Triết học phương Tây

(đổi hướng từ Triết học Tây phương)

Triết học phương Tây đề cập đến những tư tưởng và những tác phẩm triết học của thế giới phương Tây. Về mặt lịch sử, thuật ngữ này đề cập đến tư duy triết học trong văn hóa phương Tây, bắt đầu với triết học Hy Lạp trong thời kì tiền-Socrates với những đại biểu như ThalesPythagoras, và cuối cùng phát triển với phạm vi trên toàn cầu.[1][2] Từ "philosophy" bắt nguồn từ triết học Hy Lạp cổ đại (φιλοσοφία), nghĩa đen là "tình yêu trí tuệ" (φιλεῖν phileîn, "yêu" và σοφία sophía, "trí tuệ").

Phạm vi của triết học theo cách hiểu cổ điển, và các tác phẩm của (ít nhất là một số) các nhà triết học cổ đại, bao gồm tất cả những nỗ lực nhằm đạt tới trí tuệ. Vậy có nghĩa là, bên cạnh những vấn đề thuộc về triết học như cách hiểu hiện đại, triết học cổ điển cũng bao gồm nhiều vấn đề thuộc những ngành học rất khác như toán học và các môn khoa học tự nhiên như vật lý, thiên văn họcsinh học.

Triết học thời kỳ cổ đạiSửa đổi

 
Ionia, nơi phát sinh của triết học Hy Lạp cổ đại, ở phía Tây Tiểu Á

Triết học ra đời tại Hy Lạp vào khoảng thế kỷ VI trước công nguyên. Những nhà triết học đầu tiên không sống tại vùng lục địa của đất nước này mà sinh sống tại những đảo hay những vùng đất bên rìa, trên bờ phía Nam của nước Ý và ở bờ phía Tây của đất nước Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay.[3] Không chỉ là những nhà triết học, họ cũng đồng thời là những nhà khoa học và một số người còn là những lãnh tụ tôn giáo, vì ranh giới giữa ba lĩnh vực này chỉ trở nên rõ ràng sau nhiều thế kỷ nữa. Cội nguồn của nhiều, nếu không phải là tất cả, ngành học hàn lâm sau này có thể được truy nguyên về vùng đất Tiểu Á và Hy Lạp-Ý này.[3] Tên tuổi của những triết gia thời kì sơ khai này vẫn được nhắc đến nhiều ngay cả ở thời điểm hiện tại, rất nhiều nhà tư tưởng khi nhìn lại đều coi những nhà triết học phương Tây đầu tiên này là bậc thầy hay "tổ phụ" của họ.[3]

Thời kỳ Tiền-SocratesSửa đổi

Những nhà triết học IoniaSửa đổi

Pythagoras được tôn vinh trong những tác phẩm kinh điển là một trong những người nhà triết học đầu tiên của Hy Lạp cổ đại.[3] Ngày nay, tên tuổi của ông gắn liền với những công trình toán học, đặc biệt là định lý mang tên ông nói về mối quan hệ giữa chiều dài cạnh huyền và hai cạnh góc vuông trong một tam giác vuông. Pythagoras và những môn đệ của mình cũng đồng thời tìm ra mối liên hệ giữa cao độ của những nốt nhạc trong âm nhạc với chiều dài của sợi dây tạo ra chúng.[4] Dù danh tiếng của ông gắn với toán học, ông cũng có những đóng góp không nhỏ cho triết học.[5] Phái của Pythagoras tin rằng, tất cả sự vật đều được cấu tạo từ những con số, trong đó số "1" biểu hiện cho cội nguồn của vạn sự.[6] [7]Bên cạnh đó, Pythagoras cũng tin rằng linh hồn của con người sau khi chết đi sẽ được chuyển đến một loại động vật khác nào đó; chính vì vậy mà ông ăn chay và cũng khuyên những môn đệ của mình thực hiện như vậy.[4]

Một nhà hình học lỗi lạc khác là Thales. Giống như Pythagoras, định lý mang tên ông được nhắc đến và ứng dụng rất nhiều trong bộ môn hình học. Nhờ những kiến thức của mình, Thales có thể đo được chiều cao của kim tự tháp nhờ bóng đổ xuống của chúng.[8] Ngoài ra, ông cũng có những phát hiện đáng kể trong lĩnh vực thiên văn học như chỉ ra được chòm sao Tiểu Hùng và nêu những tác dụng của chòm sao này trong việc định hướng.[8] Về mặt triết học, Thales có lẽ là người đầu tiên đặt câu hỏi về cấu trúc và bản chất của toàn thể vũ trụ (cosmos).[8] Và câu trả lời của ông là nước,[9] theo Thales thì tất cả mọi vật đều được cấu tạo từ nước, còn chính mặt đất này cũng nổi trên một khối nước (sau này, Aristotle đặt câu hỏi thêm: thế khối nước đó lại đặt trên thứ gì?)[9] [8]Thales không tin rằng linh hồn có thể chuyển giao như Pythagoras, nhưng ông tin rằng linh hồn là bất diệt.[8]

Người cuối cùng và có lẽ nổi tiếng nhất trong số những triết gia đầu tiên trên đảo Ionia là Heraclitus.[10] Trái ngược hoàn toàn với Thales, Heraclitus tin rằng cả thế giới được cấu tạo từ lửa và ông đặt ra vòng chuyển biến giữa bốn nguyên tố cổ điển (khí, nước, đất, lửa) với lửa làm trung tâm.[11] Nhưng ý tưởng rằng thế giới được "làm" từ lửa không gây ấn tượng bằng quan điểm của ông cho rằng: mọi thứ đều thay đổi và biến động và quá trình này không bao giờ dừng lại.[11] Điều này được thể hiện qua một câu nói nổi tiếng của ông:

Phái Nguyên tử luậnSửa đổi

Một trong số những tư tưởng quan trọng có nguồn gốc từ thời cổ đại đó là: mọi vật đều được cấu tạo từ các nguyên tử, và những người theo phái này được gọi là những nhà Nguyên tử luận. Democritus là đại biểu nổi tiếng nhất của trường phái này và ông là học trò của Leucippus, người mà ta không có nhiều thông tin.[12] Không còn tác phẩm nguyên văn nào của Leucippus còn tồn tại, nên ta chỉ có thể dựa vào những học thuyết của học trò ông.[12]

Democritus cho rằng, mọi vật không thể phân chia vô giới hạn.[12] Theo ông, nếu ta lấy một mẩu vật chất và phân nhỏ liên tục nó, sẽ đến một điểm mà ta không thể chia nhỏ tiếp được nữa, ông gọi các phần tử thu được là "atom", nghĩa là "không thể chia nhỏ" hay "nguyên tử".[13] Những lập luận của Democritus là dựa trên tư duy triết học thuần túy chứ không qua thực nghiệm.[12] Democritus giải thích toàn bộ thế giới theo ý tưởng "atom" ở trên, theo đó: "tất cả mọi vật đều được cấu tạo từ nguyên tử và khoảng không giữa chúng". Thậm chí, mùi vị của thức ăn cũng được giải thích bằng khái niệm nguyên tử, chẳng hạn: vị ngọt có nguồn gốc từ những nguyên tử to và tròn hơn, còn vị mặn là do các nguyên tử lớn, xù xì và sắc cạnh.[14] Phải đến tận năm 1917, con người mới phát hiện ra rằng nguyên tử có thể được tiếp tục chia nhỏ hơn nữa, Ernest Rutherford là người được ghi công cho khám phá lớn này.[15]

Thời kỳ Cổ điểnSửa đổi

SocratesSửa đổi

 
"Cái chết của Socrates", tác phẩm của Jacques-Louis David. Socrates đã được ban một ly sâm độc để tự tử. Bức tranh mô tả khoảnh khắc Socrates nhận được ly thuốc độc và ẩn chứa nhiều biểu tượng cũng như hình ảnh ẩn dụ.

Socrates là một trong những nhà triết học lớn nhất và nổi tiếng nhất của thời cổ đại, điều này được thể hiện khi tất cả các triết gia trước ông đều được cho là thuộc vào "thời kỳ Tiền-Socrates".[16] Socrates không viết bất cứ một bản văn nào, ông cho rằng viết lách làm trí nhớ tệ đi và cảm thấy khó chịu nếu phải làm vậy.[17] Do vậy, chúng ta phải dựa vào tác phẩm của các học trò của ông, như Plato và Aristotle, cũng như của các tác giả đương thời khi nghiên cứu về ông.[16]

Socrates được cho là người đầu tiên thiết lập nên thứ mà ngày nay chúng ta gọi là "tư duy phản biện", phương pháp đặt ra những câu hỏi bản chất và yêu cầu suy nghĩ do vậy cũng được mang tên ông: phương pháp Socrates. Nhiều tác phẩm có mô tả cuộc tranh biện hay đối thoại giữa Socrates và những chính trị gia, nhà thơ và các chuyên gia, những người được cho là sở hữu một lượng trí tuệ đáng kể; song rút cục thì không ai có thể bảo vệ danh tiếng của mình trước những câu hỏi phản biện và sắc bén của Socrates, người tự nhận: "Điều duy nhất tôi biết là tôi không biết gì cả."[16] Socrates cũng quan tâm đến đạo đức hành xử trong cuộc sống. Theo ông, chìa khóa của một cuộc sống hạnh phúc không nằm ở tiền bạc mà ở sự suy ngẫm, tìm tòi và tự khám phá chính bản thân mình: "Cuộc đời mà không tự vấn là cuộc đời không đáng sống."[17]

Socrates bị kết án tử hình vào năm 399 với tội danh đầu độc tâm trí những người trẻ và báng bổ thánh thần.[18] Socrates nói rằng, phản bác bản án đó là điều không khó, nhưng chiến thuật được sử dụng sẽ hạ thấp phẩm giá của chính ông.[19] Ông nói: "Điều khó khăn, những người bạn của tôi, không phải là tránh xa cái chết mà là tránh xa sự không ngay thẳng, thứ tìm đến với ta còn nhanh hơn cái chết."[19]

PlatoSửa đổi

 
Với Plato, thế giới hiện thực mà ta trải nghiệm chỉ là cái bóng của những "Ý niệm".

Plato là một trong số những học trò của Socrates.[20] Vì Socrates không để lại một áng văn nào, Plato đã viết sách để giữ gìn những điều mà ông học được từ thầy của mình. dù ngày nay chúng ta khó lòng tách bạch đâu là tư tưởng của Socrates và đâu là của chính Plato.[20] Plato nổi tiếng nhất với quan điểm về một thế giới Ý niệm (en. Idea) hay thế giới Mô thức (en. Form) tách biệt hoàn toàn với thế giới vật chất mà chúng ta đang sống.[21] Ông nói, mọi điều chúng ta đang trải nghiệm chẳng qua chỉ là những bản sao không hoàn hảo của những Mô thức hay những Ý niệm[20]; chẳng hạn, nước trong ao hồ, nước ở biển và nước ở trong chai đều là những "hình ảnh" của một Ý niệm "Nước" duy nhất.[22] Với Plato, thế giới của Ý niệm này mới là thế giới tồn tại thực, còn hiện thực mà ta trải nghiệm chỉ là chiếc bóng hắt lên của nó mà thôi.[23]

Không chỉ đưa ra những ý tưởng về Siêu hình học, Plato cũng viết về và đặt nên những nền tảng về công lý và đạo đức, ở cả cấp độ cá nhân và thành bang.[24] Trong tác phẩm nổi tiếng nhất của mình: "Cộng hòa", Plato lập luận rằng: chỉ những triết gia hoặc những người tin tưởng vào công việc của một triết gia mới nên đảm nhiệm vai trò của một người cai trị vì họ có thể hiểu chính xác bản chất của thế giới và chân lý của những giá trị đạo đức.[25] Qua thời gian, "Cộng hòa" trở thành một trong những tác phẩm có ảnh hưởng nhất trong lịch sử triết học và triết học chính trị.[26][27]

AristotleSửa đổi

Aristotle theo học Plato từ năm 17 tuổi.[28] Với đức tính cần cù của mình, Aristotle hẳn đã học được rất nhiều điều từ người thầy của mình, tuy nhiên, ông cũng đưa ra những ý tưởng rất khác biệt và đối nghịch hoàn toàn so với Plato.[28] Aristotle viết rất nhiều và cho ra đời nhiều tác phẩm đồ sộ trong cuộc đời của mình, đáng buồn thay, một phần rất lớn của chúng đã bị thất lạc hoặc biến mất vĩnh viễn.[29] May mắn là, nhiều tư tưởng của ông đã được những môn đệ của mình gìn giữ và truyền lại đến tận ngày nay.[30]

Một trong những đóng góp lớn nhất của Aristotle là đã lập nên nền tảng cho bộ môn logic học.[29] Aristotle được cho là người đã nghiên cứu và phát triển thứ mà ngày nay ta gọi là phép "tam đoạn luận." Tam đoạn luận của Aristotle là hình thức rút ra kết luận đơn giản từ hai tiền đề cho trước, một trong những tam đoạn luận nổi tiếng nhất trong lịch sử là:[30]

  1. Là con người thì ai cũng sẽ chết.
  2. Socrates là con người.
  3. Vậy, Socrates cũng sẽ chết.

Tam đoạn luận là hình thức logic đầu tiên được sáng tạo nên và chúng vẫn là hình mẫu cơ bản cho bộ môn logic học cho đến tận thế kỷ 19.[30]

 
Plato và Aristotle đứng giữa, trích từ bức tranh Trường Athena của Raphael (1509-1511).
Màu sắc trang phục và dáng điệu của Aristotle và Plato thể hiện sự đối lập trong quan điểm của họ. Trong khi Plato (bên trái) chỉ tay lên trời và hướng về những hình mẫu lý tưởng, Aristotle (bên phải) đưa tay về phía mặt đất, thể hiện rằng chân lý của thực tại nằm ngay trên mặt đất chứ không ở đâu khác.[31]

Danh tiếng của Aristotle cũng gắn với những ghi chép đồ sộ của ông về thế giới xung quanh (dù đã bị thất lạc rất nhiều, Aristotle vẫn để lại một di sản với khoảng một triệu từ, gấp đôi so với Plato).[29] Ông ghi lại và đưa ra giải thích về nhiều hiện tượng trong thế giới tự nhiên, trải dài trên rất nhiều lĩnh vực như vật lý, thiên văn học, hóa học, địa chất học, vũ trụ học và đặc biệt là sinh học.[29][32] Ông đã thu thập dữ liệu và phân loại sinh vật vào một hệ thống được gọi là Bậc thang Sự sống hay Chuỗi xích Vĩ đại của Sự sống, trong đó, mỗi sinh vật chiếm một mắt xích hoặc một bậc thang đi lên, với vị trí cao nhất là con người.[30] Ngoài ra, Aristotle cũng đưa ra những giải thích về chuyển hóa và ông còn mở một lỗ trên quả trứng gà để nghiên cứu về quá trình phát triển của phôi.[33]

Vì Aristotle quan sát và gắn bó chặt chẽ với thế giới tự nhiên nên không khó để thấy tại sao ông lại đưa ra những ý tưởng trái ngược với Plato về nhận thức.[28] Aristotle cho rằng, bản chất hay tính chất riêng biệt của các sự vật có thể được rút ra từ việc quan sát và nghiên cứu chúng.[28] Chẳng hạn, chúng ta có thể quan sát và để ý đến những đặc điểm giống và khác nhau của "nước" trong những bối cảnh khác nhau và ta có thể rút ra khái niệm "nước" từ những kinh nghiệm đó.[28] Và do vậy, theo ông, bản chất phổ quát của sự vật có thể được tri nhận thông qua kinh nghiệm từ các giác quan chứ không cần đến một thế giới Ý niệm tách biệt khỏi hiện thực.[28]

Những trường phái triết học thời kỳ cổ đại khácSửa đổi

Sau khi Alexander Đại đế qua đời vào năm 323 trước Công nguyên, đế chế Hy Lạp rộng lớn của ông tan thành nhiều thành bang và tiểu quốc nhỏ tranh đấu với nhau. Vương quốc tồn tại lâu dài nhất trong số này là vương quốc của Ptolemy và gia đình ông ở Ai Cập và Libya.[34] Vương quốc này nằm trên mặt đất cho đến tận khi Antony và Cleopatra bị hoàng đế Augustus đánh bại vào năm 31 Công nguyên và trở thành một phần của đế quốc La Mã vĩ đại.[34] Trong những thế kỉ nằm giữa hai mốc thời gian này (323 trước CN và 31 CN), nền văn minh Hy Lạp hưng thịnh trên những miền đất xung quanh vùng Đông Địa Trung Hải; và giai đoạn này được các sử gia gọi là thời kỳ Hy Lạp hóa.[34]

Những triết gia nổi tiếng nhất của Athens sau khi Alexander Đại đế qua đời không phải là thành viên của Academy (trường học do Plato sáng lập) hay Lyceum (do Aristotle sáng lập) mà là những đối thủ cạnh tranh cũng đang lập nên những trường học của riêng mình.[35] Đó là Epicurus, người thành lập nên ngôi trường với tên gọi là "Hoa viên" (en. The Garden) và Zeno, giảng dạy tại hàng hiên Stoa (chính vì vậy mà chủ nghĩa khắc kỷ trong tiếng Anh là "Stocism").[35]

Chủ nghĩa khoái lạc EpicurusSửa đổi

 
Theo Epicurus, nỗi sợ cái chết là một trong những trở ngại lớn nhất ngăn con người đến với hạnh phúc.

