Mở trình đơn chính

Cool Japan (Nhật: クールジャパン (Nhật Bản thú vị) Hepburn: Kūru Japan?) cùng với "Gross National Cool" (tổng thú vị quốc gia, hình thức chơi chữ của tổng sản lượng quốc gia) là một khái niệm như một biểu hiện cho sự trỗi dậy của Nhật Bản với vị thế một siêu cường quốc văn hoá. Được mở rộng trên các phương tiện truyền thông và giới học thuật, thương hiệu "Cool Japan" được chính phủ Nhật Bản thông qua cũng như các tổ chức thương mại tìm cách khai thác vốn thương nghiệp của công nghiệp văn hoá Nhật Bản. Nó được miêu tả như một hình thức của quyền lực mềm, "có khả năng gián tiếp ảnh hưởng đến hành vi và sở thích thông qua các phương tiện văn hoá hoặc ý thức hệ".[1][2]

Bối cảnhSửa đổi

Sau sự tàn phá của chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản hy vọng có thể cải thiện kinh tế và hình ảnh quốc gia bằng cách phân phối văn hóa đại chúng Nhật Bản trên khắp thế giới, đặc biệt qua Đông Á nhằm gia tăng danh tiếng và liên minh với các quốc gia láng giềng. Trái ngược với lịch sử hình thành một sức mạnh quân sự mạnh mẽ, Nhật Bản đi theo con đường tự thiết lập thành một sức mạnh quyền lực mềm, điều mà Nhật Bản tin rằng sẽ thay đổi nhận thức về hình ảnh quốc gia. Bắt đầu trong năm 1980 sau khi Bộ Ngoại giao (MOFA) thành lập, Nhật Bản bắt đầu tăng cường nỗ lực xây dựng thương hiệu quốc gia thông qua phát hành một tựa phim truyền hình dạng opera xà phòngOshin. Bộ phim được đón nhận tốt và điều này đem đến một sự thúc đẩy tức thì hình ảnh mà Nhật Bản đang cố gắng cải thiện. Thông qua sự thành công của Oshin và rất nhiều chương trình truyền hình khác, Nhật Bản đã giới thiệu ý tưởng "Cool Japan" nhằm khai thác thành công văn hóa đại chúng Nhật Bản và phân phối điều thú vị đó theo hướng nhận thức văn hóa quốc gia.[3]

Matsui Takeshi tại đại học Hitotsubashi chỉ ra thập niên mất mát 'đã đè bẹp sự tự hào của người Nhật' sau phép màu kinh tế thập niên 1980, Nhật Bản đối mặt sự cạnh tranh gay gắt của Hoa Kỳ và một số nền kinh tế mới nổi như Hàn Quốc, Trung Quốc đầu thế kỷ 21 sau 'thất bại cay đắng' trong chiến tranh thương mại với Hoa Kỳ; các sản phẩm văn hóa Nhật Bản phổ biến tại Nhật Bản và trên toàn thế giới (Nintendo, PlayStation, Hello Kitty, Pokémon, Tamagotchi) làm hồi sinh sự tự hào của người Nhật.[4] Nhà báo người Mỹ Douglas McGray ở lại Nhật Bản vào mùa xuân năm 2001 với tư cách một thành viên truyền thông của Japan Society,[5] sau đó Douglas McGray đăng một bài viết gợi dẫn Nhật Bản về chính sách ngoại giao trên Foreign Policy vào mùa xuân 2002[6] và được dịch lại sang tiếng Nhật trên tạp chí văn học Chūōkōron trong số phát hành tháng 5 năm 2003.[4][7] Trong bài viết năm 2002 trên Foreign Policy có tựa đề "Japan's Gross National Cool" [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản], Douglas McGray viết về Nhật Bản "tái tạo siêu cường quốc" với vai trò ảnh hưởng văn hóa Nhật Bản được mở rộng ra khắp thế giới bất chấp những vấn đề kinh tế và chính trị của thập niên mất mát. Khảo sát văn hóa giới trẻ và vai trò của J-pop, manga, anime, thời trang, điện ảnh, điện tử, kiến trúc, ẩm thực và hiện tượng kawaii như Hello Kitty, Douglas McGray nêu bật vị thế quyền lực mềm của Nhật Bản và đặt ra câu hỏi về thông điệp mà Nhật Bản có thể xây dựng. Douglas McGray cũng lập luận rằng suy thoái kinh tế của Nhật Bản thậm chí có thể đã thúc đẩy thú vị quốc gia bởi tai tiếng thiên vị của cấp bậc xã hội cứng nhắc xưa cũ và con đường sự nghiệp kinh doanh lớn.[6][8][9][10] Cool Japan được cho là một sự tán dương của Nhật Bản với chiến lược Cool Britannia thập niên 1990 tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland.[11] 'National Cool' [thú vị quốc gia] là một loại quyền lực mềm được giáo sư Joseph Nye tại đại học Harvard ủng hộ bởi vì đóng góp vào các mục tiêu chính trị và kinh tế của quốc gia thông qua khả năng thu hút công chúng từ các quốc gia khác,[7] bài viết của Douglas McGray cũng được nghiên cứu trong khóa học tiếng Nhật tại đại học Harvard.[12] Một phiên bản mới của chủ nghĩa dân tộc Nhật Bản thể hiện trong phân tích 'Cool Japan' đó là Nhật Bản giống như một siêu cường quốc văn hóa bắt đầu được bàn luận rộng rãi trong một số tựa sách tiếng Nhật xuất bản (IT Revolution from Japan: Japan Cool Spreading over Asia năm 2004, Imitated Japan: From anime to cooking to fashion năm 2005, Japan’s Pop Power: Real Image of Contents that Change the World năm 2006, Cool Japan: Japan That The World Wants to Buy năm 2006).[4] Nhà phê bình văn hóa Azuma Hiroki chỉ ra rằng Douglas McGray thiếu chuyên môn trong các lĩnh vực liên quan đến Cool Japan, đồng thời lập luận phản đối quan điểm cho rằng sự trỗi dậy của Cool Japan bắt trước chiến lược thương hiệu quốc gia 'Cool Britannia' được xúc tiến bởi chính phủ Tony Blair tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland trong thập niên 1990.[13]

