USS Saratoga (CV/CVA/CVB-60) là chiếc thứ hai trong số bốn chiếc siêu hàng không mẫu hạm lớp Forrestal được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong thập niên 1950. Nó là chiếc tàu chiến thứ sáu của Hải quân Mỹ, và là chiếc tàu sân bay thứ hai, được đặt cái tên này, vốn được đặt theo trận Saratoga trong cuộc Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ.

USS Saratoga (CV-60) underway in the Adriatic Sea on 29 July 1992 (6480624).jpg
Tàu sân bay USS Saratoga (CV-60) trên đường đi trong biển Adriatic 29 tháng 7 năm 1992
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Saratoga (CV-60)
Đặt tên theo: Trận Saratoga, USS Saratoga (CV-3)
Đặt hàng: 23 tháng 7 năm 1952
Hãng đóng tàu: New York Naval Shipyard
Kinh phí: 209,7 triệu Đô la Mỹ [1]
Đặt lườn: 16 tháng 12 năm 1952
Hạ thủy: 8 tháng 10 năm 1955
Đỡ đầu bởi: bà Charles S. Thomas
Trưng dụng: 14 tháng 4 năm 1956
Nhập biên chế: 14 tháng 4 năm 1956
Xuất biên chế: 20 tháng 8 năm 1994
Xóa đăng bạ: 20 tháng 8 năm 1994
Biệt danh: Super Sara, Sara, Sexy 60 from Dixie
Tình trạng: Tháo dỡ, 15 tháng 9 năm 2014[2]
Đặc điểm khái quát [3]
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay Forrestal
Trọng tải choán nước: 60.000 tấn (59.000 tấn Anh) (tiêu chuẩn);
80.643 tấn (79.369 tấn Anh) (đầy tải)
Độ dài: 990 ft (300 m) (mực nước);
1.070 ft (330 m) (chung)
Sườn ngang: 129 ft 4 in (39,42 m) (mực nước);
249 ft 6 in (76,05 m) (sàn đáp)
Mớn nước: 35 ft 9 in (10,90 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;
4 × trục;
8 × nồi hơi Babcock & Wilcox;br/>công suất 280.000 shp (210 MW)
Tốc độ: 34 hải lý một giờ (63 km/h)
Tầm xa: 8.000 hải lý (15.000 km) ở tốc độ 20 hải lý một giờ (37 km/h);
4.000 hải lý (7.400 km) ở tốc độ 30 hải lý một giờ (56 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
3.126 (con tàu) + 2.089 (không đoàn) + 70 (soái hạm) + 70 (thủy quân lục chiến)
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
radar đối không 3D AN/SPS-48C;
radar đối không 2D AN/SPS-49(V5);
radar đối biển AN/SPS-67(V1);
radar đạo hàng AN/SPS-64;
radar điều khiển hỏa lực tên lửa đối không Mk 91
Thiết bị chiến đấu điện tử
và nghi trang:
AN/SLQ-29;
ống phóng rocket mồi bẫy Mark 36 SRBOC
Vũ trang: Ban đầu: 8 × pháo 5 in (130 mm)/54 caliber Mark 42;
Tái trang bị: 3 × dàn phóng tên lửa 8 nòng Sea Sparrow Mark 29;
3 × pháo Phalanx CIWS 20 mm Mark 15 guns
Bọc giáp: sàn đáp: 3 in (76 mm)
Máy bay mang theo: 70 - 90 × máy bay: 14 × F-14 Tomcat, 36 × F/A-18 Hornet, 4 × EA-6B Prowler, 4 × E-2C Hawkeye, 8 × S-3/ES-3 Viking, 3 × SH-60F Seahawk, 2 × HH-60 Seahawk
Thiết bị bay: sàn đáp kích thước 326 m × 77 m (1.070 ft × 253 ft)

Nhập biên chế năm 1956, nó trải qua phần lớn quãng đời phục vụ hoạt động tại Địa Trung Hải, nhưng cũng từng tham gia Chiến tranh Việt Nam, được tặng thưởng một Ngôi sao Chiến trận khi phục vụ tại đây. Một trong những hoạt động tác chiến sau cùng của nó là trong Chiến dịch Bão táp Sa mạc tại Iraq năm 1991.