Epicurus sinh sống vào khoảng cuối thế kỉ 3 và đầu thế kỉ 2 trước Công nguyên.[36] Tiêu điểm trong triết học của ông là trạng thái ataraxia hay "sự yên bình của tinh thần", và theo ông, một trong những trở ngại lớn nhất ngăn không cho con người đến với trạng thái đó chính là nỗi sợ cái chết.[37] Theo Epicurus, chính vì sợ cái chết mà con người theo đuổi sự giàu có và quyền lực với hy vọng rằng có thể trì hoãn được cái kết đến với mình; hoặc quăng bản thân vào những hoạt động điên cuồng nhằm quên đi sự thực rằng ai rồi cũng phải giã từ cuộc đời này.[37] Epicurus gạt đi những câu chuyện của tôn giáo về sự trừng phạt hay những giày vò sau khi chết và dùng những lập luận của mình chỉ ra rằng, cái chết không thể gây nên những đau đớn về thể xác hoặc cảm xúc và do vậy, nó thực sự không hề đáng sợ.[37][38]

Theo Epicurus, mục đích của cuộc sống chính là hạnh phúc.[36] Chủ nghĩa của Epicurus thường bị hiểu nhầm với sự thỏa mãn những nhu cầu xác thịt đơn thuần, nhưng trên thực tế thì với ông, những khoái lạc lớn nhất chỉ có thể đạt được thông qua kiến thức, một cuộc sống điều độ, tình bằng hữu và sự giải thoát khỏi những mối sợ hãi, và tất nhiên, bao gồm cả cái chết.[36][38] Epicurus mất năm 270 trước Công nguyên sau 72 năm sống trên đời, và đúng với niềm tin của bản thân, ông mô tả ngày cuối cùng của đời mình là một ngày hạnh phúc thật sự.[39]

Chủ nghĩa khắc kỉ, khởi nguồn từ ZenoSửa đổi

 
Hoàng đế Marcus Aurelius, một trong những người thực hành chủ nghĩa khắc kỷ

Zeno là học trò của Diogenes, một nhà triết học nổi tiếng với trường phái Khuyển nho (tiếng Anh: Cynism, "giống như chó") - trường phái tin rằng con người cần phải từ bỏ mọi hình thức phong tục và lề lối xã hội để có thể sống một cách tự nhiên nhất và từ đó có thể đạt tới hạnh phúc chân thực.[40] Có một lưu ý nhỏ là Zeno thành lập nên trường phái khắc kỉ là Zeno xứ Citium, khác với Zeno xứ Elea được biết đến trong toán-logic học qua những nghịch lý oái ăm nổi tiếng của mình.

Như đã nhắc đến, Zeno được coi là người đã sáng lập nên chủ nghĩa khắc kỉ.[41] Ông lập luận rằng, con người hoàn toàn bất lực và không thể thay đổi được hoàn cảnh khách quan, thứ được chi phối bởi những quy luật nằm ngoài tầm tay của những sinh vật trần thế; nhưng ta vẫn có thể đạt được hạnh phúc thông qua chấp nhận và sống hòa hợp với nó.[42] Sự tự nguyện chấp thuận những quy luật bất khả kháng này tạo nên đức hạnh và đức hạnh là điều kiện cần và đủ của một cuộc sống hạnh phúc.[41] Nghèo túng, tù ngục và đau khổ không thể lấy đi đức hạnh và do vậy, chúng không thể lấy đi hạnh phúc trong mỗi con người.[43] Một trong những câu chuyện thể hiện lý tưởng của chủ nghĩa khắc kỉ nổi tiếng nhất là mẩu chuyện về người lính Scaevola. Scaevola bị quân địch phát giác khi đang thi hành nhiệm vụ ám sát hoàng đế Porsena, khi kẻ địch đe dọa sẽ sử dụng lửa để tra tấn, người lính trẻ thản nhiên bước tới và đặt tay vào đống lửa mà không thể hiện bất cứ dấu hiệu nào của sự đau đớn.[44] Quân địch đã đầu hàng trước sự dũng cảm của Scaevola và sau đó trả tự do cho anh.[44]

Chủ nghĩa khắc kỷ của Zeno tồn tại lâu dài và có ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với chủ nghĩa khoái lạc của Epicurus.[42] Một trong những người nổi tiếng nhất áp dụng những lý tưởng của chủ nghĩa này là vị minh quân La Mã trứ danh, Marcus Aurelius. Nhiều lý tưởng của chủ nghĩa khắc kỷ vẫn được suy ngẫm và thực hành cho đến tận ngày nay, đặc biệt là khi nói đến thái độ con người nếu phải đối mặt với nghịch cảnh.[45]

Triết học thời Trung cổSửa đổi

Triết học không đóng vai trò quan trọng trong văn hóa La Mã, ngoại trừ chủ nghĩa khắc kỷ vì trường phái này nhấn mạnh về đạo đức cũng như việc thực hiện nghĩa vụ của mỗi người.[46] Sau khi đế chế Tây La Mã sụp đổ vào khoảng thế kỷ thứ 5 Công nguyên, Giáo hội trở thành thế lực thống trị ở Tây Âu trong suốt 1000 năm sau đó. Thời kỳ này còn được gọi là "Thời kỳ Đen tối" hoặc "Đêm trường Trung cổ" khi Giáo hội giữ vị trí độc tôn về học thuật; triết học cùng với những di sản văn hóa kế thừa từ Hy Lạp và La Mã lúc này cũng nằm trong đống tro tàn của thành Rome.[46]

Triết học đóng một vai trò mờ nhạt vào thời Trung Cổ, khi Cơ Đốc giáo hay Kitô giáo mới đang là những tư tưởng áp đảo.[47] Sự tìm kiếm minh triết hay sự cứu rỗi giờ đây sẽ được thực hiện nhờ Chúa chứ không phải dựa vào chính bản thân và lý tính của mỗi con người, điều này là "phi triết học", hay thậm chí là "phản triết học", theo chữ của tác giả Luc Ferry.[48] Câu trả lời cho những câu hỏi về bản chất của vũ trụ hay thế nào là một cuộc sống đức hạnh giờ sẽ được tìm kiếm trong Kinh Thánh; chúng không còn là chủ đề cho những tranh biện triết học nữa.[46] Nhiều tác giả thời kỳ này cũng tìm kiếm những giải thích duy lý để chứng minh cho sự tồn tại của Chúa cũng như sự bất tử của những linh hồn.[46]

Thánh Augustine thành HippoSửa đổi

Thánh Augustine là một trong những triết gia Cơ Đốc giáo đầu tiên của thời kỳ này. Điều thú vị là ông không được sinh ra trong một gia đình có đạo và sở hữu một lối sống không mấy mẫu mực và lành mạnh trước khi ông đọc được một đoạn Kinh Thánh khi ngoài ba mươi tuổi.[49] Kể từ đó, ông cải theo đạo và lui về tu viện, dâng trọn đời mình để viết những tác phẩm về Cơ Đốc giáo.[50] Những tác phẩm của Augustine để lại những ảnh hưởng sâu rộng hiếm ai sánh bằng đến nền toàn triết học Cơ Đốc giáo.[51]

Một trong những ám ảnh lớn nhất của ông là làm thế nào có thể dung hòa được giữa tính toàn thiện của Chúa với sự tồn tại của cái ác.[49] Augustine bị vướng vào lập luận: Chúa đã tạo ra tất cả mọi thứ và, cái ác thật sự hiển hiện và tồn tại trong thế giới này, vì vậy mà Chúa hẳn cũng đã tạo ra cái ác.[49] Câu trả lời của Augustine cho câu hỏi hóc búa này là cái xấu thực chất không phải là một thứ tự nó hiện hữu, mà đó chỉ là sự vắng mặt của cái tốt (Augustine đã mượn cách nghĩ này từ Plato và những môn đệ của ông).[51] Với lập luận này thì một kẻ trộm không phải là một người xấu; đó là một người thiếu lương thiện.[51] Và nếu cái ác không tự thân tồn tại thì Chúa đã không tạo ra cái ác.[49]

Những vẫn còn một câu hỏi nữa cho ông, đó là tại sao Chúa, ngay cả khi Ngài không trực tiếp tạo ra cái ác, lại tạo nên một thế giới mà cái ác có thể cư ngụ và sinh sôi.[51] Thánh Augustine lấy lý trí con người làm trọng tâm để trả lời cho câu hỏi này.[51] Ông lập luận rằng, để Chúa có thể tạo ra những sinh vật có lý tính như con người, Ngài phải ban cho chúng sự tự do ý chí. Và sự tự do đó có nghĩa là con người có thể tư duy và lựa chọn những hành động cho mình, bao gồm cả lựa chọn giữa cái tốt và cái xấu. Và vì lý do này, Chúa phải để ngỏ khả năng rằng con người có thể lựa chọn cái xấu thay cho cái tốt.[51]

Sau Augustine, hầu hết những triết gia Cơ Đốc giáo khác cũng giải quyết vấn đề về cái ác theo hướng tiếp cận của ông. Vẫn có những ý kiến hay những tư tưởng đối nghịch với cách giải quyết của ông, và tất nhiên, những người không tin tưởng vẫn có thể nói rằng: sự tồn tại của cái ác là bằng chứng cho thấy không có một Chúa nhân từ nào cả. Nhưng với những người có đức tin, câu trả lời mà Augustine mang đến hẳn vẫn có giá trị.[51]

Các triết gia Hồi giáo: Avicenna và AverroesSửa đổi

AvicennaSửa đổi

 
Bản dịch tiếng Latinh tác phẩm Y điển của Avicenna.

Một trong những triết gia Hồi giáo có ảnh hưởng lớn nhất trong thời kỳ này là Ibn Sina hay Avicenna.[52] Ông sinh tại vùng đất gần Bokhara và học tinh thông logic học, toán học, vật lý học, y học và siêu hình học đến mức ông xuất bản bách khoa thư về những ngành học này khi chỉ mới hai mươi tuổi.[52] Kiến thức về ngành y của ông sâu rộng đến mức ông được bổ nhiệm làm ngự y cho những nhà cầm quyền vùng Isfahan còn tác phẩm Y điển của ông thì trở thành khuôn mẫu trong ngành này trong suốt bảy thế kỷ sau đó.[53]

Avicenna tiếp thu những ý tưởng triết học của Aristotle nhưng cũng đưa ra những phát triển và kiến giải của riêng mình.[54] Một trong những khác biệt lớn nhất của họ đó là khi nói về mối quan hệ giữa thể xác và tinh thần.[53] Trong khi Aristotle tin rằng cơ thể và tinh thần của loài người (và một số loài động vật khác) không tác rời nhau mà là một khối thống nhất thi Avicenna lại cho rằng thể xác và tinh thần là hai bản thể tách biệt nhau, việc tách biệt này đặt ông vào hàng ngũ những nhà triết học theo phái "nhị nguyên luận."[53]

Avicenna chứng minh quan điểm của mình bằng thí nghiệm tưởng tượng "Người Bay".[55] Ông yêu cầu mỗi người hãy tưởng tượng mình như một đứa trẻ vừa mới sinh ra nhưng đã có sẵn trí tuệ và tư duy của một người trưởng thành; sau đó, nếu chúng ta được thả lơ lửng trong không trung, không có trọng lực và tứ chi của ta cách xa nhau thì ta sẽ không thể chạm được vào vật gì, như vậy thì ta sẽ hoàn toàn không có bất cứ cảm giác cơ thể nào cả. Nhưng chắc chắn ta vẫn biết một điều, đó là "ta" vẫn đang tồn tại. Và Avicenna lập luận rằng: "cái ta" hay "cái tôi" đó hiện hữu nhưng nó không thuộc vào bất cứ phần nào trên cơ thể và cũng không thể chứa đựng trong bất cứ phần tử vật chất nào. Và từ đó mà ông đưa ra kết luận của mình rằng: thể xác và tinh thần hẳn phải hoàn toàn tách biệt và khác nhau về bản chất.[55]

Mối quan hệ giữa tinh thần và thể xác vẫn sẽ còn được lặp lại nhiều lần trong triết học và ta sẽ sớm thấy Descartes cũng có những lập luân của mình để chứng minh sự tách biệt của lý trí và cơ thể (khá thú vị là chúng cũng có phần tương đồng với Avicenna).[56] Tuy vậy, với sự phát triển của khoa học, đặc biệt là khi những hiểu biết về bộ nãosự hình thành ý thức ngày càng gia tăng, quan điểm rằng "ý thức" tách biệt hoàn toàn khỏi "cơ thể" hẳn cũng khó đứng vững.[56]

AverroesSửa đổi

 
"Muhammad Tông đồ của Chúa", được khắc trên cánh cổng của nhà thờ Hồi giáo Al-Masjid an-Nabawi.

Averroes sinh năm 1126 trong một gia đình với truyền thống làm luật sưthẩm phán; không có nhiều thông tin về học vấn của ông. Tầm quan trọng của Averroes trong triết học được gắn với những bình chú của ông cho các tác phẩm của Aristotle.[57] Những bình chú của ông sau này được dịch sang tiếng Latinh và lưu truyền trong thế giới Trung cổ phương Tây. Chúng đã tạo được tiếng vang và có ảnh hưởng lớn lên nhiều nhà tư tưởng lớn ở thế kỷ 13, chẳng hạn như Thomas Aquinas. Trong nhiều thế kỷ, những học giả Aristotle tôn vinh và gọi ông là Nhà chú giải duy nhất cho Aristotle.[58]

Averroes cũng nói về mối quan hệ giữa triết học và tôn giáo. Trong thế giới đạo Hồi, tất cả mọi người đều cần được đọc và tiếp thu những lời giảng từ nhà tiên tri Muhammad. Theo Averroes, những người tin tưởng đơn thuần và không được đào tạo thì chỉ có thể hiểu được nghĩa ngôn từ của câu chữ của Thánh điển như được giảng giải bởi thầy giáo họ.[58] Nhưng những triết gia chân chính thì có thể sử dụng triết học để lập luận và mở ra chân lí bên dưới lớp màn của những ngôn từ đơn thuần.[58] Một số đoạn trong kinh Koran có vẻ sai về mặt câu chữ nhưng Averroes tin rằng: chúng có thể được diễn giải nếu sử dụng triết học, và nhờ vậy mà chân lý thực sự mới có thể hiển lộ.[59] Đáng tiếc rằng, học thuyết của ông sau này lại bị hiểu lầm thành: có những điều đúng trong Thánh kinh nhưng không đúng trong triết học và ngược lại (gọi là thuyết "Hai sự thật"); và điều này cũng ít nhiều làm ảnh hưởng đến danh tiếng của Averroes về sau.[58]

Thomas AquinasSửa đổi

 
Các học giả thời Trung Cổ cho rằng các công trình của Aquinas (ở giữa) có thể sánh ngang với Aristotle (bên trái) và Plato (bên phải), và hơn hẳn Averroes, người đang nằm dưới chân ông.

Thomas Aquinas được coi là một trong những triết gia Cơ Đốc nổi tiếng và có ảnh hưởng nhất trong suốt thời Trung Cổ. Aquinas để lại cho nhân loại một di sản đồ sộ: các tác phẩm của ông có tổng cộng 8,686,577 chữ.[60] Một trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Summa Theologiae ("Tổng luận Thần học") với hơn 1,500,000 chữ, có chủ đề xoay quanh triết học và thần học.[60] Tháng 12 năm 1273, nhiều tín đồ Công giáo tin rằng, ông đã có một trải nghiệm siêu nhiên với Chúa; sau khoảnh khắc đó, ông không bao giờ viết thêm một thứ gì nữa. Khi người đồng tu Reginald xứ Piperno thuyết phục Aquinas quay trở lại làm việc, ông trả lời: "Những gì tôi viết giờ chỉ giống như một sợi rơm nếu so với những gì tôi thấy mà thôi" (mihi videtur ut palea).[61] Aquinas vĩnh viễn trở về với Chúa ba tháng sau đó.