Sức hút từ quy mô thị trường nội địa rộng lớn khiến nhiều công ty hướng về nội địa để tìm kiếm doanh thu an toàn nhưng khi nhu cầu thị trường nội địa giảm bởi sự suy giảm dân số Nhật Bản và các ngành công nghiệp truyền thống đã đạt đỉnh cũng như kinh tế các quốc gia thế giới ngày càng phát triển, 'chiến lược Cool Japan' nhằm tạo ra việc làm trong các ngành công nghiệp liên quan khi có được nhu cầu từ nước ngoài,[14][15] 'chiến lược Cool Japan' sau đó được coi là một chính sách quốc gia của Nhật Bản.[16][17] Cool Japan thường đề cập đến nội dung như văn hóa đại chúng Nhật Bản (điện ảnh, âm nhạc, manga, anime, kịch, video game) nhưng cũng có thể đề cập đến văn hóa cấp cao Nhật Bản ngày nay (văn hóa ẩm thực, thời trang, nghệ thuật đương đại, kiến trúc) hoặc có thể đề cập đến văn hóa truyền thống Nhật Bản (võ thuật bắt nguồn từ võ sĩ đạo Nhật Bản, ẩm thực Nhật Bản truyền thống, trà đạo, hoa đạo Ikebana, múa buyō). Ngoài ra, các ngành công nghiệp và sản phẩm Nhật Bản (như xe hơi, mô tô, thiết bị điện) có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu được coi là 'Cool Japan', các sản phẩm từ những ngành công nghiệp vùng và doanh nghiệp nhỏ và vừa của Nhật Bản không có tính cạnh tranh thị trường tại nội địa Nhật Bản nhưng có sức hấp dẫn mở ra khả năng cạnh tranh quốc tế thông qua hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản thì được định danh là 'Local Cool Japan' trong 'dự án hỗ trợ sản phẩm cho TPP đo lường thương hiệu JAPAN'. Trong mọi trường hợp, tất cả mọi thứ có thể 'thúc đẩy sự hấp dẫn của Nhật Bản và tạo ra việc làm trong các ngành công nghiệp liên quan khi có được nhu cầu từ nước ngoài' đều được định danh là Cool Japan.[18] Trong công nghiệp nội dung (như anime, manga, video game), thâm hụt ngân sách của Nhật Bản dần được thu hẹp cùng với sự phổ biến ngày càng tăng của Cool Japan bởi phí bản quyền sở hữu trí tuệ xuất khẩu nội dung số lượng lớn ở nước ngoài.[19] Cool Japan thành công trong kinh doanh nội địa như du lịch khi cán cân du lịch đạt thặng dư trong năm 2015 và Nhật Bản trở thành một quốc gia du lịch nhờ doanh thu lợi nhuận từ các chuyến tham quan của người nước ngoài.[19][20]