Saratoga được cho xuất biên chế năm 1994, và neo đậu tại căn cứ hải quân ở Newport, Rhode Island. Nhiều nỗ lực được thực hiện nhằm có thể bảo tồn con tàu như một tàu bảo tàng đều bị thất bại, và con tàu được bán cho hãng ESCO Marine tại Brownsville, Texas để tháo dỡ. Nó được kéo đến Brownsville để tháo dỡ từ ngày 15 tháng 9 năm 2014.

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

 
Saratoga trong Xưởng hải quân Brooklyn, tháng 5 năm 1956, một tháng sau khi nhập biên chế

Con tàu được đặt hàng như một “tàu sân bay lớn” mang ký hiệu lườn CVB-60, và hợp đồng chế tạo được trao cho Xưởng hải quân New York tại Brooklyn, New York vào ngày 23 tháng 7 năm 1952, là chiếc thứ hai trong số bố chiếc lớp Forrestal. Nó được xếp lại lớp như một “tàu sân bay tấn công” với ký hiệu lườn CVA-60 vào ngày 1 tháng 10 năm 1952.

Saratoga được đặt lườn vào ngày 16 tháng 12 năm 1952; rồi được hạ thủy vào ngày 8 tháng 10 năm 1955 và được đỡ đầu bởi bà Charles S. Thomas. Nó nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 14 tháng 4 năm 1956 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Đại tá Hải quân Robert Joseph Stroh.[4] Nó là chiếc tàu sân bay đầu tiên của Hải quân Mỹ sử dụng nồi hơi có áp lực cao 1.200 psi (8.300 kPa).

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

Thập niên 1950Sửa đổi

 
Saratoga tại Hampton Roads, Virginia, trong cuộc duyệt binh hải quân quốc tế, 1957.
 
Saratoga trong cuộc tập trận Strikeback của Khối NATO (1957)

Sau khi nhập biên chế, trong nhiều tháng tiếp theo, Saratoga tiến hành một loạt các cuộc thử nghiệm kỹ thuật cơ khí, cấu trúc, vận hành, không quân và tác xạ. Vào ngày 18 tháng 8, 1956, nó lên đường đi vịnh Guantánamo, Cuba để chạy thử máy, rồi quay trở lại Xưởng hải quân New York vào ngày 19 tháng 12, ở lại đây để sửa chữa sau thử máy cho đến ngày 28 tháng 2, 1957. Sau khi hoàn tất công việc trong xưởng tàu, nó lên đường cho một lượt huấn luyện ôn tập tại vùng biển Caribe trước khi đi đến cảng nhà là Mayport, Florida.[4]

Tổng thống Dwight D. Eisenhower cùng các thành viên trong Nội các của ông đã viếng thăm Saratoga vào ngày 6 tháng 6, 1957, thị sát các hoạt động của nó trong hai ngày khi chiếc tàu sân bay cùng mười tám tàu chiến khác thao diễn các hoạt động không quân, chống tàu ngầm, phóng tên lửa điều khiển, và trình diễn kỹ thuật ném bom và bắn phá của máy bay hải quân. Nhân dịp chuyến viếng thăm của Tổng thống này, hai máy bay tiêm kích Vought F-8 Crusader đã thực hiện chuyến bay không dừng nghỉ, cất cánh từ tàu sân bay Bon Homme Richard (CV-31) ngoài khơi bờ Tây Hoa Kỳ, và băng ngang lục địa Hoa Kỳ trong 3 giờ 28 phút để hạ cánh xuống Saratoga tại Đại Tây Dương.[4]

Cũng trong năm 1957, Saratoga đã hai lần tiến hành phóng thử nghiệm tên lửa điều khiển Regulus. Nó là một trong số mười tàu sân bay được cấu trúc để hoạt động kiểu tên lửa động cơ phản lực cận âm có điều khiển này, và là một trong số sáu tàu sân bay từng phóng thử nghiệm tên lửa, cho phép Hải quân Hoa Kỳ lần đầu tiên có khả năng mang vũ khí răn đe hạt nhân chiến lược.[5] Con tàu rời Mayport vào ngày 3 tháng 9 cho chuyến vượt Đại Tây Dương lần đầu tiên, đi đến vùng biển Na Uy để tham gia Chiến dịch Strikeback, cuộc tập trận phối hợp giữa hải quân các nước thành viên Khối NATO. Nó quay trở về Mayport một thời gian ngắn trước khi đi đến Xưởng hải quân Norfolk để sửa chữa.[4]