Một trong những ý tưởng nổi tiếng nhất gắn với Thomas Aquinas là cách ông chứng minh Chúa thực sự tồn tại. Ông đưa ra năm lập luận của mình, được gọi là Năm con đường để khẳng định cho sự tồn tại của Chúa, đó là:

  1. Lập luận bằng chuyển động: Trong thế giới này luôn tồn tại những chuyển động. Sự chuyển động hay biến đổi của một sự vật này phải được gây ra bởi sự tác động của một sự vật khác. Nhưng chuỗi này không thể kéo dài vĩnh viễn và do vậy, vào giai đoạn tiên khởi phải có một tác nhân chuyển động mà không bị tác động bởi sự vật khác. Đó chính là Chúa.[62] [63]
  2. Lập luận bằng nguyên nhân: Mọi thứ xảy ra đều có nguyên nhân. Một vật không thể là nguyên nhân của tự nó vì như vậy thì chính nó phải tồn tại trước đó, và điều này dẫn đến mâu thuẫn; chính vì vậy, mọi sự kiện đều có nguyên nhân nằm trước đó. Tuy nhiên chuỗi này không thể kéo dài vĩnh viễn, do vậy phải có một nguyên nhân đầu tiên mà không được gây ra bởi bất cứ thứ gì khác. Đó chính là Chúa.[62][63]
  3. Lập luận bằng tính tất yếu: Mọi thứ đang tồn tại hẳn đều có một giai đoạn không tồn tại vào một thời điểm nào đó trong quá khứ. Vậy có thể sẽ tồn tại một giai đoạn mà không có một thứ gì tồn tại, tuy nhiên điều này rất phi lý. Chính vì vậy, hẳn phải có một thứ đã tồn tại mà tất cả mọi thứ khác đều phụ thuộc vào. Đó chính là Chúa.[62][63]
  4. Lập luận bằng sự so sánh: Chúng ta có thể so sánh phẩm chất của nhiều sự vật khác nhau trong thế giới này, chẳng hạn như vật đó tròn hay méo, nóng hay lạnh, sinh vật này khỏe mạnh hay ốm yếu,...Để có thể so sánh như vậy, hẳn phải tồn tại một thước đo chuẩn mực và hoàn hảo hơn tất cả. Đó chính là Chúa.[62][63]
  5. Lập luận bằng mục đích hoặc sự kiến tạo: Chúng ta có thể quan sát thấy những vật không có lý trí hành xử theo những cách giống nhau và có thể dự đoán được. Điều này không thể do tự chúng quyết định vì chúng không có lý trí. Do vậy, hành vi của chúng phải được "cài đặt" bởi một thực thể khác, và thực thể này có trí tuệ. Đó chính là Chúa.[62][63]

Thomas Aquinas được tuyên thánh vào năm 1323. Ngày nay, những tác phẩm phi thường của ông đang dần được khám phá trở lại, kể cả bởi những triết gia thế tục.[64]

Triết học thời kỳ Phục HưngSửa đổi

 
Vẻ đẹp của con người được tôn vinh và được đặt làm trung tâm trong chủ nghĩa nhân văn.

Thời kỳ Phục Hưng - "khôi phục lại sự hưng thịnh" - là một giai đoạn đỉnh cao về mặt văn hóa với sức sáng tạo vượt bậc trên nhiều lĩnh vực. Thời kỳ này bắt nguồn từ Florence vào thế kỷ 14 rồi sau đó lan tỏa đến khắp châu Âu và có ảnh hưởng cho đến thế kỷ 17, đây được coi là cầu nối giữa thời kỳ Trung Cổ và thời kỳ hiện đại. Các tác phẩm kinh điển Hy Lạp và Latin được hồi sinh trở lại và nở rộ trong cộng đồng, ở cả khía cạnh toán học và triết học, làm lung lay ảnh hưởng của Cơ Đốc giáo.[65] Và cũng trong quá trình chuyển biến này, Chúa Trời không còn là trung tâm của thế giới nữa, vị trí này giờ dành cho chính con người; câu hỏi "chúng ta sẽ là gì khi sang thế giới bên kia" trở thành "ta đang trải nghiệm gì ở thời điểm hiện tại".[66] Phong trào lấy con người làm trung tâm này được gọi là chủ nghĩa nhân văn.[65]

Một trong những đón chí tử giáng vào uy quyền của giáo hội đến từ khoa học. Sự phát triển của những quan sát khoa học, đặc biệt đến từ những đại biểu như Bruno hay Galilei, đã làm đảo lộn hệ thống giáo lý đã được Giáo hội đưa ra trong nhiều thế kỷ trước đó. Triết học và khoa học cũng chồng lấn lên nhau rất nhiều trong giai đoạn này; nhiều triết gia nổi tiếng ở châu Âu giai đoạn này cũng đồng thời là những nhà khoa học lỗi lạc.[65][67]

Thời điểm này cũng chứng kiến sự trỗi dậy của hai trường phái lập luận đối lập nhau. Tại lục địa châu Âu, nhiều nhà triết học và toán học vĩ đại như Descartes, PascalLeibniz tin rằng: lí luận là cách thức tốt nhất để có thể đạt được tri thức. Chủ nghĩa cho rằng kiến thức chỉ có thể đến từ việc lí luận này được gọi là chủ nghĩa duy lí. Ở bờ bên kia, các một số những nhà triết học nổi tiếng ở Anh quốc như John Locke hay Berkeley lại cho rằng, kinh nghiệm mới là chìa khóa để đạt được tri thức; chủ nghĩa nhấn mạnh đến vai trò của kinh nghiệm (chứ không phải lí tính) này được gọi là chủ nghĩa duy nghiệm. Mặc dù khác biệt nhau về mặt tư tưởng, chủ nghĩa duy lí và duy nghiệm đều đặt con người vào trung tâm và cho rằng con người có thể đạt được tri thức, dù là qua lập luận hay trải nghiệm.[68]

Nhiều tư tưởng triết học của thời kỳ này cũng bàn về luân lí và chính trị và đưa ra nhiều học thuyết phi thường về mô hình xã hội.[68]

Một số học thuyết về chính trịSửa đổi

MachiavelliSửa đổi

 
Chân dung của Niccolò Machiavelli, được vẽ bởi Santi di Tito

Machiavelli được sinh tại Florence vào năm 1469 và ta không có nhiều thông tin về 28 năm đầu của cuộc đời ông. Ông từng tham gia vào chính sự và hoạt động ngoại giao của thành Florence. Machiavelli cũng đã gặp Cesare Borgia, đứa con ngoài giá thú của Giáo hoàng Alexander VI. Mặc dù Cesare là kẻ thù của thành bang Florence, Machiavelli ấn tượng và ngưỡng mộ trước nhiệt huyết và trí thông minh của ông.[69][70] Năm 1512, người Tây Ban Nha giải thể chính quyền thành bang và gia tộc Medici trở lại cai trị và thiết lập nền chuyên chế. Sự trở lại của gia tộc Medici đáng nhẽ ra có thể là một cơ hội lớn cho Machiavelli nhưng ông lại bị hiểu nhầm là có liên quan đến một âm mưu tạo phản và bị tra tấn cũng như cầm tù. Chính trong thời gian này, ông đã viết tác phẩm để đời của mình: Quân Vương, để dâng cho nhà Medici.[69][70]

Mặc dù tương đối ngắn, Quân Vương là tác phẩm chính trị nổi tiếng nhất vào thời Phục Hưng và đã cái tên Machiavelli đi vào lịch sử.[69] Rất khác so với những luận văn bàn về chính trị khác, tác phẩm này không bàn về một mô hình xã hội lý tưởng hay những phẩm chất của một người lãnh đạo tốt; thay vào đó, nó đưa ra hình mẫu mà các nhà cai trị nên trở thành. Một trong những chủ đề lớn của tác phẩm đó là, nhà cai trị nên cố gắng để trông có vẻ đức hạnh, hơn là thực sự sở hữu những giá trị đạo đức như vậy. Để trở thành một quân vương, một người phải thể hiện rằng mình ủng hộ sự tự do; nhưng tại văn phòng và bàn làm việc, tự do là một trong những thứ cần phải tránh. Một quân vương nên thể hiện mình là một người vị tha hơn là một người độc ác; nhưng thực sự, được người dân kính sợ thì an toàn hơn nhiều so với được người dân yêu quý. Dù vậy, một nhà cai trị khôn ngoan vẫn nên tránh gieo những tai ương và oán hận không cần thiết vì đó có thể là nguồn gốc cho sự bạo loạn.[69] Mục đích sẽ biện minh cho phương tiện, người quân vương không nên để những giá trị luân lý và đạo đức cản trở mình để đạt được thành công cho chính mình và cho nhà nước.[71]

Dù những ý tưởng của Machiavelli được thể hiện rất rõ ràng qua cuốn sách, nhưng không ai dám chắc điều mà Machiavelli thực sự muốn truyền tải. Một trong những lý do đó là ông đã viết Quân Vương bằng tiếng Ý, thứ ngôn ngữ bình dân, chứ không phải là tiếng Latinh dành cho tầng lớp cai trị.[72] Thủ tướng Ý khét tiếng Mussolini mô tả Quân Vương là "chỉ dẫn tối cao cho chính trị gia.[73] Ngày nay, có một từ tiếng Anh mang tên Machiavelli: "Machiavellian", được sử dụng để mô tả những hành động gian trá, mưu mô xảo quyệt, như vậy cũng đủ thấy rằng ảnh hưởng của ông là rất sâu rộng.[73]

Utopia của MoreSửa đổi

 
Trang bìa của tác phẩm Utopia, được viết bởi Thomas More

Thomas More là một người nhiệt thành theo chủ nghĩa nhân văn và Utopia là tác phẩm nổi tiếng nhất mà ông để lại. Cuốn sách này, được viết bằng tiếng Latinh, mô tả sinh động một vùng đất thịnh vượng không có thật và rất phù hợp ở thời điểm bấy giờ khi công chúng đều đang mong ngóng tin tức từ những miền đất mới được khai phá.[74]

Utopia ("Miền đất không tưởng" hoặc "Địa đàng mặt đất" trong tiếng Việt) là một hòn đảo có 54 thành phố với 6000 ngôi nhà.[74] Mỗi ngôi nhà đều có một mảnh ruộng riêng và việc làm đồng sẽ được phân chia luân phiên giữa các thành viên. Tại mỗi thành phố, nhà ở sẽ được chuyển luân phiên mỗi 10 năm và không có tài sản riêng tư, mọi thứ thậm chí còn không cần phải khóa hay bảo vệ. Mọi công dân, bên cạnh việc đồng áng, sẽ phải học một môn thủ công; tất cả mọi người đều phải lao động nhưng thời gian lao động chỉ là 6 tiếng một ngày. Vì không có những kẻ ăn bám nên công việc được chia sẻ giữa mỗi người và trở nên nhẹ nhàng hơn, mọi người do vậy sẽ có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn để nghỉ ngơi và sinh hoạt văn hóa.[74] Chỉ có một số rất ít người không nằm trong hệ thống này, như là các học giả, tăng lữ hoặc nhà quản lý, những người sẽ giúp điều phối cộng đồng. Về tổng thể, Utopia là một vùng đất thân thiện và chào đón mọi người; và có một sự thật là nơi đây chưa bao giờ ngừng những bài ca về sự hòa hợp và hạnh phúc.[75]

Giống như tác phẩm chính trị nổi tiếng thời cổ đại là Cộng hòa của Plato, Utopia vẽ nên một xã hội sống động và đầy cuốn hút; và qua đó châm biếm một số hiện trạng của xã hội. Nhưng cũng giống như Plato, More để cho người đọc suy nghĩ xem bao nhiêu ý tưởng trong cuốn sách là những đề xuất chính trị nghiêm túc, và bao nhiêu trong số đó chỉ đơn thuần chế giễu sự méo mó của thế giới hiện tại.[76] Nhiều học giả cho rằng, ý tưởng về một thế giới không tưởng như Utopia là một trong những nguồn cảm hứng cho chủ nghĩa cộng sản sau này.[77]

Triết học chính trị của Thomas HobbesSửa đổi

 
Trang bìa tác phẩm Leviathan của Thomas Hobbes. Trên cơ thể của nhân vật lớn trung tâm là rất nhiều những con người nhỏ hơn, thể hiện một phần chủ đề của tác phẩm.

Thomas Hobbes là một nhà triết học duy nghiệm tại Anh. Trong khoảng thời gian ở Paris để tránh chiến tranh, ông đã viết nên tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, Leviathan. Không chỉ là một trong những kiệt tác viết về chính trị, Leviathan cũng đồng thời là một trong những áng văn xuôi vĩ đại nhất được viết bằng tiếng Anh.[78]

Leviathan nói về những tương tác dẫn đến việc hình thành nên một Nhà nước. Hobbes bắt đầu bằng cách mô tả cuộc sống của con người nếu như đặt ngoài sự kiểm soát của nhà nước; nói theo một cách khác, mọi vật đều ở trong một trạng thái nguyên thủy, tự nhiên. Vì tất cả mọi người có khả năng và sức mạnh tương tự nhau, và đồng thời cũng có những ham muốn tương tự nhau, những cuộc cạnh tranh không khoan nhượng để giành lấy tài sản, quyền lực và danh vọng sẽ không bao giờ chấm dứt. Hobbes viết một cách sống động về trạng thái tự nhiên này:[78]

không có một hiểu biết nào về mặt đất; không có ý niệm về thời gian; không có nghệ thuật; không có chữ viết; không có xã hội; và, tệ nhất trong tất cả, [luôn có] ám ảnh và nguy hiểm dai dẳng về một cái chết tàn khốc; và cuộc đời của con người, [do đó sẽ] cô độc, nghèo đói, khổ sở, tàn bạo và ngắn ngủi.[79]

Về mặt lịch sử, chúng ta không biết một trạng thái nguyên thủy như vậy có tồn tại ở đâu trên thế giới này không, nhưng Hobbes cho rằng, ta có thể thoáng thấy những đặc điểm của nó tại những bộ tộc ở vùng đất Tân Thế giới mới được khám phá hoặc ngay cả tại những nơi văn minh, mỗi người cũng luôn đề phòng và cẩn trọng với những người xung quanh. Trong trạng thái nguyên thủy như vậy, không hề có luật pháp thực sự, nhưng có tồn tại cái gọi là "luật tự nhiên" dưới dạng những nguyên tắc về ham muốn hoặc những công thức giúp tăng cơ hội sống sót.[79] Những luật này thúc giục con người trong trạng thái tự nhiên tìm đến hòa bình và sự ổn định, và do vậy, họ sẽ từ bỏ một số sự tự do của mình với điều kiện những người khác cũng làm như vậy. Từ đó, dần dần, con người sẽ dâng tất cả những quyền của mình, trừ quyền được tự vệ, đến một quyền lực trung tâm có thể áp dụng luật tự nhiên dưới dạng sự trừng phạt.[80]

Nền chuyên chế được hình thành bằng sự thỏa thuận giữa mỗi người với mọi người khác; mỗi cá nhân đều sẽ từ bỏ quyền của mình với điều kiện những người khác cũng làm điều tương tự. Hobbes viết: "Điều này được hoàn thành, số đông như vậy sẽ quy về một người duy nhất, đó là Nhà nước. Đây chính là thứ sẽ tạo nên [con thủy quái] Leviathan, hay nếu nói một cách cung kính hơn, đó là tạo nên một vị thần trên trần thế, chúng ta nợ (...) con người này hòa bình và sự bảo vệ [mà chúng ta đang có]."[80]

Triết học vật lý và sự phát triển của khoa họcSửa đổi

Một trong những bước tiến lớn của triết học vào thế kỷ 16 đó chính là sự phân tách giữa triết học tự nhiêntriết học vật lý. Cả hai môn học này có chung mục tiêu là tìm hiểu những vật chất xung quanh; nhưng bộ môn vật lý khoa học thì phát triển bằng cách quan sát và đưa ra các mô hình giả thiết chứ không dựa vào những kiến thức tiên nghiệm hoặc những lập luận về mặt khái niệm. Khi khoa học ngày càng phát triển, vai trò của triết học trong lĩnh vực này cũng ngày càng mờ nhạt, cũng giống như chính bộ môn triết học tự nhiên vậy.[81]

Ta có thể hiểu rõ hơn sự tách biệt này qua hai đại biểu lớn về thiên văn học của thời kỳ này là BrunoGalileo. Cả hai nhân vật mà ta nhắc đến đều quan tâm đến những bài viết của Copernicus với ý tưởng mang tính cách mạng: Trái Đất quay xung quanh mặt trời chứ không phải ngược lại. Nhưng có một sự khác biệt rất lớn giữa Bruno và Galileo khi mỗi người phát triển lý thuyết nhật tâm này.[81]

BrunoSửa đổi

Giordano Bruno là một học giả phiêu bạt ở nước Ý và ông cũng từng là một tu sĩ theo dòng Đa Minh. Bruno lập luận rằng, thế giới tự nhiên là vô hạn, không có bờ hay một giới hạn nào cả. Trong khoảng không gian vô tận này là rất nhiều những hệ mặt trời và mặt trời mà chúng ta biết cũng chỉ là một trong số chúng. Không có một ngôi sao nào có thể được coi là trung tâm của vũ trụ vì mọi vị trí chỉ là tương đối. Trái Đất mà ta đang sinh sống cũng không có đặc quyền gì cả, sự sống có thể tồn tại ở đâu đó trong vũ trụ ngoài kia. Theo Bruno, vũ trụ được tạo nên từ các nguyên tử, cả về mặt vật lý và tâm linh; mỗi con người cũng là một nguyên tử có ý thức, bất tử, phản ánh chính mình trong vũ trụ rộng lớn này.[81]

Không mấy ngạc nhiên khi lý thuyết của Bruno bị Giáo hội kịch liệt phản đối. Ông bị Tòa án dị giáo kết tội và nhận án hỏa thiêu sau khi ông từ chối thay đổi quan điểm của mình. Thú vị thay, nhiều giả thiết và phỏng đoán của Bruno vẫn còn ảnh hưởng đến thiên văn học nhiều thế kỷ sau đó. Nhưng ta vẫn phải nhớ rằng, chúng chỉ là những phỏng đoán; với những thông tin mà ta đã biết cho đến nay, Bruno không thực hiện một thí nghiệm hay quan sát nào cả.[81]

GalileoSửa đổi

 
Galileo đối mặt với Tòa án dị giáo, tranh của Cristiano Banti vào năm 1857.