Thông quaSửa đổi

Cool Japan được xuất hiện trên các phương tiện truyền thông quốc tế, The New York Times đăng một hồi tưởng đánh giá "Year in Ideas: Pokémon Hegemon" [Năm của ý tưởng: Bá quyền Pokémon],[21] ngày càng nhiều viên chức chính phủ có tư tưởng cải cách và các nhà lãnh đạo doanh nghiệp tại Nhật Bản bắt đầu đề cập đến "tổng thú vị quốc gia" và thực hiện khẩu hiệu không chính thức "Cool Japan".[22][23][24] Trong một cuộc họp báo năm 2005, Bộ trưởng Ngoại giao đã gắn kết ý tưởng Cool Japan với khái niệm Tổng hạnh phúc quốc gia của Bhutan.[25]

Cool Japan được xuất hiện nhiều hơn vào giữa thập niên 2000 khi NHK bắt đầu một chương trình dài kỳ Cool Japan Hakkutsu: Kakkoii Nippon! tính đến cuối năm 2009 đã đạt hơn 100 tập.[26] Các sáng kiến học thuật bao gồm việc thành lập một dự án nghiên cứu Cool Japan tại Viện Công nghệ Massachusetts,[27] trong khi một số trường đại học phương Tây đã báo cáo sự gia tăng số lượng ứng viên với các khóa học Nhật Bản học bởi hiệu ứng "cool".[28] Nikkei Business Publications thành lập 'giải Cool Japan' vào năm 2004 để tôn vinh những người đóng góp cho xuất khẩu văn hóa Nhật Bản với vai trò một hạng mục mới của giải nhà sáng tạo Nhật Bản, đại học Meiji thành lập khoa 'Nhật Bản học toàn cầu' vào năm 2007 để nghiên cứu một cách khoa học về Cool Japan.[4]

Sự thông qua Cool Japan cũng đã thúc đẩy những thay đổi trong nghiên cứu văn hóa. Kết quả từ sự mê hoặc của Cool Japan với văn hóa giới trẻ Nhật Bản và các trường nữ sinh, một làn sóng nghiên cứu mới gọi là 'con gái học' tập trung đặc biệt vào trải nghiệm của các cô gái và những người tâm hồn con gái. Từng là một chủ đề tâm lý học thanh thiếu niên hoặc chủ nghĩa nữ quyền trước đây, 'con gái học' xuất hiện từ Cool Japan bao gồm một phân tích liên ngành về văn hóa con gái.[29]

Chính sách quốc giaSửa đổi

Từ thập niên 1980, Nhật Bản trở thành nhà xuất khẩu văn hóa đại chúng quan trọng (anime, manga, video game), phim truyền hình Nhật Bảnthần tượng Nhật Bản được các quốc gia tại Đông Á mô phỏng lại như Hàn Quốc.[30] Trước thập niên 2000, xuất khẩu văn hóa đại chúng Nhật Bản hoàn toàn thuộc khu vực tư nhân và không có sự xúc tiến của chính phủ Nhật Bản,[31] chính phủ Nhật Bản khi đó ưu tiên xúc tiến văn hóa tại thị trường nội địa vì cho rằng xuất khẩu văn hóa không phải là một hình thức thương mại lợi nhuận cho kinh tế Nhật Bản.[32] Theo Sugiura Tsutomu, xuất khẩu văn hóa Nhật Bản (truyền thông, bản quyền, xuất bản, thời trang, giải trí, hội họa) tăng từ 497 tỷ JP¥ năm 1992 lên gần 1,5 nghìn tỷ JP¥ năm 2002, tương ứng với giá trị tích lũy 10,5 nghìn tỷ JP¥ từ năm 1992 đến năm 2002.[33] Sugiura Tsutomu ước tính xuất khẩu văn hóa đại chúng Nhật Bản (âm nhạc, video game, anime, điện ảnh, manga), sách, tạp chí, tranh vẽ, nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ cũng như biểu diễn, sự kiện, bản quyền sáng chế, nhượng quyền thương mại, thanh toán bản quyền đạt 836 tỷ JP¥ năm 1996 và tăng lên gấp ba lần thành 2,5 nghìn tỷ JP¥ năm 2006; ngược lại xuất khẩu hàng hóa (phi văn hóa và văn hóa) trong thời gian tương ứng tăng 68% (44,7 nghìn tỷ JP¥ năm 1996 lên 75,2 nghìn tỷ JP¥ năm 2006) nhưng không đạt tốc độ cao so với tăng trưởng xuất khẩu văn hóa Nhật Bản.[34] Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản công bố số lượng người nước ngoài học tiếng Nhật ở nước ngoài tăng từ 127.000 năm 1979 lên gần 4 triệu năm 2012 nhờ văn hóa đại chúng Nhật Bản (anime, manga, J-pop).[35] Chính phủ Nhật Bản siết chặt vấn đề vi phạm bản quyền và nêu rõ trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) ký kết giữa Nhật Bản và các quốc gia láng giềng châu Á, các chi nhánh Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (JETRO) tại Đông ÁĐông Nam Á tổ chức các hội thảo thực thi chống vi phạm bản quyền dành cho thẩm phán và hải quan nước ngoài.[36]

