Mở trình đơn chính

USS John F. Kennedy (CVA-67/CV-67) là một siêu hàng không mẫu hạm, chiếc duy nhất trong phân lớp của nó, vốn là một biến thể của lớp tàu sân bay Kitty Hawk, được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong thập niên 1960. Là chiếc tàu sân bay chạy năng lượng thông thường cuối cùng của Hải quân Mỹ, nó là chiếc tàu chiến đầu tiên được đặt theo tên vị Tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ, John F. Kennedy, và còn có biệt danh là "Big John".

USS John F. Kennedy (CV-67)
USS John F. Kennedy (CV-67) departs Naval Station Mayport on 11 November 2003.jpg
USS John F. Kennedy đang được tàu kéo hộ tống rời Căn cứ Hải quân Mayport, Florida, 11 tháng 11 năm 2003.
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi:phân lớp John F. Kennedy
Xưởng đóng tàu:Newport News Shipbuilding
Bên sử dụng: Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước:lớp Kitty Hawklớp Enterprise
Lớp sau:lớp Nimitz
Thời gian hoạt động:7 tháng 9 năm 1968 – 1 tháng 8 năm 2007
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS John F. Kennedy
Đặt tên theo: John F. Kennedy
Trúng thầu: 30 tháng 4 năm 1964[1]
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding[1]
Đặt lườn: 22 tháng 10 năm 1964[1]
Hạ thủy: 27 tháng 5 năm 1967[1]
Đỡ đầu bởi: Jacqueline Kennedy & Caroline Kennedy[2]
Đặt tên thánh: 27 tháng 5 năm 1967
Nhập biên chế: 7 tháng 9 năm 1968[1]
Xuất biên chế: 23 tháng 3 năm 2007[1]
Tân trang: 1984
Xóa đăng bạ: 16 tháng 10 năm 2009[1]
Khẩu hiệu: Date Nolite Rogare (tiếng La tinh: Cho đi, đừng đòi hỏi)[a]
Biệt danh: "Big John" (không chính thức: "Bldg 67", "Can Opener", "Jack the Tin Can Killer")[3]
Số phận: Sẽ được tháo dỡ[4]
Huy hiệu:
USS John F. Kennedy CV-67 Crest.png
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp Kitty Hawk cải biến[5]
Trọng tải choán nước: 60.728 tấn Anh (61.702 t) (tiêu chuẩn)
82.655 tấn Anh (83.981 t) (đầy tải)
Độ dài: 990 ft (300 m) (mực nước)
1.052 ft (321 m) (chung)
Sườn ngang: 130 ft (40 m) (mực nước)
252 ft (77 m) (tối đa)
Độ cao: 192 ft (59 m)
Mớn nước: 37 ft (11 m)
Động cơ đẩy: 8 x nồi hơi;
4 x turbine hơi nước Westinghouse;
4 x trục;
công suất 280.000 mã lực càng (210 MW)
Tốc độ: 34 kn (63 km/h; 39 mph)[6]
Tầm xa: 12.000 mi (19.000 km)
Thủy thủ đoàn: 3.297 sĩ quan và thủy thủ (không tính các không đoàn)
Vũ trang: 24 × tên lửa đối không Sea SparrowRIM-116 Rolling Airframe;
2 × hệ thống phòng thủ tầm gần Phalanx CIWS
Máy bay mang theo: 80 máy bay

Sau gần 40 năm phục vụ cùng Hải quân Hoa Kỳ, John F. Kennedy chính thức xuất biên chế vào ngày 1 tháng 8 năm 2007, được cho neo đậu tại Philadelphia, và cho đến năm 2017 vẫn được Hải quân giữ lại, sẵn sàng để trao tặng nhằm bảo tồn như một tàu bảo tàng.[1][7] Đến cuối năm 2017, Hải quân công bố quyết định sẽ tháo dỡ con tàu.[4] Cái tên USS John F. Kennedy giờ đây được đặt cho chiếc tàu sân bay tương lai chạy năng lượng hạt nhân thuộc lớp Gerald R. Ford: chiếc John F. Kennedy (CVN-79).

Thiết kế và chế tạoSửa đổi

John F. Kennedy là một phiên bản cải biến từ lớp tàu sân bay Kitty Hawk[2] Nguyên được dự định như là chiếc thứ tư của lớp Kitty Hawk, nó được áp dụng nhiều cải biến đang khi chế tạo nên tạo ra một lớp phụ riêng biệt.[5] Con tàu nguyên được đặt hàng như một tàu sân bay chạy năng lượng hạt nhân thuộc lớp Enterprise, sử dụng lò phản ứng A3W, việc chi phí chế tạo bị đội lên đáng kể khi đóng chiếc Enterprise đã đưa đến việc hủy bỏ, và con tàu được đặt hàng trở lại như một chiếc lớp Kitty Hawk chạy năng lượng thông thường.[8] Đảo cấu trúc thượng tầng có đôi chút khác biệt so với lớp Kitty Hawk, khi các ống khói nghiêng ra ngoài để phân tán khói ra xa khỏi sàn đáp. Kennedy cũng có chiều dài sàn đáp ngắn hơn 17 ft (5,2 m) so với lớp Kitty Hawk.[8]

Được hợp đồng theo đặc tả Ship Characteristic Board SCB-127C,[8] con tàu được đặt lườn tại xưởng tàu của hãng Newport News Shipbuilding vào ngày 22 tháng 10 năm 1964.[9] Nó được hạ thủy vào ngày 27 tháng 5 năm 1967, được đỡ đầu bởi bà quả phụ Jacqueline Kennedy và cô con gái 9 tuổi Caroline của cố Tổng thống Kennedy, hai ngày trước kỷ niệm sinh nhật thứ 50 của Tổng thống Kennedy. Nó nhập biên chế vào ngày 7 tháng 9 năm 1968.

Lịch sử hoạt độngSửa đổi

 
John F. Kennedy trong chuyến đi chạy thử máy, tháng 12 năm 1968

Thập niên 1970Sửa đổi

Sau đợt thanh tra sẵn sàng chiến đấu của Tư lệnh Đội tàu sân bay 2, John F. Kennedy lên đường đi Địa Trung Hải vào tháng 4 năm 1969, đi đến Căn cứ Hải quân Rota, Tây Ban Nha vào sáng ngày 22 tháng 4 để thay phiên cho tàu sân bay Forrestal (CVA-59). Chuẩn đô đốc Pierre N. Charbonnet, Tư lệnh Lực lượng Tấn công tàu sân bay trực thuộc Đệ lục Hạm đội và là Tư lệnh Đơn vị Đặc nhiệm Tàu sân bay Tấn công 60.1.9, chuyển cờ hiệu của ông sang John F. Kennedy. Chiếc tàu sân bay mới, được các tàu khu trục hộ tống, băng qua eo biển Gibraltar vào nữa đêm ngày 22 tháng 4; và sang ngày hôm sau được tiếp nhiên liệu từ chiếc Marias (AO-57). Nó bị một tàu khu trục lớp Kotlin của Hải quân Liên Xô mang số hiệu lườn 383 theo dõi.[2]

 
Hư hại mà tàu sân bay John F. Kennedy chịu đựng sau tai nạn va chạm với tàu tuần dương Belknap (CG-26)

Chuyến đi đầu tiên của John F. Kennedy, và trong nhiều chuyến đi tiếp theo sau của nó, là được bố trí sang Địa Trung Hải trong phần lớn thời gian của thập niên 1970 nhằm đối phó với tình hình ngày càng xấu đi tại khu vực Trung Đông. Cũng trong thập niên 1970, chiếc tàu sân bay được nâng cấp để hoạt động cùng các kiểu máy bay mới Grumman F-14 TomcatS-3 Viking. Nó được Hải quân huy động để phản ứng sau khi xảy ra cuộc Chiến tranh Yom Kippur vào tháng 10 năm 1973;[10] và nó chịu đựng một tai nạn hỏa hoạn vào tháng 6 năm 1975 đang khi neo đậu trong cảng Norfolk, Virginia.[11]