Một câu chuyện đối nghịch hoàn toàn với Bruno là Galilei Galileo. Ông là giáo sư có thâm niên tại đại học Padua và cũng là nhà toán học hoàng gia cho Đại công tước Medici xứ Tuscany.[81] Sử dụng kính viễn vọng mới được cải tiến của mình, Galileo có thể quan sát được những ngọn núi trên mặt trăng cũng như những đốm đen của mặt trời; và ông rút ra kết luận rằng những thiên thể này cũng được cấu tạo từ những dạng vật chất trên Trái Đất chứ không phải là một dạng tinh chất khác biệt nào đó như Aristotle đã nói. Từ những quan sát về các pha của sao Kim, Galileo thu được những bằng chứng mới ủng hộ cho thuyết nhật tâm của Copernicus. Một trong những thí nghiệm nổi tiếng nhất của Galileo là ông đã thả hai quả cầu cùng chất liệu nhưng có khối lượng khác nhau từ tháp nghiêng Pisa xuống, và chúng đã chạm đất cùng một lúc. Thí nghiệm này đã phủ định kết luận trước đó của Aristotle rằng vật càng nặng thì rơi sẽ càng nhanh.[82] Bằng những thực nghiệm của mình, Galileo có thể bác bỏ rất nhiều khía cạnh trong vật lý của Aristotle - vốn đang rất thịnh hành vào thời điểm đó.[83]

Không mấy ngạc nhiên khi những học giả trung thành với khoa học Aristotle không ưa gì Galileo, nhưng thứ khiến ông gặp rắc rối với tòa án dị giáo là những bình luận của ông về mối quan hệ giữa thuyết nhật tâm và những mô tả trong kinh Thánh, viết rằng mặt trời di chuyển qua bầu trời.[83] Galileo nói rằng, các tác giả của kinh Thánh chỉ đơn giản là đã miêu tả một hiện tượng theo cách phổ biến để mọi người có thể hiểu, nhưng những căn cứ thực sự thì sẽ cần phải được tìm ra bằng khoa học.[84] Hồng y Bellarmine, cũng là người đã kết tội Bruno, phản bác lại rằng, thuyết nhật tâm, dù có được một số các bằng chứng ủng hộ, vẫn chỉ là một giả thuyết và vẫn chưa được thiết lập một cách chắn chắn.[84] Có một điều khá mỉa mai ở đây khi nhà vật lý cho thấy rằng mình có thể phân tích kinh Thánh tốt hơn, trong khi vị Hồng y thì thể hiện khả năng phản biện của một triết gia khoa học. Không có bên nào chiến thắng trong cuộc tranh luận này, Galileo kiên quyết giữ lại những giả thuyết của mình còn Tòa án dị giáo quyết định giam giữ ông vô thời hạn.[84] Câu chuyện về cuộc đối đầu giữa Galileo và Giáo hội cũng như câu nói nổi tiếng của ông (dù người ta không chắc chắn rằng Galileo đã nói điều này): "Dù sao Trái Đất vẫn quay" được lưu truyền từ đó cho đến mãi về sau.[84]

Francis BaconSửa đổi

 
Francis Bacon được coi là cha đẻ của phương pháp nghiên cứu khoa học. Từ thế kỷ 16 trở đi, khoa học được coi là phương thức chính để con người thu nhận kiến thức. Trên hình là hình ảnh nhà thiên văn Tycho Brahe tại đài quan trắc của ông.

Một trong số những nhà triết học nổi bật nhất trong thời kỳ Phục hưng là Francis Bacon. Ông được cho là một trong nhà duy nghiệm đầu tiên, với quan điểm chủ đạo rằng tri thức cần phải được xuất phát từ những kinh nghiệm khách quan.[85] Nhưng di sản lớn hơn của Bacon là ông đã đề ra một phương pháp khoa học để nghiên cứu thế giới, đặt trọng tâm vào việc thu thập dữ liệu và quy nạp để đưa đến tri thức.[85] Năm 1626, vì muốn nghiên cứu về khả năng bảo quản thịt trong nhiệt độ thấp nên Bacon đã nhồi tuyết vào một con gà; không may, ông bị trúng lạnh và qua đời vì viêm phổi ba ngày sau đó; không có ai ghi lại điều gì đã xảy ra với con gà.[86]

Vào thời của mình, Bacon đã nhận ra rằng những phương pháp logic hiện có là không đủ vì nó thiếu một lý thuyết về phát hiện khoa học.[87] Trong cuốn Novum Organum ("Phương tiện tư duy mới"), ông thay thế logic truyền thống Aristotle bằng một phương pháp mới khác biệt và hữu dụng hơn.[88] Với Bacon, mục đích của việc nghiên cứu là nhằm mở rộng sức mạnh của con người đối với thế giới thiên nhiên. Tam đoạn luận của Aristotle sẽ không cung cấp cho chúng ta những kiến thức mới, thứ ta cần bây giờ là phương pháp quy nạp. Quy nạp mà Bacon nói tới không phải là những khái quát nóng vội từ một số lượng ít ỏi các mẫu trong tự nhiên, mà là một quy trình với các bước rõ ràng, xuất phát từ những hiện tượng đơn lẻ và đi theo chiều tăng dần về độ khái quát. Trong quy trình này, người nghiên cứu cũng cần phải tránh để các thiên kiến của mình làm sai lệch kết quả và kết luận thu được.[89]

Quy nạp có thể sẽ giúp ta tìm ra bản chất đang được che giấu của sự vật, vì vậy, nó cần phải được bắt đầu bằng những quan sát liên tục và chính xác. Chẳng hạn, nếu như ta muốn nghiên cứu về bản chất của "nhiệt", ta sẽ phải xem nhiệt xuất hiện khi nào (dưới ánh nắng mặt trời hoặc khi ta quẹt diêm,...) và không xuất hiện khi nào (dưới ánh sáng của mặt trăng và những vì sao), khi nào thì nó xuất hiện nhưng với những trạng thái khác nhau (như nhiệt độ của một con vật tại những thời điểm và môi trường khác nhau).[89] Khi ta thiết lập một bảng các dữ liệu, ta có thể tìm ra điều gì luôn luôn hiện hữu khi nói về nhiệt hoặc điều gì luôn vắng mặt khi không có nhiệt và điều gì khiến kết quả thay đổi... Quy trình này có thể được lặp lại và áp dụng phổ quát.[89] Phương pháp của Bacon không phải là không có những khuyết điểm, tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng: ông đã đặt nền móng cho một phương pháp khoa học phổ biến và có ảnh hưởng lâu dài. Bacon được tôn vinh là "cha đẻ" của phương pháp khoa học,[90] "cha đẻ của triết học thực nghiệm"[91], sử gia William Dixon nhận xét về ông:

Ảnh hưởng của Bacon trong thế giới hiện đại lớn đến mức tất cả những người hiện đang đi tàu hỏa, gửi điện tín, dùng máy cày hơi nước, ngồi trên một chiếc ghế, băng qua kênh hoặc Đại Tây Dương, ăn một bữa tối ngon lành, tận hưởng một khu vườn xinh đẹp, hoặc trải qua một cuộc phẫu thuật không đau đớn, đều nợ ông ấy một thứ gì đó.[92]

Chủ nghĩa duy lýSửa đổi

DescartesSửa đổi

 
Chân dung René Descartes, phỏng theo tranh của Frans Hals.

René Descartes là một trong những nhà triết học vĩ đại và nổi tiếng nhất vào thế kỷ 17. Ông sinh năm 1596 tại một ngôi làng mà nay đã được đổi tên thành La-Haye-Descartes để tôn vinh nhà triết học. Descartes chưa bao giờ giảng dạy trong một trường đại học nào và ông viết các tác phẩm của mình không phải bằng tiếng Latinh hàn lâm mà bằng tiếng Pháp thông thường để hướng đến số đông công chúng.[93] Ngày nay, trong những di sản mà Descartes để lại, các tác phẩm triết học của ông là được đọc nhiều nhất; nhưng vào thời của mình, Descartes nổi tiếng nhất với những công trình khoa học.[93] Descartes là người đã đặt ra hệ trục tọa độ trong toán học mà nay mang tên ông, bên cạnh đó, ông còn có những nghiên cứu vật lý và khí tượng học.[94] Năm 1637, ông xuất bản ba tiểu luận khoa học kèm theo phần lời tựa Bàn về phương pháp (en. Discourse on the Method); vào thời điểm hiện tại, trong khi những tiểu luận chỉ được đọc bởi những chuyên gia về lịch sử khoa học, phần lời tựa đã được dịch ra hàng trăm thứ tiếng và đến tay hàng triệu độc giả trên thế giới.[94] Ông qua đời vì viêm phổi vào năm 1650.[94]

Trong hệ thống triết học của Descartes, mọi điều đều có thể được giải thích bằng hai phạm trù, hay bằng tính nhị nguyên, của vật chất (en. matter) và ý thức (en. mind). Và quả thực, chúng ta nợ ông cách suy nghĩ rằng: vật chất và ý thức là hai bộ phận tương hỗ, duy nhất và trọn vẹn nhất, cấu thành nên vũ trụ mà ta đang sinh sống này. Với Descartes, con người là một loại vật chất biết suy nghĩ và thành phần trọng yếu nhất của con người là ý thức hay tâm trí. Trong cuộc sống thường ngày, ông công nhận rằng, ý thức và cơ thể của chúng ta hòa hợp chặt chẽ với nhau, nhưng sẽ thật sai lầm nếu coi cơ thể là yếu tố chính làm nên con người ta. Ngoài ra, Descartes cũng nói về tâm trí con người theo một cách khác, trọng tâm của tâm trí con người không phải là trí tuệ mà là khả năng ý thức (en. conscious) hay chính là khả năng mà ta nhận biết những suy nghĩ của chính mình và nhận biết về thế giới xung quanh.[94]

 
Những giác quan mà ta sử dụng hàng ngày có thể đưa cho chúng ta những thông tin sai lệch. Những đường kẻ ngang trong hình trông có vẻ như dốc nhưng thực tế là chúng song song với nhau.

Descartes cho rằng nhiệm vụ trước nhất của triết học là phải khiến cho một người có thể loại bỏ tất cả những niềm tin của anh ta và nghi ngờ tất cả mọi thứ có thể.[95] Descartes bắt đầu đưa các ví dụ với mức độ khắc nghiệt tăng dần để cho thấy sự chắc chắn trong thế giới này dễ lung lay đến thế nào. Chẳng hạn, chúng ta tri giác và cảm nhận thế giới nhờ những giác quan, nhưng những giác quan này hẳn cũng từng lừa chúng ta không ít lần (như tạo ra các ảo giác), nên chúng không thể là những điểm tựa cho tri thức.[96] Và rồi Descartes đưa ra ví dụ cực đoan nhất, ông tưởng tượng có một con quỷ đầy quyền năng và xấu xa đang đánh lừa ông về tất cả mọi thứ, chính vì vậy mà ông sẽ nghi ngờ về tất thảy mọi sự xung quanh.[97] Nhưng tại chính điểm này, Descartes nhận ra có một niềm tin chắc chắn, một niềm tin mà ông sẽ không bao giờ phải hoài nghi: đó là niềm tin rằng chính ông đang tồn tại. Mỗi khi ta nghĩ hay nói: "Tôi tồn tại", ta không thể sai, vì nếu ta không hiện hữu, làm sao ta có thể nghi ngờ rằng ta có đang tồn tại hay không.[97] Ông thể hiện ý tưởng này qua câu nói nổi tiếng: "Tôi tư duy, nên tôi tồn tại." Với Descartes, việc chắc chắn về sự tồn tại của bản thân mình cho ông một điểm tựa vững chắc; nó giúp ông không bị rơi vào vòng xoáy hoài nghi và cho phép ông rời khỏi chủ nghĩa hoài nghi và đi đến với tri thức.[98]

Descartes có ảnh hưởng rất lớn đến nền triết học nói chung. Ông thường được coi là cha đẻ của triết học hiện đại khi ông trao cho bộ môn này sự chắc chắn của toán học mà không cần viện đến bất kỳ giáo lý hay thẩm quyền nào. Descartes cũng nổi tiếng với việc đã tách biệt vật chất và ý thức với vai trò là hai bản thể tách biệt, thứ mà ta sẽ gọi là thuyết nhị nguyên Descartes. Triết học những thế kỷ sau ngày Descartes mất được ngự trị bởi những triết gia hoặc phát triển tư tưởng ông hoặc xem nhiệm vụ chính của mình bác bỏ những ý tưởng này, như Spinoza hay Leibniz.[99]

SpinozaSửa đổi

 
Chân dung của Baruch Spinoza.

Baruch hoặc Benedictus Spinoza là một trong số những người kế tục quan trọng của Descartes và một trong những điều ông quan tâm là mối quan hệ giữa triết học Descartes và Chúa trong các kinh sách Do Thái. Spinoza bị rút giấy phép thông công vào năm 1656 vì không chấp nhận một số các giáo điều Do Thái. Spinoza sinh hoạt và làm việc như một nhà tư tưởng độc lập: ông không nhận các lời mời đến từ những đại học hay những cá nhân tên tuổi vào thời điểm đó. Ông kiếm sống bằng một nghề khá thú vị vào thời điểm đó là mài kính thủy tinh, không may, đây cũng là một trong những lý do dẫn đến cái chết của ông. Spinoza mất năm 1677 do bệnh phổi, một phần là do ông đã hít phải bụi thủy tinh trong quá trình làm việc.[100]

Một trong những khái niệm trung tâm của triết học Spinoza là quan điểm nhất nguyên luận của ông: Spinoza cho rằng chỉ có một bản thể vô hạn và duy nhất là "Chúa hay Thiên nhiên" (Deus sive Natura). Sự xác định "Chúa" và "Thiên nhiên" trong câu này có thể được hiểu theo hai cách khác nhau. Nếu như ta coi Spinoza đã dùng từ "Chúa" chỉ để nói về hệ thống tổ chức diệu kỳ tự nhiên thì ông có vẻ là một người vô thần (hoặc phiếm thần).[100] Nhưng nếu theo cách ngược: coi Thiên nhiên là Chúa, hay nói theo cách khác là mỗi khi các nhà khoa học nói điều gì về tự nhiên thì thực ra họ đều đang nói về Chúa thì ta lại thấy rằng: Spinoza có vẻ như là, theo chữ của Kierkegaard, một người bị "ngộ độc bởi Thiên Chúa".[101]

Trước đó, Descartes đã định nghĩa "bản thể" (en. Substance) là: "thứ mà không cần gì ngoài chính nó để tồn tại" và như ta đã thấy, Descartes cho rằng có hai phạm trù bản thể chung nhất là Vật chất và Ý thức. Spinoza không có cùng quan điểm như vậy, theo ông, có và chỉ có Chúa là có thể thỏa mãn định nghĩa này một cách chặt chẽ nhất, vì Chúa đã tạo ra tất cả và mọi điều cũng có thể bị tiêu diệt bởi Chúa.[101] Vật chất và Ý thức không phải là các bản thể; tính chất nổi bật nhất của hai khái niệm này là quảng tính (en. Extension) và Ý tính (en. Thought) thì cũng chỉ là những thuộc tính khác nhau của một bản thể Chúa duy nhất mà thôi.[102] Spinoza tiếp tục: vì Chúa là vô hạn, nên Ngài cũng sẽ có vô hạn những thuộc tính, nhưng quảng tính và ý tính là hai thuộc tính mà con người có thể cảm nhận được.[102]

Nếu coi Chúa là một bản thể duy nhất thì ở cấp độ vi mô hơn ta có thể thấy rằng, những sự vật hoặc cá thể quanh ta chỉ là những phiên bản được nhận thức theo một trong các thuộc tính mà thôi. Chẳng hạn như tâm trí của con người là một phiên bản được tri nhận bằng ý tính, còn bộ não thì cũng là phiên bản đó nhưng được tri nhận theo quảng tính. Và như ta đã chỉ ra trước đó, hai thuộc tính này cũng chỉ là những thuộc tính của một Chúa duy nhất, nên mọi sự vật trong thế giới đều mang trong mình yếu tính của Ngài; thế giới tự nhiên là một hệ thống duy nhất, thống nhất và tự chứa trong mình tất cả những lý giải về chính nó.[103] [104]

LeibnizSửa đổi

 
Bản sao máy tính cơ của Leibniz, được trưng bày tại Viện bảo tàng Đức

Gottfried Wilhelm Leibniz sinh năm 1646, là con của một giáo sư triết học tại trường đại học Leipzig. Ngay từ khi còn rất trẻ thì Leibniz đã đọc các tác phẩm siêu hình học và đến khi 13 tuổi thì ông đã quen thuộc với tác phẩm các học giả đi trước.[105] Leibniz sau này đã thành lập và là chủ tịch đầu tiên của Học viện Hoàng gia Phổ. Ông thông thạo rất nhiều các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan đến toán họclogic học. Leibniz đã chỉnh sửa và nâng cấp máy tính toán trước đó của Pascal, ngoài ra ông cũng hiệu đính và tinh chỉnh hệ số nhị phân, đây đều là những cải tiến quan trọng và là tiền đề cho khoa học máy tính trong tương lai.[106] Trong toán học, Leibniz nổi tiếng vì cuộc tranh chấp dữ dội giữa ông và Newton về bản quyền của công trình vi tích phân (hai ông tìm ra phép tính này độc lập và sử dụng những phương pháp khác hẳn nhau). Ngày nay, định lý về vi tích phân mang tên cả hai nhà khoa học lỗi lạc, nhưng hệ thống kí hiệu của Leibniz thuận tiện hơn nên đã trở thành chuẩn mực trong thời điểm hiện tại.[107]

 
Vòng tròn chấm, được sử dụng trước tiên bởi những môn đệ phái Pythagore và sau đó là những người Hy Lạp, thể hiện cho thực thể siêu hình đầu tiên, đơn tử hay monad.

Leibniz chưa bao giờ xuất bản những tư tưởng triết học của ông một cách hệ thống và hoàn chỉnh, do vậy, nghiên cứu tổng thể về triết học của ông không phải là nhiệm vụ đơn giản.[108] Leibniz lập luận rằng, những thứ gì phức tạp ắt phải được cấu tạo từ những thứ đơn giản hơn, và những thứ đơn giản này phải không mang cho mình những đặc điểm về quảng tính (ví dụ như chiều dài, chiều rộng và chiều cao), vì nếu vậy thì chúng sẽ có thể được chia nhỏ hơn nữa.[109] Ta biết rằng, những thứ gì thuộc về vật chất đều có trong mình đặc điểm về quảng tính, vì vậy, thành phần đơn giản mà ta đang tìm kiếm là phi vật chất, có phần giống với những "ý niệm" hay "linh hồn" hơn; và Leibniz gọi đó là các đơn tử (en. Monad). Những đơn tử này tồn tại độc lập, không phát triển cũng như không bị tàn hoại và chúng không phụ thuộc vào thứ gì ngoài Chúa. Tuy nhiên, những đơn tử này có thể biến đổi, như ta sẽ thấy ngay sau đây.[109]

Hãy lấy ví dụ, nếu như ta nhìn thấy một bông hoa hồng, như vậy thì trong đầu của ta có xuất hiện hình ảnh của bông hoa này, vậy thì có phải là đơn tử (liên quan đến ý niệm) của ta thay đổi và bị tác động hay chịu ảnh hưởng từ bông hoa hay không.[109] Leibniz nói rằng: Không, đơn tử có thể biến đổi để phản ánh thế giới, nhưng không phải do nó chịu tác động từ thế giới mà do nó đã được lập trình để biến đổi đồng bộ với thế giới; sự biến đổi của đơn tử là từ bên trong, chứ không phải bên ngoài. Điều này giống như là nếu tất cả các chiếc đồng hồ được chuẩn hóa và chính xác tuyệt đối, chúng sẽ đánh chuông vào những thời điểm giống hệt nhau dù giữa chúng không có mối liên hệ nào. Do vậy, Chúa, người thợ đồng hồ vĩ đại của vũ trụ, đã tiền thiết lập trạng thái hòa hợp của vũ trụ thông qua các đơn tử.[109] Do đó, có thể nói, mỗi đơn tử chứa đựng trong mình sự tái hiện hoàn chỉnh của vũ trụ ở cả quá khứ, hiện tại và tương lai.[110]

Leibniz phát biểu rằng tâm trí của con người cũng là một đơn tử, chứa đựng trong đó sự tái hiện của cả vũ trụ. Do vậy, về nguyên tắc thì chúng ta có thể học hỏi và biết được mọi thứ trên thế giới hoặc vượt ra ngoài thế giới chỉ bằng cách suy luận và thăm dò tâm trí của chính mình.[110] Chẳng hạn, nếu như suy luận và phân tích đủ lâu thì chắc chắn ta có thể biết được nhiệt độ hiện tại trên Mặt trời là bao nhiêu, tuy nhiên những phân tích thế này có thể sẽ cực kỳ dài hoặc thậm chí là vô hạn (theo Leibniz thì chỉ có Chúa mới có thể thực hiện được những phân tích như vậy[109]), bởi vậy nên nếu ta muốn biết những thông tin này thì sẽ cần phải sử dụng những dụng cụ đo đạc và thực hiện những thí nghiệm.[110] Quan điểm cho rằng kiến thức có thể được thu nhận nhờ suy luận và tư duy là đặc điểm rất nổi bật của chủ nghĩa duy lý.

Chủ nghĩa duy nghiệmSửa đổi

John LockeSửa đổi

 
Chân dung John Locke, được vẽ bởi Kneller

Khi nghiên cứu về lịch sử triết học, John Locke thường được coi là cha đẻ của chủ nghĩa duy nghiệm. Ông sinh năm 1632 trong một gia đình khá giả. Locke được hưởng một nền giáo dục rất tốt, ông được theo học tại trường Westminster ở Luân Đôn và sau đó là tại trường đại học Oxford. Dù những ý tưởng triết học của Locke về chủ nghĩa duy nghiệm có tạo ra được những ảnh hưởng nhất định, thứ đem lại cho ông nhiều tiếng tăm nhất lại là những tác phẩm viết về chính trị. Ông đã đưa ra các học thuyết đề cập đến nhiều lĩnh vực xã hội khác nhau như tính hợp pháp của chính quyền, việc tư hữu và một số các vấn đề liên quan đến tôn giáo.[111] Locke từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong chính phủ nước Anh. Vào cuối đời, ông lui về sống ở nông thôn cách khá xa Luân Đôn và yên vui đọc sách cũng như viết lách. Ông ra đi trong nhẹ nhàng vào năm 1704.[112]

Một trong số những mâu thuẫn lớn nhất giữa chủ nghĩa duy nghiệm và chủ nghĩa duy lý là khi nói về những "ý tưởng bẩm sinh".[113] Những nhà triết học theo chiều hướng duy lý, từ Plato cho đến Leibniz, cho rằng: con người sinh ra đã mang trong mình những ý niệm bẩm sinh, tức là những ý niệm có được mà không cần phải trải qua kinh nghiệm.[114] Plato cho rằng, mọi tri thức đích thực vốn dĩ đều đã nằm bên trong mỗi con người, tuy nhiên khi ta chết đi và linh hồn đầu thai sang một thân xác mới thì ta đã quên đi tất cả; vì vậy, nếu theo Plato: quá trình học hỏi không cho ta thêm những ý tưởng mới mà giống như giúp ta "hồi tưởng" lại những ý niệm vốn đã sẵn có hơn.[115] Một đại diện khác là Leibniz, như đã phân tích ở trên, cũng cho rằng ta có thể đạt được tất cả tri thức nhờ vào một chuỗi các quá trình phân tích và suy luận.

 
Với Locke, tâm trí của mỗi người khi sinh ra giống như một tấm bảng trống trơn, chỉ có kinh nghiệm mới in dấu hay viết lên tấm bảng này.

Học thuyết về "ý tưởng bẩm sinh" là một trong những thứ "rác rưởi" mà Locke muốn quét đi nhất trên "con đường đi đến tri thức".[114] Ông kịch liệt phản đối ý tưởng cho rằng con người sở hữu bất cứ loại tri thức bẩm sinh nào. Một số người cho rằng: những nguyên tắc vô cùng phổ quát như "Một cộng một bằng hai" hay "Một vật không thể vừa tồn tại vừa không tồn tại" là những ví dụ cho ý niệm bẩm sinh - những tri thức có sẵn trong mỗi con người, Locke không đồng tình với ý kiến này.[114] [116]Ngay cả khi những nguyên lý này tương đối hiển nhiên và phổ biến, không có gì chứng minh rằng chúng là bẩm sinh, có nhiều lý do để khiến người ta có cùng một ý tưởng.[116] Chẳng hạn, mọi người ở mọi dân tộc đều biết rằng "lửa thì nóng", nhưng đó là do trải nghiệm của con người là đồng nhất (cảm nhận được nhiệt của lửa) chứ không phải do một tri thức bẩm sinh ("lửa thì nóng") được cài sẵn nào đó. Locke tiếp tục nói rằng, ngay cả những nguyên tắc logic (chẳng hạn như "một cộng một bằng hai") cũng không phổ quát hoàn toàn: nhiều trẻ em, những người có vấn đề về trí tuệ hay những người không nghiên cứu về khoa học sẽ không có hiểu biết về những ý tưởng này. Thật vô lý khi nói rằng con người sở hữu sẵn những ý niệm nhưng lại không thể tiếp cận được chúng.[114]

Quan điểm của Locke là, tâm trí của mỗi đứa trẻ được sinh ra là một tabula rasa ("tấm bảng trống"), hoàn toàn không chứa bất kỳ một ý niệm sẵn có nào cả.[117] Sau đó, ta trải nghiệm thế giới và những kinh nghiệm này được hằn lại trên tấm bảng trắng đó. Nhờ quá trình tiếp xúc với thế giới mà ta thu được những ý tưởng, bộ não của con người không thể tạo ra ý tưởng mới hoàn toàn, nó chỉ có thể ghi lại những ý tưởng thông qua trải nghiệm mà thôi. Locke cho rằng có hai loại ý tưởng đơn giản, một loại là những ý tưởng đến từ cảm giác, ví dụ như màu sắc, mùi vị, nhiệt độ,... và một loại là những ý tưởng có được khi ta suy tư hay còn được gọi là "tri thức khi xem xét nội tâm", chẳng hạn như hiểu biết, ý chí, cảm xúc... Với ông, không có một tri thức nào có thể có nguồn gốc vượt ngoài hai loại ý tưởng này hay nói cách khác, một người bị mù bẩm sinh thì không thể có ý niệm về màu đỏ.[118]

BerkeleySửa đổi

George Berkeley là một trong những triết gia nổi bật nhất của đất nước Ireland, ông sinh ra và lớn lên tại một vùng đất gần lâu đài Dysart.[119] Vào năm 1714, khi đã viết sau các tác phẩm triết học chính của mình, ông rời khỏi Ireland và du hành quanh châu Âu. Qua chuyến đi này, ông cho rằng nền văn hóa ở châu Âu đang mục ruỗng dần nhưng ở phía bên kia đại dương, châu Mỹ đang đón những luồng tư tưởng hết sức mới mẻ. Berkeley cũng có ý định mở một trường đại học trên đảo Bermuda để dành cho con em những trại chủ người Anh và những thổ dân Indian nơi đây, không may, ông không nhận được nguồn vốn và ý định phải bỏ dang dở. Dù vậy, ảnh hưởng của Berkeley đến với nền giáo dục Mỹ là không hề nhỏ, ông đã dành tặng một thư viện vào hạng tốt nhất lúc bấy giờ cho trường Đại học Yale (lúc đó vốn còn là một trường đại học nhỏ và khó khăn) cũng như quyên rất nhiều sách cho Đại học Harvard. Nhiều trường đại học tại Mỹ và một thành phố ở California đã được đặt tên Berkeley để tưởng nhớ đến công lao của ông.[120]

Giống như Locke, Berkeley coi kinh nghiệm là nguồn gốc chính yếu của tri thức. Nhưng Berkeley cho rằng chủ nghĩa duy nghiệm của Locke vẫn còn "mềm mỏng" vì hệ thống này vẫn cho phép tồn tại một thế giới độc lập với giác quan (thế giới vật chất) và vẫn còn bám lấy cách nhìn của Descartes khi cho rằng con người được cấu tạo từ hai bản thể chung nhất là vật chất và tinh thần. Chủ nghĩa duy nghiệm Berkeley cực đoan hơn của Locke nhiều, theo ông, chỉ có một loại bản thể trong vũ trụ, chính là tinh thần hay ý nghĩ chứ không phải vật chất. Hệ thống của Berkeley chỉ chấp nhận sự tồn tại của hai thứ là ý thức và những ý tưởng được cảm nhận;[121] ta có thể tóm gọn quan điểm của Berkeley bằng câu châm ngôn của chính ông: "Tồn tại tức là được tri nhận."[119]

Như đã chỉ ra từ trước đó, Locke cho rằng thế giới vật chất có thể tác động đến các giác quan của ta và giúp hình thành nên những ý tưởng, vậy là thế giới vật chất sẽ đóng vai trò là nguyên nhân còn những ý tưởng mà ta có được là kết quả của quá trình tương tác.[122] Berkeley hoàn toàn bác bỏ quan điểm cho rằng có những vật chất tồn tại độc lập với tinh thần của ta, ông lập luận như sau:[123]

  1. Những vật ta cảm nhận được (ví dụ như ngôi nhà, quả táo,...) được đem lại cho ta trong trải nghiệm cảm giác.
  2. Những gì ta trải nghiệm và cảm giác được cấu thành hoàn toàn từ những ý tưởng của ta.
  3. Ý tưởng thì chỉ tồn tại trong tâm trí.
  4. Do vậy, những vật mà ta cảm nhận được chỉ tồn tại trong tâm trí.

Ta sẽ xem xét ví dụ về "quả táo" để làm rõ cách tiếp cận của Berkeley. Ta muốn đề cập đến điều gì khi nói về "quả táo"? Khi miêu tả hoặc nghĩ về quả táo, thường ta sẽ nói nó có màu đỏ, giòn và có vị ngọt, nhưng tất cả những đặc tính mà ta vừa nêu đều là những trải nghiệm hoặc cảm giác của ta về quả táo (bước 1). Ta nhận thấy rằng khái niệm của ta về quả táo thực ra là một tập hợp của những ý tưởng khác nhau (màu đỏ, giòn và ngọt), và do vậy: chúng chỉ tồn tại trong tâm trí của chính ta (bước 2 và 3). Có một điểm đáng lưu ý khi ta nói về quả táo, đó là ta không đề cập đến đặc tính vật chất của đối tượng này. Nếu nói đặc tính vật chất của quả táo là sự giòn hay độ cứng của nó thì ta chẳng qua cũng đang miêu tả một trải nghiệm hay cảm giác; còn nếu nói khía cạnh vật chất của quả táo tồn tại nhưng không thể tri nhận thì ta đã vi phạm xuất phát điểm của chủ nghĩa duy nghiệm. Vậy thì, quả táo mà ta biết chỉ tồn tại dưới dạng một loạt những ý tưởng trong tâm trí của ta (bước 4).[123]

Như vậy, nếu gạt đi tất cả những đặc điểm mà ta tri nhận được ở quả táo - hình dáng, màu sắc, mùi vị,... - ta sẽ thu được một thứ vật chất "trống không" gì đó. Hơn nữa, vì ta không thể mô tả được bản chất của nó (ta chỉ có thể mô tả những ý tưởng mà ta cảm nhận được), liệu ta có chắc rằng thứ vật chất "trống không" mà ta đang có thực sự tồn tại? Vì vậy, với Berkeley, những ý tưởng của ta không phải được gây nên bởi quả táo, những ý tưởng của ta thực sự là quả táo. Như vậy, một vật sẽ chỉ tồn tại chừng nào chúng được tri nhận, nhờ vậy mà ta hiểu câu châm ngôn: "Tồn tại tức là được tri nhận" của ông. Góc nhìn phủ định hoàn toàn sự tồn tại vật chất khách quan của Berkeley có vẻ lạ lùng, kỳ quặc hoặc tệ nhất, điên khùng. Dù vậy, câu hỏi cũng như lập luận của Berkeley về những thứ mà ta có thể tri giác được vẫn ám ảnh triết học qua nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay.[123]