Saratoga rời Mayport vào ngày 1 tháng 2, 1958 để đi sang Địa Trung Hải, nơi nó lần đầu tiên được biệt phái hoạt động cùng Đệ lục Hạm đội. Từ đó cho hết năm 1967, nó được biệt phái hàng năm sang Địa Trung Hải, tổng cộng tám chuyến đi, để phục vụ cùng Đệ lục Hạm đội. Thời gian xen kẻ giữa các chuyến đi được nó dành cho việc bảo trì trong cảng hay hoạt động ngoài khơi bờ biển Florida.[4]

Thập niên 1960Sửa đổi

 
Saratoga đang đi vào cảng Barcelona, Tây Ban Nha, 12 tháng 2, 1965

Trong đêm 24-25 tháng 5, 1960, Saratoga gặp tai nạn va chạm với tàu chở hàng Đức Bernd Leonhardt ngoài khơi North Carolina. Cầu tàu và cấu trúc thượng tầng chiếc tàu chở hàng bị hư hại bị hư hại bởi sàn đáp của chiếc tàu sân bay.[6][7] Một cuộc điều tra được tiến hành nhưng kết quả không hề được công bố. Dù sao chi phí sửa chữa chiếc tàu chở hàng, khoảng 2,5 triệu Mác Đức, đã được Hải quân Hoa Kỳ chi trả toàn bộ.[8]

Đang khi được biệt phái hoạt động cùng Đệ lục Hạm đội vào ngày 23 tháng 1, 1961, một đám cháy lớn đã bùng phát tại khoang động cơ số hai của Saratoga, khiến bảy thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng.[9] Vốn được cho là đã xảy ra do một đường ống dẫn nhiên liệu bị vỡ, đám cháy được thủy thủ đoàn dập tắt, và con tàu tiếp tục đi đến Athens, Hy Lạp nơi nó được khảo sát những thiệt hại phải chịu đựng. Con tàu tiếp tục làm nhiệm vụ tuần tra với năng lực các nồi hơi nước bị cắt giảm, quay trở về Hoa Kỳ theo đúng lịch trình và chất dỡ các phi đội máy bay khỏi tàu trước khi được sửa chữa.[4]

 
Một máy bay F-4K Phantom thuộc Liên đội Không lực 892 Hải quân Anh chuẩn bị để được phóng lên từ Saratoga, 1969; Liên đội 892 được bố trí huấn luyện cùng Saratoga trước khi chuyển đến tàu sân bay HMS Ark Royal, đang được tái biên chế

Sau một đợt đại tu trong xưởng tàu vào sáu tháng cuối năm 1964, Saratoga lên đường đi Địa Trung Hải, đến nơi ngay trước ngày lễ Giáng Sinh. Trong sáu tháng tiếp theo chiếc tàu sân bay đã viếng thăm các cảng Naples, Ý; Athens; Cannes, Pháp; Valencia, Tây Ban Nha; Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ và Malta. Trong chuyến đi sang Địa Trung Hải tiếp theo từ tháng 6 đến tháng 12, 1967, Saratoga được điều động khẩn cấp đến khu vực Đông Địa Trung Hải sau khi xảy ra cuộc Chiến tranh Sáu Ngày giữa Israel và các nước Ả Rập. Đội y tế của nó đã cứu chữa cho những người sống sót trên chiếc Liberty (AGTR-5), sau khi xảy ra sự kiện quân đội Israel tấn công con tàu do thám ngụy trang này, tưởng nhầm nó là một tàu chiến Ai Cập.[4]

Sau đó Saratoga suýt bị tai nạn va chạm với tàu tuần dương Little Rock, vốn đã cắt ngăng mũi tàu Saratoga trong một hoạt động không quân. Saratoga đã gửi đi một bức điện xác định nó dự định xoay mũi sang mạn phải; việc này không ảnh hưởng đến Little Rock vì chiếc tàu tuần dương đang ở bên mạn trái. Khi chiếc tàu sân bay ra tín hiệu sẽ chuyển hướng, Little Rock gia tăng tốc độ để duy trì vị trí trong đội hình. Bất ngờ, Saratoga lại bẻ lái sang mạn trái, đưa Little Rock cắt ngăng trước mũi nó. May mắn là chỉ có những hư hại nhẹ và không có ai bị thương.[10]