Vào ngày 22 tháng 11 năm 1975, John F. Kennedy mắc tai nạn va chạm với Belknap (CG-26), khiến chiếc tàu tuần dương bị hư hại đáng kể. Sau khi va chạm, nhiên liệu phản lực JP-5 từ các ống dẫn bị vỡ tràn ra lối đi dọc sàn đáp, và hỏa hoạn bùng phát trên cả hai con tàu. Lửa bao trùm khắp cấu trúc thượng tầng của Belknap cho đến sàn chính, khiến bảy thành viên thủy thủ đoàn thiệt mạng; trên John F. Kennedy, một thủy thủ chết do ngạt khói.[2]

Vào ngày 14 tháng 9 năm 1976, đang khi tiếp nhiên liệu trên đường đi vào ban đêm tại vị trí cách bờ biển Scotland 100 dặm (160 km) về phía Bắc, Bordelon (DD-881) bị mất kiểm soát và va chạm với John F. Kennedy, đưa đến hậu quả chiếc tàu khu trục bị hư hại nặng và phải ngừng hoạt động vào năm 1977. Trước đó cùng ngày hôm đó, sau khi bị trục trặc máy phóng, một máy bay tiêm kích F-14 Tomcat trang bị tên lửa không đối không AIM-54 Phoenix bị đẩy ra khỏi sàn đáp và rơi xuống nước trong vùng biển quốc tế. Cả viên phi công lẫn sĩ quan radar đều kịp phóng ra ngoài và vẫn sống sót, cho dù bị thương.[12] Một cuộc chạy đua đã diễn ra, bằng các hạm tàu nổi và tàu ngầm giữa Hải quân Xô Viết và Hải quân Hoa Kỳ, nhằm thu hồi không chỉ con tàu (với hệ thống vũ khí của nó), mà cả với kiểu tên lửa tiên tiến mà nó mang theo.[2]

Trong năm 1979, John F. Kennedy trải qua đợt đại tu đầu tiên tại Xưởng hải quân Norfolk, Virginia, kéo dài đến một năm và chỉ hoàn tất vào năm 1980. Vào ngày 9 tháng 4 năm 1979, nó chịu đựng năm đám cháy do cố ý gây hỏa hoạn, khiến một công nhân xưởng tàu thiệt mạng và làm bị thương 34 người khác. Đến ngày 5 tháng 6, lại có thêm hai vụ hỏa hoạn khác nhưng không gây thương vong về người.[11]

Thập niên 1980Sửa đổi

 
Nhìn từ phía đuôi bên mạn phải của John F. Kennedy, trong cuộc duyệt binh hải quân quốc tế tại cảng New York nhân Ngày Độc lập, 4 tháng 7 năm 1986.

Vào ngày 4 tháng 8 năm 1980, John F. Kennedy rời Norfolk, Virginia cho một chuyến đi sang Địa Trung Hải.[13]

Vào ngày 4 tháng 1 năm 1982, John F. Kennedy, cùng Không đoàn Tàu sân bay 3 (CVW-3) trên tàu, khởi hành từ Norfolk trong vai trò soái hạm của Đội đặc nhiệm Tàu sân bay 4 cho một chuyến đi sang hoạt động tại Ấn Độ Dương. Sau khi ghé qua St. Thomas, quần đảo Virgin thuộc MỹMálaga, Tây Ban Nha, nó băng qua kênh đào Suez và viếng thăm Perth, Western Australia từ ngày 19 tháng 3 đến ngày 25 tháng 3. Trong lượt quay trở về, chiếc tàu sân bay đã đón tiếp người đứng đầu nhà nước Somalia, tướng Mohamed Siad Barre, và hoàn tất chuyến đi sau khi ghé qua Mombasa, KenyaToulon, Pháp trước khi về đến Newport vào ngày 14 tháng 7.[2]

Vào tháng 10 năm 1983, đang trên đường đi Ấn Độ Dương theo kế hoạch, John F. Kennedy chuyển hướng đến Beirut, Liban sau khi xảy ra sự kiện đánh bom trại binh làm thiệt mạng 241 binh sĩ Hoa Kỳ tham gia vào Lực lượng Đa quốc gia gìn giữ hòa bình. Chiếc tàu sân bay đã trải qua suốt thời gian cho đến đầu năm 1984 tuần tra tại khu vực. Vào ngày 4 tháng 12 năm 1983 mười chiếc A-6 Intruder của John F. Kennedy cùng những chiếc A-6 và A-7 Corsair II từ tàu sân bay Independence (CV-62) đã tham gia một cuộc ném bom xuống Beirut, nhằm đáp trả việc hai máy bay F-14 Tomcat bị tấn công một ngày trước đó. Hải quân bị mất hai máy bay trong cuộc không kích này: một chiếc A-7E từ Independence và một chiếc A-6E của John F. Kennedy bị tên lửa đất đối không bắn rơi. Phi công chiếc A-7E được một tàu đánh cá cứu vớt, nhưng phi công chiếc A-6E, Đại úy Mark Lange thiệt mạng sau khi phóng ra, còn hoa tiêu là Trung úy Bobby Goodman bị bắt làm tù binh. Ông được thả vào ngày 3 tháng 1 năm 1984.[2]

 
Một máy bay tiêm kích F-14A Tomcat thuộc Phi đội VF-32 chuẩn bị để được phóng lên từ Kennedy trong chuyến đi sang Địa Trung Hải 1986.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Ghi chúSửa đổi

  1. ^ Lấy theo ý tưởng của bài diễn văn nhậm chức của Tổng thống Kennedy: "Đừng hỏi đất nước đã làm gì cho bạn; hãy tự hỏi bạn đã làm gì cho đất nước"

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ a ă â b c d đ e “John F. Kennedy”. Naval Vessel Register. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2010. 
  2. ^ a ă â b c d đ John F. Kennedy (CVA-67). Dictionary of American Naval Fighting Ships. Navy Department, Naval History & Heritage Command. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2016. 
  3. ^ Riddle, Lincoln (2 tháng 3 năm 2017). “When The Guided Missile Cruiser USS Belknap Collided with the Aircraft Carrier USS John F. Kennedy”. warhistoryonline.com. 
  4. ^ a ă “Scrapyard or museum? After 10 years, still no firm plans for former Mayport carrier USS JFK”. Jacksonville.com. 29 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2018. 
  5. ^ a ă Communications, This story was written by Naval Sea Systems Command Office of Corporate. “Navy Announces Availability of ex-John F. Kennedy for Donation”. navy.mil. 
  6. ^ “Evolution of the Aircraft Carrier”. navylive.dodlive.mil. 12 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2018. 
  7. ^ SEA 21 Navy Inactive Ships Program Feb. 3, 2010 Lưu trữ 5 March 2012 tại Wayback Machine.
  8. ^ a ă â Friedman, Norman (1983). U.S. Aircraft Carriers: An Illustrated Design History. Naval Institute Press. tr. 387. ISBN 0-87021-739-9. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2008. 
  9. ^ http://www.nnapprentice.com/alumni/letter/Apprentice_Trivia_021706.pdf
  10. ^ Zumwalt 1976, tr. 436–448
  11. ^ a ă Naval Sea Systems Command DC Museum "USS JOHN F. KENNEDY (CV 67)" Lưu trữ 7 November 2010 tại Wayback Machine.
  12. ^ Barton, Charles, Capt. (Retired) (tháng 6 năm 1977). “Plane Overboard ! How we won the race to recover its secrets”. Popular Mechanics 147 (6): 69. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2019. 
  13. ^ John F. Kennedy S-3 Division during departure from Norfolk, Virginia to the Mediterranean Sea, 4 August 1980.

Thư mụcSửa đổi

Liên kết ngoàiSửa đổi