David HumeSửa đổi

David Hume sinh ra tại Edinburgh, Scotland vào năm 1711. Ông đỗ vào trường Đại học Edinburgh khi chỉ mới 12 tuổi và hoàn thành công trình để đời Khảo luận về bản chất con người khi chưa đầy 30 tuổi.[124] Dù được coi là kinh điển trong triết học vào thời điểm hiện tại nhưng vào thời của Hume, công trình được đón nhận với sự dửng dưng đáng kinh ngạc. Một bước lùi nữa trong sự nghiệp của Hume không được làm giáo sư giảng dạy của trường Đại học Edinburgh, vị trí mà ông rất cố gắng để đạt được.[125] Trong quãng đời của mình, Hume thường biết đến với vai trò là một nhà sử học hơn là một nhà triết học, ông đã xuất bản bộ sách lịch sử đồ sộ Lịch sử nước Anh - công trình đem lại tiếng tăm mà ông hằng mong ước.[125][126] Vào năm 1763, Hume được đề bạt làm trong Đại sứ quán ở Paris, nơi ông kết giao với triết gia Jean-Jacques Rousseau và dần được công chúng biết đến nhiều hơn với vai trò là một nhà triết học.[124] Hume qua đời năm 1776, có thể là do ung thư hoặc viêm đại tràng.[127]

Vấn đề nổi tiếng và gay gắt nhất mà Hume để lại trong triết học thời cận đại là quan hệ nhân quả.[128] Hãy xem xét một ví dụ cụ thể, ta đưa tay vào ngọn lửa và cảm thấy đau, ta sẽ nghĩ ngay rằng ngọn lửa chính là nguyên nhân làm chúng ta đau đớn. Nhưng Hume cho rằng, thứ ta đã trải nghiệm là hai cảm tưởng riêng biệt, đó là: "ngọn lửa" và cảm giác "đau đớn", vậy thì mối quan hệ nhân quả nằm ở đâu?[129] Hume phân tích ra ba đặc điểm có thể khiến ta rút ra mối quan hệ nhân quả từ những kinh nghiệm như vậy, đó là:

  1. Mối quan hệ về sự tiếp nối. Trong ví dụ của ta, tay ta tiếp xúc với ngọn lửa và ta cảm thấy đau đớn; nếu có ai đó quẹt lửa cách ta 100 mét mà ngón tay ta cảm thấy đau thì ta sẽ hiếm khi cho rằng ngọn lửa là nguyên nhân cho đau đớn của ta. Một ví dụ khác là khi ta bật công tắc thì đèn (dù cách công tắc một khoảng cách đáng kể) sáng thì đó là do có đường dây kết nối bóng điện với công tắc.
  2. Mối quan hệ về ưu tiên thời gian. Khi ta đưa tay vào lửa thì ta ngay lập tức cảm thấy đau đớn, nhưng nếu như tay ta đau trước khi ta đưa tay chạm vào lửa thì ta cũng sẽ không đưa ra kết luận là ngọn lửa là nguyên nhân gây ra đau đớn cho ta.
  3. Nhưng hai yếu tố trên là không đủ để đưa ra mối quan hệ nhân quả, cần có thêm khái niệm về sự kết nối thường trực. Nếu như ta gãi đầu và thấy trời đổ mưa thì ta cũng sẽ không coi đó là hai sự kiện có mối quan hệ nhân quả với nhau: vì ta cũng từng thấy trời đổ mưa khi ta không gãi đầu và nếu ta gãi đầu thì không phải lúc nào trời cũng mưa. Ta sẽ chỉ coi mối quan hệ của hai sự kiện này là một sự trùng hợp. Nhưng ví dụ với lửa và đau thì lại khác, hai sự kiện này thường xuyên đi đôi với nhau, hay nói cách khác, ta thường xuyên quan sát được "sự đau" thường xuất hiện sau "ngọn lửa".[129]
 
"Thiên nga đen" là một ẩn dụ nổi tiếng cho triết học của Hume. Dù ta chỉ quan sát được thấy thiên nga có màu trắng, điều này là không đủ để quy nạp thành: "Tất cả thiên nga đều có màu trắng".

Nhưng Hume cho rằng: thuyết nhân quả không thể đứng vững nếu được xem xét kỹ lưỡng.[130] Thuyết nhân quả chỉ đúng với những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, còn tương lai thì ta không thể chắc chắn, ta không thể chắc lần tới tay ta chạm vào lửa thì cảm giác đau có xuất hiện hay không.[129] Rõ ràng, việc tay ta chạm vào lửa mà không thấy đau là có thể hình dung ra được và nó không vi phạm nguyên tắc logic nào (ngược lại, nếu ta phủ định những mệnh đề toán học như "một cộng một bằng hai" thì sẽ gây ra những mâu thuẫn về mặt logic). Mặt khác, điều này cũng không thể được giải thích bằng kinh nghiệm, vì ta không thể trải nghiệm tất cả các lần "chạm vào lửa" để xem chúng có dẫn đến "đau đớn" hay không.[131] Như vậy, đơn thuần việc quan sát rằng sự kiện B (ở đây là "đau") luôn theo sau sự kiện A (ở đây là "lửa") không phải là cơ sở hữu lý để ta tin rằng sự kiện B được gây ra bởi sự kiện A.[131] Trong thí nghiệm nổi tiếng của Pavlov về phản xạ có điều kiện, nhà sinh lý học người Nga rung chuông ngay trước khi cho những con chó của mình ăn. Hai sự kiện này gắn bó mật thiết với nhau đến mức dần dần lũ chó sẽ tiết nước bọt mỗi khi nghe thấy tiếng chuông kêu. Hiển nhiên, tiếng chuông kêu không nhất thiết phải liên quan đến việc đưa thức ăn, nhưng hai sự kiện này đã được gắn chặt với nhau trong tâm thức của những chú chó tham gia thí nghiệm. Liệu những sự kiện mà ta hay cho gắn bó với nhau (như "lửa" và "đau" chẳng hạn) có khác nhiều so với ví dụ trên?[132]

Nếu như cả kinh nghiệm lẫn suy luận đều không phải là cơ sở để ta thiết lập mối quan hệ nhân quả, đâu là nền móng khi ta tạo ra mối quan hệ này? Câu trả lời của Hume là thói quen hay tập quán, nói cách khác, đó là một đặc điểm tâm lý của con người cho phép chúng ta tin vào một thứ gì đó kể cả khi không có bằng chứng.[133] Như vậy, Hume đã giáng một đòn mạnh mẽ vào chủ nghĩa duy lý, đặc biệt là phương pháp quy nạp, khi ông nói rằng: niềm tin, do tập quán dẫn lối, mới là trung tâm trong những tuyên bố nhận thức của chúng ta chứ không phải lý tính.[134] Triết học ra đời khi những nhà tư tưởng bắt đầu đặt câu hỏi về những tập quán, niềm tin cũng như nỗ lực để tìm ra nền tảng hữu lý cho hiểu biết của mình về thế giới, nhưng Hume nói rằng những nền tảng hữu lý là không thể tìm thấy và ta sẽ lại quay về với những tập quán hay những niềm tin trước triết học.[135]

Triết học của KantSửa đổi

 
Chân dung Kant do Johann Gottlieb Becker vẽ năm 1768.

Nền triết học của thế kỷ 19 được thống trị bởi các triết gia người Đức, và người mở màn trong số họ là Immanuel Kant.[136] Ông sinh năm 1724 tại thành phố Konigsberg (này là thành phố Kaliningrad của Nga) và trong suốt cả cuộc đời mình, Kant chưa bao giờ đi xa khỏi nơi này quá 100 km. Kant theo học tại trường Đại học Konigsberg và sau này trở thành giáo sư giảng dạy chính tại đây. Hầu như không có mảng kiến thức nào là Kant không đụng đến, vì ông không chỉ dạy siêu hình học, logic học, đạo đức học, mỹ học và triết học thần học mà còn giảng cả toán học, vật lý, địa lý và nhân học. Bên cạnh những di sản khổng lồ mà Kant để lại trong triết học, ông cũng có những đóng góp nhất định cho những bộ môn khoa học khác. Kant không bao giờ lấy vợ cũng như giữ những chức vụ nổi bật trong cộng đồng, và ông cũng nổi tiếng là một người sống vô cùng quy củ và điều độ.[136] Ta có thể thấy rõ điều này qua bức chân dung sinh động khi nhà thơ Heinrich Heine viết về ông:[137]

Tôi không tin chiếc đồng hồ gắn trên mặt nhà thờ lớn nơi đây có thể chạy đều đặn và bình thản hơn người công dân Immanuel Kant. Ngủ dậy, uống cà-phê, ngồi viết sách, đến lớp giảng bài, ăn, đi dạo...tất cả đều theo đúng giờ giấc, và những người hàng xóm đều biết là đúng ba giờ rưỡi là lúc Immanuel Kant bước ra khỏi nhà, mình khoác chiếc áo màu xám, tay cầm gậy trúc, đi về con phố Hàng Cây Chanh mà giờ đây mang tên Phố Triết Gia để tưởng nhớ ông. Thật là một sự đối lập giữa cuộc sống bên ngoài và những tư tưởng bên trong con người đã làm đảo lộn thế giới triết học! Nói đúng sự thật thì nếu các công dân biết đến ý nghĩa thực sự của tư tưởng Kant thì họ còn kinh hoàng khi gặp ông hơn khi nhìn thấy đao phủ chuyên hành hình tử tội. Nhưng những người chất phác chỉ thấy ông là một vị giáo sư triết, và mỗi ngày ông đi ngang qua vào đúng giờ như thường lệ, họ đều chào ông như một người quen và chỉnh lại đồng hồ mang theo.[138]

Cuộc đời của Kant có vẻ bình lặng, nhưng từ này là không đúng nếu nói về những tư tưởng của ông. Thay vào đó, từ "cách mạng" thường được sử dụng khi nói về những ý tưởng lớn và mạnh mẽ của ông. Ảnh hưởng từ cuộc cách mạng Kant đến nền triết học là rất lớn vì sau khi ông qua đời vào năm 1804, triết học hiện đại thường được chia làm hai thời kỳ là "triết học trước Kant" và "triết học sau Kant".[137]

Nhận thức luận của KantSửa đổi

Các loại phán đoánSửa đổi

Kiến thức luôn xuất hiện dưới dạng những phán đoán (Judgment), trong đó một hiện tượng được khẳng định hoặc phủ định.[139] Do vậy, muốn làm sáng tỏ về tri thức của con người, ta phải khảo sát các loại phán đoán mà ta thực hiện. Kant cho rằng có hai loại phán đoán và một trong số đó là "phán đoán phân tích", được xây dựng dựa trên nguyên lý mâu thuẫn. Chẳng hạn, "tất cả người độc thân đều không có vợ/chồng" là một phán đoán phân tích vì khẳng định điều ngược lại chắc chắn sẽ dẫn đến mâu thuẫn.[139] Trong ví dụ này, vị từ "không có vợ/chồng" đã được chứa trong chủ thể "những người độc thân" nên ta có thể đưa ra phán đoán chỉ bằng cách phân tích các thuật ngữ đã được sử dụng.[140] Những phán đoán phân tích không cho ta thêm kiến thức về thế giới. Loại phán đoán còn lại: "phán đoán tổng hợp", tuy nhiên, lại có thể làm được nhiệm vụ này. Chẳng hạn, "những người độc thân trong phòng này đều cao hơn 1,7 mét" là một phán đoán tổng hợp vì nó tổng hợp chủ thể ('những người độc thân trong phòng") với vị từ ("cao hơn 1,7 mét") hay nói cách khác là đặc điểm "cao hơn 1,7 mét" không được chứa sẵn trong chủ thể ("những người độc thân trong phòng này"). Phủ định những phán đoán tổng hợp cũng không gây ra những mâu thuẫn về mặt logic.[141]

Bên cạnh hai loại phán đoán mà ta thực hiện, Kant còn phân biệt hai loại tri thức mà ta có, tri thức tiên nghiệm và tri thức hậu nghiệm. Tri thức tiên nghiệm là loại tri thức có thể có được độc lập với kinh nghiệm, hiển nhiên là những phán đoán phân tích sẽ thuộc vào nhóm này.[142] Ta không cần phải có số liệu thực nghiệm để biết rằng phán đoán "tất cả những người độc thân đều không có vợ/chồng" là đúng. Đối lập với tri thức tiên nghiệm là tri thức hậu nghiệm, loại tri thức chỉ có được khi thu thập từ kinh nghiệm, giống như phán đoán "những người độc thân trong phòng này đều cao hơn 1,7 mét" vậy, kết luận cho phán đoán này chỉ có thể tìm nhờ vào thực nghiệm.[141]

Việc phân loại như vậy đưa đến cho ta bốn loại phán đoán. Các loại phán đoán này sẽ được liệt kê ở đây kèm với ví dụ để làm rõ hơn:

  1. Phân tích tiên nghiệm: Thường là những phán đoán xây dựng trên nguyên lý mâu thuẫn. Ví dụ, "mọi vật thể đều có quảng tính" hoặc "mọi cha mẹ đều đã có con".
  2. Phân tích hậu nghiệm: Không tồn tại loại phán đoán này, một khi phán đoán là phân tích, chúng sẽ không được dựa trên kinh nghiệm.
  3. Tổng hợp hậu nghiệm: Phần lớn những phán đoán của ta khi quan sát hoặc trải nghiệm thế giới được xếp vào nhóm này, ví dụ như: "Quả bóng này đang rơi" hoặc "Quả táo này có màu đỏ".

Vấn đề nảy sinh ở loại phán đoán cuối cùng: Tổng hợp tiên nghiệm. Làm sao có thể có loại phán đoán cho ta hiểu biết về thế giới (tổng hợp) mà đồng thời lại không phụ thuộc vào kinh nghiệm (tiên nghiệm) được? Nhưng Kant cho rằng có tồn tại những phán đoán như vậy. Ví dụ như phán đoán "7 + 5 = 12" là một phán đoán tổng hợp tiên nghiệm vì ta không thể phân tích khái niệm "5" và "7" để tìm ra "12", hoặc một phán đoán tương tự là "Đoạn thẳng là khoảng cách ngắn nhất giữa hai điểm" khi khái niệm "ngắn" không được chứa sẵn trong "thẳng" nhưng ta vẫn biết điều này là chính xác. Phán đoán tổng hợp tiên nghiệm là một trong những chủ đề quan trọng của triết học Kant.[141]

Không gian và thời gian: Những hình thái của nhận thứcSửa đổi

 
Hình bìa của tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy, ấn bản năm 1781.

Không gian và thời gian là hai đặc tính quan trọng và cơ bản nhất của các vật thể trong thế giới, do vậy, để tìm hiểu về cách con người hiểu về thế giới là xem xét cách mà con người trải nghiệm không và thời gian.[143] Trước khi đi đến những lập luận của Kant, ta có thể làm một thí nghiệm tưởng tượng nhỏ: Ta hãy loại bỏ từng đồ vật hoặc từng vật thể một trên thế giới này cho đến khi không còn lại gì cả ngoài không gian, trạng thái "không có gì cả" này xem ra vẫn có thể hình dung được. Nhưng hãy tưởng tượng vật thể mà không có không gian, giống như là tưởng tượng một cái hộp mà không có ba chiều không gian vậy. Điều này là không thể thực hiện được vì đặc tính không gian là khác với đặc tính và vật thể của cảm giác. "Không gian" là một cách để tâm trí trật tự hóa "cảm giác" nhưng tự nó thì không phải là một cảm giác: con người không thể trải nghiệm được "không gian" mà trải nghiệm các vật thể được cấu trúc về mặt không gian.[144] Kant gọi không gian là hình thái của các giác quan bên ngoài và thời gian, với những lập luận tương tự, là hình thái của các giác quan bên trong.[145]

Học thuyết của Kant về không gian và thời gian được đề ra để giải thích tại sao toán học có thể đưa đến cho ta những phán đoán tổng hợp tiên nghiệm. Hình học, chẳng hạn, là môn khoa học để nghiên cứu về không gian còn số học, ít hợp lý hơn, là cách để xử lý những con số nên có liên quan đến thời gian. Bằng việc gắn bộ môn toán vào với không-thời gian và đồng thời chỉ ra rằng: không-thời gian là phương thức (hay hình thái, cấu trúc) phổ biến và thiết yếu trong cách ta kinh nghiệm về thế giới, Kant giữ lại được bản chất tiên nghiệm ("có trước kinh nghiệm") của toán học mà vẫn cho thấy bộ môn này có thể cung cấp thêm thông tin về thế giới.[144]

Các phạm trù của KantSửa đổi

Kant cho rằng: Giác tính (Understanding) và cảm năng (Sense) là ngang hàng và không phụ thuộc với nhau trong việc thu nhận tri thức về thế giới, như Kant viết trong tác phẩm Phê phán lý tính thuần túy của ông:[146]

Ý niệm không có nội dung thì rỗng tuếch, trực quan mà không có khái niệm thì mù lòa...Giác tính không có khả năng tri nhận thứ gì, cảm năng không có khả năng nghĩ ra thứ gì. Chỉ từ sự hiệp nhất của chúng mà tri thức mới có thể nảy sinh.