Trong chuyến đi quay trở về vào đầu tháng 12, 1967, Saratoga trải qua nhiều ngày chịu đựng một cơn bão lớn tại Đại Tây Dương, vốn đã gây hư hại nặng cho lối đi cặp bên hông sàn đáp, phểu thu gom rác và bệ nhô chứa xuồng. Nó về đến Mayport vào ngày 6 tháng 12. Sang ngày 2 tháng 1, 1968, nó đi vào Xưởng hải quân Philadelphia, trải qua một lượt đại tu và nâng cấp vốn kéo dài đến 11 tháng. Nó rời Philadelphia vào ngày 31 tháng 1, 1969 để đi vịnh Guantánamo, Cuba ngang qua Hampton Roads và Mayport, nơi nó tiến hành huấn luyện ôn tập cho thủy thủ đoàn và thành viên các liên đội không quân.[4]

Nhân Ngày Lực lượng Vũ trang 17 tháng 5, 1969, Saratoga đón tiếp Tổng thống Richard Nixon nhân cuộc phô diễn lực lượng của Không đoàn Tàu sân bay 3 ngoài khơi khu vực Virginia Capes. Nó khởi hành từ Mayport vào ngày 9 tháng 7 cho lượt bố trí thứ chín sang Địa Trung Hải. Trên đường đi nó tiếp cận ở khoảng cách gần một lực lượng tàu nổi Liên Xô cùng một tàu ngầm lớp November vốn đang trên đường đi sang Cuba. Ngoài khơi quần đảo Azores vào ngày 17 tháng 7, con tàu bị những máy bay Xô Viết xuất phát từ căn cứ Fedotovo theo dõi; chúng bị ngăn chặn, chụp ảnh và hộ tống khi ở khoảng cách gần chiếc tàu sân bay.[4]

Saratoga hoạt động cùng Đội đặc nhiệm 60.2 thuộc Đệ lục Hạm đội tại khu vực Đông Địa Trung Hải vào tháng 9, trong một đợt biểu dương lực lượng nhằm đáp trả lại việc tập trung các đơn vị tàu nổi Xô Viết tại đây, sự kiện không tặc một máy bay của hãng hàng không Trans World Airlines bay đến Syria, và sự kiện đảo chánh tại Libya. Không đoàn Tàu sân bay 3 đã thực hiện nhiều phi vụ điều tra và trinh sát bên trên các đơn vị tàu nổi Xô Viết, bao gồm chiếc tàu chở máy bay trực thăng Moskva, đang hoạt động về phía Tây đảo Crete. Chiếc tàu sân bay lại hoạt động tại khu vực này vào tháng 10 do những biến động chính trị tại Lebanon.[4]

Thập niên 1970Sửa đổi

 
Saratoga trong cảng Mayport, Florida, 1971

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Moore, John, Captain, R.N. biên tập (1995). Jane's American fighting ships of the 20th century. New York: Modern Publishing. ISBN 9781561447206. 
  2. ^ Saratoga (CV-60)”. Naval Vessel Register. Ngày 16 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013. 
  3. ^ Baker 1998, tr. 992.
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g Saratoga (CV-60). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015. 
  5. ^ Snyder, Mike (tháng 1 năm 2013). “The NNWA Historians Report of January 2013”. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ “USS Saratoga (CV 60) – Accidents aboard USS SARATOGA”. Unofficial US Navy Site. 
  7. ^ “U.S. Ship Rams German Vessel”. Advocate (Victoria, Texas). 26 tháng 5 năm 1960. tr. 9 – qua NewspaperArchive.com. 
  8. ^ “Spiegel Online Einestages: Kapitäne erzählen – Frontal in den Flugzeugträger” [Spiegel Online Today: Captain Recounts] (bằng tiếng German). Einestages.spiegel.de. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013. 
  9. ^ “Seven Men Die In Fire Aboard 'The Saratoga'. The Terre Haute Tribune (Terre Haute, IN). AP. 23 tháng 1 năm 1961. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2016 – qua Newspapers.com.   
  10. ^ “Accidents, Collisions, and Underway Hazards”. USS Littlerock Association. 5 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015. 

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi