft Carriers: A History of Carrier Aviation and its Influence on World Events, Volume II 1946–2006. Dulles, VA: Potomac Books. ISBN 9781574886658. 
  • Hobbs, Commander David (tháng 10 năm 2007). “HMAS Melbourne (II) – 25 Years On”. The Navy 69 (4): 5–9. 
  • Bài này có các trích dẫn từ nguồn en:Dictionary of American Naval Fighting Ships thuộc phạm vi công cộng.

Đọc thêmSửa đổi

  • Freeman, Gregory A. Sailors to the End: The Deadly Fire on the USS Forrestal and the Heroes Who Fought It. New York: William Morrow, 2002. ISBN 0-06-621267-7, ISBN 0-06-093690-8.
  • Capt Terrence Riley Medical Corps, US Navy. "Ship's Doctor" Annapolis Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-721-X

Liên kết ngoàiSửa đổi