Như ta đã thấy về cách cảm giác của ta được cấu trúc trong không gian và thời gian ở trên, nhưng chỉ cảm năng và những hình thái của nhận thức là không đủ để đưa đến cho ta những trải nghiệm thường ngày như bàn, ghế hoặc quả táo. Nếu chỉ dựa vào khả năng cảm nhận để trải nghiệm thế giới, ta sẽ thu được những cảm giác định khu và rời rạc trong không gian và thời gian (một chút màu, âm thanh, mùi vị, kết cấu) nhưng không phải tri thức toàn thể. Muốn có được tri thức (như bàn ghế hoặc quả táo) thì cần phải có thêm những nguyên tắc để tổ chức và sắp xếp những cảm giác thu được. Những nguyên tắc này thuộc vào khả năng của giác tính. Giác tính chủ động tổ chức các trải nghiệm thu được nhờ vào những khái niệm tiên nghiệm được gọi là các phạm trù; hay nói cách khác, các phạm trù thể hiện cách thức tâm trí tổ chức những trải nghiệm.[147] Theo Kant, có tổng cộng 12 phạm trù được chia làm bốn nhóm đó là: Số lượng (đơn nhất, đa số, toàn thể), tính chất (thực tại, phủ định, giới hạn), quan hệ (thực thể và ngẫu nhiên, nhân quả, tương hỗ) và dạng thái (khả năng, hiện tượng tồn tại, tất nhiên).[148]

Và đến đây ta có thể nắm bắt được phần nào "Cuộc cách mạng Copernic" mà Kant đã tạo ra trong triết học. Nếu như các nhà duy nghiệm cho rằng tâm trí là thụ động khi đối diện với thế giới và chỉ đơn giản là thu nhận những trải nghiệm mà nó có được; từ góc nhìn này thì tri thức của ta phù hợp (conform) với các khách thể. Nhưng Kant (giống như Copernic khi đặt Mặt Trời làm tâm thay thế cho vị trí của Trái Đất) đã đảo ngược bức tranh thông thường, ông đã chỉ ra rằng, có thể, các khách thể phù hợp với tri thức của ta.[149] Các giác quan có thể thu nhận những trải nghiệm, nhưng để tạo ra bức tranh thế giới mà ta biết thì những trải nghiệm này cần phải được cấu trúc nhờ tâm trí. Có thể làm rõ luận điểm này khi ta quan sát bên tranh bên trên: giác quan sẽ thu nhận những chấm màu nhỏ li ti của tác phẩm, sau đó tâm trí sẽ xử lý những trải nghiệm thu được thành những mảng màu, những hình dạng nhất định và cho ta cảm nhận về không gian hay phong cảnh đang được khắc họa. Như vậy, cả giác quan và lý trí đều góp phần trong cách ta tri nhận thế giới. Bằng việc nhấn mạnh vai trò của cả giác tính và cảm năng, có thể coi Kant là người đã thống nhất được hai chủ nghĩa đã lâu ngày đối đầu trong nhận thức luận: chủ nghĩa duy lý và chủ nghĩa duy nghiệm.[149][150]

Siêu hình học của KantSửa đổi

 
Bức tranh khắc gỗ Flammarion đang miêu tả một người nhìn ra ngoài không gian và thời gian. Với Kant, những thứ gì vượt ngoài không-thời gian là không thể tri nhận với con người.

Khả năng để con người có thể thu thập những thông tin của hiện thực vượt ra ngoài kinh nghiệm là vô cùng hạn chế, nếu không muốn nói là bất khả thi. Tất cả những hiểu biết của ta về thế giới đều được cấu trúc trong không-thời gian và được tổ chức nhờ những phạm trù của giác tính. Với khả năng trải nghiệm hữu hạn như vậy, tìm kiếm những hiện thực siêu nghiệm, vượt ngoài kinh nghiệm của con người thì cũng giống như là cố gắng nhảy ra khỏi bộ da của chính mình vậy.[151]

Kant phân biệt hai loại thế giới. Con người chỉ có khả năng nhận thức được các khách thể trong thế giới khả giác (Phenomena). Hay nói cách khác, thế giới khả giác chính là thế giới mà ta vẫn đang sống và trải nghiệm, tuyên bố về một thứ gì vượt ngoài thế giới này là không rõ ràng.[151] Dù vậy, Kant vẫn nói về thế giới vượt trên những trải nghiệm của chúng ta, đó là thế giới khả niệm (còn được gọi là "thế giới thực tướng", Noumena), thế giới của các "vật tự thể".[152] Đúng như tên gọi, ta không thể trải nghiệm cũng như đưa ra những khái niệm thực chứng nào về thế giới này, nó tồn tại nhưng vượt ngoài phạm vi nhận thức của con người và tất nhiên là vượt ngoài các phạm trù của giác tính. Con người có thể ý thức về sự trình diện của các vật tự thể trong thế giới khả giác, nhưng không bao giờ có thể nhận thức về thế giới khả niệm.[151]

Luân lý học của KantSửa đổi

Trong lĩnh vực luân lý, Kant khởi đầu bằng cách cho rằng, thứ duy nhất tốt đẹp không cần qua nhận định hoặc đánh giá là thiện chí (good will). Những điều được coi là "tốt" khác như tài năng, thể lực, trí tuệ, tính cách,... đều có thể được sử dụng với những mục đích xấu. Thiện chí không được coi là tốt vì những gì nó đạt được (giống như tài năng...), tự nó đã là cái tốt.[153]

Vậy khi nào thì một ý chí được coi là thiện chí? Đến đây ta sẽ cần đào sâu về khái niệm nghĩa vụ (duty). Thực hiện nghĩa vụ có nghĩa là thể hiện thiện chí ngay cả trong những nghịch cảnh.[153] Kant phân biệt giữa "hành động phù hợp với nghĩa vụ" và "hành động có động lực từ nghĩa vụ".[154] Một chủ tiệm không bao giờ lừa dối khách hàng để giữ gìn uy tín trong làm ăn là ví dụ về hành động phù hợp với nghĩa vụ. Tuy nhiên, theo Kant, những hành động này không có giá trị về mặt đạo đức. Giá trị đạo đức được thể hiện khi một người làm việc tốt với động cơ không phải từ những mục đích (như là "giữ gìn uy tín trong làm ăn") mà từ chính nghĩa vụ: chẳng hạn như một người dù đã không còn hứng thú gì với cuộc sống và rất muốn chết nhưng vẫn giữ gìn mạng sống để phù hợp với những quy luật đạo đức.[153] Việc đặt trọng tâm vào những nghĩa vụ khiến luân lý học của Kant được xếp vào nhóm luân lý nghĩa vụ (nghĩa vụ luận, deontology), tương phản với luân lý mục đích luận (teleology) hoặc hệ quả luận (consequentialism).[155]

Những quy luật đạo đức là những quy luật chỉ dẫn cho hành vi của chúng ta. Những luật này có thể được trình diện cho ta dưới dạng những mệnh lệnh thức. Kant chia mệnh lệnh thức làm hai loại. Loại đầu tiên được gọi là lệnh thức giả định, ở dạng tổng quát thì chúng sẽ có dạng: "Nếu bạn muốn X thì hãy làm Y", chẳng hạn như "Nếu muốn mọi người đối xử tốt với mình thì hãy thân thiện với mọi người". Tuy nhiên, giống như đã chỉ ra ở trên, những lệnh thức kiểu như thế này sẽ không thể là những luật đạo đức vì chúng vẫn còn hướng đến một số mục đích nhất định, dù mục đích ấy xứng đáng.[155] Theo Kant, những quy luật đạo đức được trình diện cho ta dưới dạng những lệnh thức tuyệt đối (hoặc lệnh thức phạm trù, categorical imperative) và vì không hướng đến mục đích nhất định nào, chúng sẽ có dạng "Làm X!" Những quy luật đạo đức này giống như những quy luật trong toán học, chẳng hạn như 2 + 2 x 2 = 6, chúng là đúng với mọi người, mọi thời điểm, trong mọi trường hợp và dù có thích kết quả hay không thì ta phải tuân theo nếu còn có lý trí.[155]

Dù có thể được diễn tả theo các cách khác nhau để nhấn mạnh vào những khía cạnh khác nhau, chỉ có một lệnh thức tuyệt đối là:[156][157]

Chỉ nên hành xử theo phương châm mà qua đó, bạn có thể muốn phương châm đó trở thành một quy luật phổ quát.

Ta có thể làm rõ lệnh thức qua một ví dụ. Tưởng tượng rằng ta đang cạn vốn và ta sẽ đi vay tiền dù biết rằng sẽ không có khả năng hoàn lại số tiền đã mượn. Phương châm mà ta đã hành động ở đây là: "Khi nào cạn túi, ta sẽ đi mượn tiền và hứa trả lại dù biết rằng điều này (hoàn lại tiền) là không thể thực hiện được". Một cách có lý trí, ta không thể thành thực mong muốn phương châm này được sử dụng bởi tất cả mọi người ("trở thành quy luật phổ quát") vì như vậy thì toàn bộ hệ thống hứa hoặc cam kết sẽ hoàn toàn sụp đổ.[157] Do vậy, việc vay tiền trong trường hợp này đã vi phạm vào lệnh thức và không phải là hành vi đạo đức. Ta có thể từng bắt gặp lệnh thức này của Kant thấp thoáng trong những câu nói thường ngày: "Nếu ai mà cũng làm như vậy thì sao?" hoặc trong Phúc Âm có viết: "...hễ điều chi mà các ngươi muốn người ta làm cho mình, thì cũng hãy làm điều đó cho họ..."[156][158] Lời của Kant về đạo đức sẽ còn vang vọng lâu dài trong lĩnh vực luân lý học và ngay cả ở thời điểm hiện tại, có thể nhiều người vẫn sẽ tán thành với ông.[159][160]

Triết học thế kỷ 19Sửa đổi

Rất khó để tóm lược những tư tưởng của triết học trong thế kỷ 19 thành một chủ đề chủ đạo xuyên suốt, cụ thể. Triết học thời kỳ này giống như nhiều nhánh suối tỏa ra từ một con sông chính và con sông đó chính là hệ thống triết học đồ sộ và phức tạp mà Kant để lại. Nhiều nhà triết học vào thời kỳ sau-Kant tiếp tục nghiên cứu và phát triển một số những tư tưởng chọn lọc trong các công trình của ông, trong khi loại bỏ hoặc giải quyết các mâu thuẫn trong hệ thống này.[161]

Những người trực tiếp kế thừa di sản của Kant là các nhà triết học duy tâm Đức. Nhìn tổng thể, chủ nghĩa duy tâm muốn đề cập lý thuyết rằng mọi vật phải được hiểu trong sự phụ thuộc vào một thực thể tâm trí hoặc ý thức nào đó. Dù tiếp thu ảnh hưởng của Kant, nhiều nhà duy tâm người Đức không đồng tình với những giới hạn nghiêm ngặt mà Kant đặt ra cho tâm trí của con người cũng như quan điểm cho rằng con người không thể trải nghiệm được thế giới đích thực.[162] Một số nhà triết học thuộc vào trường phái này có thể kể đến như Fichte, Schelling nhưng nổi bật hơn cả là Hegel.[163] Schopenhauer lại chối bỏ hệ thống triết học của Hegel và đưa ra cách giải thích hệ thống triết học Kant có kết hợp với các yếu tố từ các tôn giáo phương Đông. Vài thập kỷ sau khi Hegel qua đời, phái Hegel trẻ xuất hiện, họ nghiên cứu và phát triển những di sản theo những hướng khác nhau. Người nổi bật nhất trong số họ là Karl Marx, một nhà triết học theo đường lối duy vật chứ không phải duy tâm.

Thế kỷ 19 cũng ghi dấu sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh. Chủ nghĩa này xuất hiện với hai nhánh hoàn toàn khác nhau, một bên là Kierkegaard với chủ nghĩa hiện sinh tôn giáo và bên kia là Nietzsche, ông tổ của hiện sinh vô thần. Cả hai triết gia này đều sử dụng và triển khai một phần hệ thống triết học của Kant để phát triển những tư tưởng của mình.[162] Với gốc rễ từ thế kỷ 19, chủ nghĩa hiện sinh dần sinh trưởng và thực sự nở rộ vào thế kỷ 20, trở thành một trào lưu triết học có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều mặt của xã hội.

Ở phía bên kia eo biển Manche, nổi bật trong nền triết học Anh Quốc vào thời kỳ này là chủ nghĩa công lợi. Hai đại diện nổi tiếng nhất cho chủ nghĩa triết học này là Jeremy BenthamJohn Stuart Mill. Dù có thể không chịu ảnh hưởng trực tiếp, họ ít nhiều cũng đã tiếp nhận những giá trị triết học từ Kant.[161]

Các nhà duy tâm ĐứcSửa đổi

FichteSửa đổi

Johann Gottlieb Fichte sinh năm 1762 tại Đức. Mặc dù vô cùng ngưỡng mộ Kant, Fichte cho rằng triết học Kant có một điểm không chặt chẽ mấu chốt. Kant luôn nói rằng những trải nghiệm của ta được gây ra (hoặc là "sự trình diện") bởi những vật tự thể, thứ mà ta không bao giờ có thể nắm bắt được. Nhưng cũng chính Kant đã nói rằng ý niệm nhân quả chỉ có thể áp dụng trong thế giới khả giác. Nói cách khác, cho rằng những vật tự thể gây ra những trải nghiệm của ta là không thống nhất về mặt lập luận.[164]

Mâu thuẫn này có thể được giải quyết như thế nào? Một cách giải quyết là cho phép mối quan hệ về nhân quả có thể vượt quá thế giới khả giác và cho phép các vật tự thể gây nên trải nghiệm của chúng ta. Đây là con đường của chủ nghĩa giáo điều (Dogmatism), cho rằng nền móng cho những kinh nghiệm của ta là một hiện thực ngoại tại, độc lập (giống như những vật tự thể của Kant). Cách giải quyết thứ hai là gạt bỏ các vật tự thể và cho rằng kinh nghiệm được tạo ra bởi tâm thức. Lúc này, nền móng cho những trải nghiệm của ta sẽ được tìm thấy ở trong bản thể của chính mình chứ không ở một hiện thực ngoại tại nào khác. Đây là con đường của chủ nghĩa duy tâm. Fichte đã chọn cách giải quyết thứ hai và điều này khiến ông được coi là cha đẻ của chủ nghĩa duy tâm Đức.[165]

HegelSửa đổi

Georg Wilhelm Friedrich Hegel sinh ra tại Stuttgart vào năm 1770, cũng là năm mà Beethoven ra đời và Kant được bổ nhiệm làm giáo sư ở đại học Königsberg. Hegel theo học thần học tại trường Đại học Tubingen.[166] Những giáo sư từng dạy Hegel nhận xét rằng ông chỉ là một học sinh trung bình và khả năng nắm bắt triết học thì cũng khá tầm thường. Thú vị thay, các học giả ngày nay đều công nhận rằng Hegel là một trong những nhà triết học xuất sắc nhất trong thời kỳ hiện đại. Năm 1807, Hegel xuất bản công trình để đời, Hiện tượng học tinh thần, tác phẩm đã nâng tầm ông lên vị trí thống trị trong nền triết học Đức.[167] Năm 1816, Hegel được bổ nhiệm làm giáo sư tại trường Đại học Heidelberg; trong thời gian này, ông cũng xuất bản một công trình lớn khác là Khoa học Logic.[165] Năm 1818, Hegel nhận giảng dạy triết học tại trường Đại học Berlin, vị trí vốn đã trống kể từ khi Fichte qua đời năm 1814. Năm 1829, Hegel được bổ nhiệm làm hiệu trưởng của trường và giữ chức vụ này cho đến khi qua đời một năm sau đó vì dịch bệnh.[166] Tương truyền, lời nói cuối cùng của ông trước khi ra đi là: "Chỉ có một người hiểu tôi, và người ấy cũng không hiểu tôi nốt."[168]

Hegel chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ siêu hình học của Kant song ông bác bỏ quan điểm cho rằng các trải nghiệm của con người được gây ra bởi một thế giới khả niệm (noumena) không thể cảm nhận được. Thay vì chấp nhận sự tồn tại của một thế giới tách biệt khỏi mọi tri giác như vậy, Hegel cho rằng: ý thức đang cấu trúc hiện thực chính là hiện thực, không có gì vượt ngoài nó cả.[169] Nhưng Hegel không cho rằng ý thức đứng im và dựa trên những nền tảng bất biến, như những Phạm trù của Kant, mà chính nó cũng biến đổi không ngừng cùng với sự biến đổi của thế giới. Ý thức không chỉ đơn thuần là những gì ta nhận thức được mà tự nó cũng là một phần trong tiến trình phát triển. Quá trình phát triển này có tính biện chứng (dialectic), một khái niệm triết học có ý nghĩa rất đặc thù trong triết học của Hegel.[170]

Khái niệm biện chứng là cách mà Hegel biện giải về sự phát triển của mọi vật, trong đó có ý thức. Ngày nay, phép biện chứng của Hegel thường được mô tả bằng mô hình có ba phần: đầu tiên, một ý tưởng khởi điểm sẽ được đưa ra, gọi là chính đề (thesis); ý tưởng này sẽ gặp phải sự đối nghịch từ phản đề (antithesis), sự giải quyết mâu thuẫn từ hai ý tưởng này sẽ dẫn đến một ý niệm toàn diện hơn gọi là hợp đề (synthesis). Chính hợp đề này sẽ trở thành một chính đề tiếp theo và quá trình cứ lặp lại liên tục như vậy. Ta có thể nêu một ví dụ để làm rõ hơn quá trình này. Nhà triết học Hy Lạp cổ đại Parmenides cho rằng tất cả mọi thứ đều có tính chất vĩnh hằng và bất biến. Ý tưởng đối nghịch với ý tưởng này đến từ Heraclitus, ông cho rằng: vạn vật đều vận động và biến chuyển không bao giờ ngừng. Cả hai lý thuyết này đều không hoàn thiện cũng như đều chứa đựng trong mình những điểm bất hợp lý. Sự tổng hợp của hai ý tưởng này được tìm thấy ở Plato khi ông cho rằng: có một khía cạnh của thế giới là bất biến (thế giới của những Ý niệm hoặc Mô thức) và một khía cạnh của thế giới luôn luôn biến đổi (thế giới vật lý thông thường). Như vậy, từ hai ý tưởng ban đầu đã dẫn đến một ý tưởng hoàn thiện hơn và như lịch sử đã chỉ ra, ý tưởng mới sẽ lặp lại quá trình và tiếp tục phát triển.

Dù mô hình ba phần này là một cách lý giải dễ nắm bắt cho phép biện chứng của Hegel, ta cần phải lưu ý hai điều. Một là, bản thân Hegel rất ít khi sử dụng những khái niệm như chính đề, phản đề và hợp đề; trên thực tế đây là những thuật ngữ mà nhà triết học đi trước ông, Fichte, thường sử dụng. Hai là, quá trình biện chứng không nhất thiết phải đi theo con đường mâu thuẫn giữa hai ý tưởng như đã nêu, có thể ý tưởng đầu tiên đã chứa trong lòng nó những phi lý nhất định, hoặc hai ý tưởng có thể bổ trợ cho nhau để hình thành một ý tưởng hoàn thiện hơn.

Một điều quan trọng khác mà Hegel đạt được trong hệ thống triết học của ông là xem xét về tầm quan trọng của lịch sử. Khác với các quan điểm trước đó cho rằng ý thức tồn tại riêng biệt và không thay đổi theo thời gian, triết học của Hegel nhấn mạnh chủ nghĩa lịch sử (Historicism) và cho rằng tư tưởng hay ý niệm phải là sản phẩm của thời đại và không thể tách chúng ra khỏi bối cảnh cũng như hoàn cảnh lịch sử. Nếu nhìn thoáng qua lịch sử triết học, ta có thể sẽ thấy đó không là gì ngoài một tập hợp của những tư tưởng khác nhau và chứa đầy những lỗ hổng. Song Hegel cho rằng, quá trình này cũng chứa đựng logic và mục đích, không có giai đoạn nào có thể tách rời với tổng thể vì mỗi ý tưởng là tiền đề cần thiết cho ý tưởng tiếp theo. Cũng giống như quả táo không thể tự nhiên xuất hiện từ đất, nó phải trải qua vô số giai đoạn kể từ lúc bắt đầu được gieo hạt cho đến khi đơm hoa kết quả, những tư tưởng hoàn thiện hơn cũng trải qua một quá trình lịch sử lâu dài với nguyên liệu là những tư tưởng sơ khai trước đó. Như vậy, sự phát triển trong lịch sử triết học là một sự phát triển có tính biện chứng. Lịch sử nói chung cũng như vậy, nó giống như một mảnh giấy gấp đang từ từ được mở ra. Ta không thể biết mảnh giấy thực sự viết gì cho đến khi nó được lật mở, cũng như không thể biết kết thúc của mảnh giấy là gì, nhưng ta biết về cách thức (hay cấu trúc) mà nó sẽ được mở ra. Lịch sử cũng vậy, đó không phải chỉ là những sự kiện ngẫu nhiên liên tục hết cái này đến cái khác như ta thoạt nhìn qua, bên dưới nó, như Hegel nói, ẩn chứa những cấu trúc và mục đích nhất định.

Xem thêmSửa đổi

Tham khảoSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Kenny, Anthony, A New History of Western Philosophy, chapter 1.
  2. ^ Gottlieb, Anthony, The Dream of Reason: A History of Western Philosophy from the Greeks to the Renaissance, 1st Edition, chapters 1 and 2.
  3. ^ a ă â b Kenny 2006, tr. 1.
  4. ^ a ă Tatarsky & 20017, tr. 24.
  5. ^ Tatarsky 2017, tr. 23.
  6. ^ Kahn 2001, tr. 27.
  7. ^ Riedweg 2005, tr. 23.
  8. ^ a ă â b c Kenny 2006, tr. 2.
  9. ^ a ă Tatarsky 2017, tr. 15.
  10. ^ Kenny 2006, tr. 7.
  11. ^ a ă Kenny 2006, tr. 8.
  12. ^ a ă â b Kenny 2006, tr. 18.
  13. ^ Tatarsky 2017, tr. 16.
  14. ^ Kenny 2006, tr. 19.
  15. ^ Tatarsky 2017, tr. 17.
  16. ^ a ă â Kenny 2006, tr. 26.
  17. ^ a ă Tatarsky 2017, tr. 24.
  18. ^ Debra Nails, A Companion to Greek and Roman Political Thought Lưu trữ 1 tháng 12 2017 tại Wayback Machine Chapter 21 – The Trial and Death of Socrates Lưu trữ 1 tháng 12 2017 tại Wayback Machine John Wiley & Sons, 2012 ISBN 1-118-55668-2 Accessed 23 November 2017
  19. ^ a ă Kenny 2006, tr. 28.
  20. ^ a ă â Buckingham 2019, tr. 52.
  21. ^ Kenny 2006, tr. 41.
  22. ^ Kenny 2006, tr. 42.
  23. ^ Buckingham 2019, tr. 53.
  24. ^ Kenny 2006, tr. 44.
  25. ^ Buckingham 2019, tr. 55.
  26. ^ National Public Radio (August 8, 2007). Plato's 'Republic' Still Influential, Author Says. Talk of the Nation.
  27. ^ Plato: The Republic. Plato: His Philosophy and his life, allphilosophers.com
  28. ^ a ă â b c d Buckingham 2019, tr. 58.
  29. ^ a ă â b Kenny 2006, tr. 63.
  30. ^ a ă â b Buckingham 2019, tr. 60.
  31. ^ Tatarsky 2017, tr. 33.
  32. ^ Buckingham 2019, tr. 59.
  33. ^ Campbell, Neil A. (2008). “47: Animal Development”. Biology. Pearson Benjamin Cummings. ISBN 978-0805368444. 
  34. ^ a ă â Kenny 2006, tr. 91.
  35. ^ a ă Kenny 2006, tr. 92.
  36. ^ a ă â Buckingham 2019, tr. 64.
  37. ^ a ă â Kenny 2006, tr. 93.
  38. ^ a ă Kenny 2006, tr. 94.
  39. ^ Buckingham 2019, tr. 65.
  40. ^ Buckingham 2019, tr. 66.
  41. ^ a ă Kenny 2006, tr. 95.
  42. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 67.
  43. ^ Kenny 2006, tr. 97.
  44. ^ a ă Tatarsky 2017, tr. 29.
  45. ^ Dobelli, Rolf (2019). Nghệ thuật sống hạnh phúc gặt thành công. Nhà xuất bản Thế giới. tr. 187 – 189. ISBN 978-604-77-6173-9. 
  46. ^ a ă â b Buckingham 2019, tr. 70.
  47. ^ Luc 2019, tr. 98.
  48. ^ Luc 2019, tr. 99.
  49. ^ a ă â b Tatarsky 2017, tr. 36.
  50. ^ Buckingham 2019, tr. 72.
  51. ^ a ă â b c d đ Buckingham 2019, tr. 71.
  52. ^ a ă Kenny 2006, tr. 128.
  53. ^ a ă â Buckingham 2019, tr. 77.
  54. ^ Kenny 2006, tr. 129.
  55. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 78.
  56. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 79.
  57. ^ Kenny 2006, tr. 139.
  58. ^ a ă â b Kenny 2006, tr. 140.
  59. ^ Buckingham 2019, tr. 82, 83.
  60. ^ a ă Kenny 2006, tr. 151.
  61. ^ McBride, William Leon (1997). The Development and Meaning of Twentieth-century Existentialism. Taylor and Francis. tr. 131. ISBN 0-8153-2491-X. 
  62. ^ a ă â b c Copleston, Frederick (1993). Medieval philosophy: [from Augustine to Duns Scotus]. . New York [u.a.]: Image Books, Doubleday. tr. 341–342. ISBN 038546844X. 
  63. ^ a ă â b c Tatarsky 2012, tr. 38 và 39.
  64. ^ Kenny 2006, tr. 163.
  65. ^ a ă â Buckingham 2019, tr. 100.
  66. ^ Tatarsky 2012, tr. 40.
  67. ^ Eva Del Soldato. “Natural Philosophy in the Renaissance”. Stanford Encyclopedia of Philosophy. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2020. 
  68. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 101.
  69. ^ a ă â b Kenny 2006, tr. 188.
  70. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 105.
  71. ^ Buckingham 2019, tr. 106.
  72. ^ Buckingham 2019, tr. 108.
  73. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 104.
  74. ^ a ă â Kenny 2006, tr. 190.
  75. ^ Kenny 2006, tr. 191.
  76. ^ Kenny 2006, tr. 193.
  77. ^ “Diggers' Manifesto”. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011. 
  78. ^ a ă Kenny 2006, tr. 223.
  79. ^ a ă Kenny 2006, tr. 224.
  80. ^ a ă Kenny 2006, tr. 225.
  81. ^ a ă â b c Kenny 2006, tr. 199.
  82. ^ Asimov, Isaac (1964). Asimov's Biographical Encyclopedia of Science and Technology. ISBN 978-0385177719
  83. ^ a ă Kenny 2006, tr. 200.
  84. ^ a ă â b Kenny 2006, tr. 201.
  85. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 110.
  86. ^ Tatarsky 2012, tr. 47.
  87. ^ Kenny 2006, tr. 202.
  88. ^ Kenny 2006, tr. 203.
  89. ^ a ă â Kenny 2006, tr. 204.
  90. ^ Hundert, EJ (1987). Enlightenment and the decay of common sense. tr. 133–154. 
  91. ^ Urbach, Peter (1987). Francis Bacon's Philosophy of Science: An Account and a Reappraisal. La Salle, Ill.: Open Court Publishing Co. tr. 192. ISBN 9780912050447. 
  92. ^ Hepworth Dixon, William (1862). "The story of Lord Bacon's Life" (1862). 
  93. ^ a ă Kenny 2006, tr. 207.
  94. ^ a ă â b Kenny 2006, tr. 208.
  95. ^ Kenny 206, tr. 209.
  96. ^ Buckingham 2019, tr. 119.
  97. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 120.
  98. ^ Buckingham 2019, tr. 121.
  99. ^ Buckingham 2019, tr. 123.
  100. ^ a ă Kenny 2006, tr. 240.
  101. ^ a ă Kenny 2006, tr. 241.
  102. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 127.
  103. ^ Kenny 2006, tr. 242.
  104. ^ Buckingham 2019, tr. 128.
  105. ^ Kenny 2006, tr. 245.
  106. ^ Buckingham 2019, tr. 137.
  107. ^ Buckingham 2019, tr. 135.
  108. ^ Kenny 2006, tr. 246.
  109. ^ a ă â b c Kenny 2006, tr. 247.
  110. ^ a ă â Buckingham 2019, tr. 136.
  111. ^ Buckingham 2019, tr. 133.
  112. ^ Lawhead 2002, tr. 287.
  113. ^ Kenny 2006, tr. 228.
  114. ^ a ă â b Lawhead 2013, tr. 303.
  115. ^ Buckingham 2019, tr. 131.
  116. ^ a ă Kenny 2006, tr. 229.
  117. ^ Buckingham 2019, tr. 132.
  118. ^ Lawhead 2013, tr. 304.
  119. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 139.
  120. ^ Lawhead 2012, tr. 320.
  121. ^ Lawhead 2012, tr. 321.
  122. ^ Buckingham 2019, tr. 140.
  123. ^ a ă â Lawhead 2013, tr. 323.
  124. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 150.
  125. ^ a ă Kenny 2006, tr. 256.
  126. ^ Lawhead 2013, tr. 35.
  127. ^ Lawhead 2013, tr. 336.
  128. ^ Lawhead 2013, tr. 340.
  129. ^ a ă â Lawhead 2002, tr. 319.
  130. ^ Lawhead 2013, tr. 344.
  131. ^ a ă Buckingham 2019, tr. 152.
  132. ^ Lawhead 2013, tr. 345, 346.
  133. ^ Lawhead 2013, tr. 345.
  134. ^ Buckingham 2019, tr. 153.
  135. ^ Lawhead 2013, tr. 346.
  136. ^ a ă Kenny 2006, tr. 275.
  137. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 355.
  138. ^ Lawhead 2002, tr. 327.
  139. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 359.
  140. ^ Kenny 2006, tr. 276.
  141. ^ a ă â Lawhead 2013, tr. 360.
  142. ^ Buckingham 2019, tr. 169.
  143. ^ Kenny 2006, tr. 278.
  144. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 361.
  145. ^ Kenny 2006, tr. 279.
  146. ^ Kenny 2006, tr. 280.
  147. ^ Lawhead 2013, tr. 362.
  148. ^ Kenny 2006, tr. 281.
  149. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 358.
  150. ^ Buckingham 2019, tr. 171.
  151. ^ a ă â Lawhead 2013, tr. 365.
  152. ^ Buckingham 2019, tr. 170.
  153. ^ a ă â Kenny 2006, tr. 295.
  154. ^ Lawhead 2013, tr. 371.
  155. ^ a ă â Lawhead 2013, tr. 372.
  156. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 373.
  157. ^ a ă Kenny 2006, tr. 296.
  158. ^ “Phúc Âm Ma-thi-ơ, chương 7, câu 12”. 
  159. ^ Kenny 2006, tr. 297.
  160. ^ Lawhead 2013, tr. 376.
  161. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 378.
  162. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 379.
  163. ^ Lawhead 2013, tr. 380 - 382.
  164. ^ Kenny 2006, tr. 298.
  165. ^ a ă Kenny 2006, tr. 299.
  166. ^ a ă Lawhead 2013, tr. 391.
  167. ^ Buckingham 2019, tr. 180.
  168. ^ Davies, Norman (1996). Europe: A History. tr. 687. ISBN 978-0060974688. 
  169. ^ Warburton 2011, tr. 128.
  170. ^ Buckingham 2019, tr. 182.

Tham khảoSửa đổi

Tài liệu đã được xuất bản bằng tiếng ViệtSửa đổi

  • Buckingham, Will (2019). Triết học - Khái lược những tư tưởng lớn. Nhà xuất bản Đông A. ISBN 978-604-88-6430-9. 
  • Ferry, Luc (2019). Học cách sống: Khái luận triết học cho thế hệ trẻ. Nhà xuất bản Hội nhà văn. ISBN 978-604-977-036-4. 
  • Tatarsky, Daniel (2017). Triết học kỳ thú. Nhà xuất bản Thế giới. ISBN 978-604-77-2912-8. 
  • Lawhead, William (2002). Hành trình khám phá thế giới triết Học phương Tây. Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa. ISBN 978-0495127796. 

Tài liệu bằng tiếng AnhSửa đổi

  • Kenny, Anthony (2006). An illustrated Brief History of Western Philosophy. Blackwell Publishing. ISBN 1-4051-4179-4. 
  • Kahn, Charles H. (2001). Pythagoras and the Pythagoreans: A Brief History. Hackett Publishing Company. ISBN 978-0-87220-575-8. 
  • Riedweg, Christoph (2005). Pythagoras: His Life, Teachings, and Influence. Ithaca, New York: New York: Cornell University Press. ISBN 978-0-8014-7452-1. 
  • Lawhead, William (2013). Voyage of Discovery: A Historical Introduction to Philosophy. Cengage Learning. ISBN 978-1285195933. 
  • Warburton, Nigel (2011). A Little History of Philosophy. Yale University Press. ISBN 978-0-300-15208-1. 

Liên kết ngoàiSửa đổi