Chiến lược Cool Japan gồm hai mục tiêu là thúc đẩy xuất khẩu công nghiệp văn hóa Nhật Bản và giới thiệu hình ảnh Nhật Bản thân thiện ở nước ngoài. Các tác nhân chính phủ Nhật Bản liên quan đến Cool Japan gồm: Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI), Bộ Ngoại giao (MOFA), Bộ Nội vụ và Truyền thông (MIC), trụ sở chiến lược sở hữu trí tuệ (IPSH) thuộc Văn phòng Nội các, Bộ trưởng chiến lược Cool Japan, Cục Văn hóa thuộc Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (MEXT), Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản, Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (JETRO), Cục Du lịch Nhật Bản (JTA) thuộc Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch (MLIT), J-LOP, J-LOP +, quỹ Cool Japan.[37]

Báo cáo nghiên cứu về công nghiệp nội dung của chính phủ Nhật Bản[38]
Thập niên Số lượng báo cáo nghiên cứu
Nội dung liên quan video game anime manga
1980 0 0 0 0
1990 97 17 5 1
2000 516 43 82 37
Cán cân thương mại của công nghiệp sáng tạo Nhật Bản năm 2011 (tỷ JP¥)[92]
Video game Mỹ phẩm Thời trang Điện ảnh Âm nhạc Sách Tạp chí Bản quyền Du lịch
Xuất khẩu 293 129,2 37,6 4,6 2,2 7,3 4,3 131,7 875,2
Nhập khẩu 2,1 167,4 1.851,6 40,8 24 21,7 7,2 700,7 2.171,6
Cán cân thương mại 290,9 -38,2 -1,814 -36,2 -21,8 -14,4 -2,9 -569 -1.296,3

Phòng công nghiệp sáng tạoSửa đổi

Chính phủ Nhật Bản đã xác định công nghiệp văn hóa giữ vai trò là một trong năm lĩnh vực tăng trưởng tiềm năng.[176] Tháng 6 năm 2010, Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp thành lập một phòng Công nghiệp Sáng tạo nhằm thúc đẩy công nghiệp văn hóa và sáng tạo như một khu vực chiến lược "theo khái niệm thuật ngữ dài hạn, đơn giản của Cool Japan, phối hợp các chức năng khác nhau của chính phủ Nhật Bản và hợp tác với khu vực tư nhân".[177] Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp tuyến bố rằng văn hóa đại chúng Nhật Bản là một trong những yếu tố quan trọng của Cool Japan; văn hóa đại chúng bao gồm thần tượng, anime và người sành ăn hạng B (B級グルメ).[178]

Phòng Công nghiệp Sáng tạo miêu tả sứ mệnh của Cool Japan đóng vai trò "tạo nhãn hiệu sản phẩm Nhật Bản với sự độc đáo của văn hóa Nhật Bản".[179][180] Tính đến năm 2011, chính phủ Nhật Bản tài trợ Cool Japan một gói ngân sách hơn 19 tỷ JP¥ (237 triệu US$).[180] Trong năm tài chính 2008, chi tiêu chính phủ vào các hoạt động văn hóa của Hàn Quốc đạt 119,6 tỷ JP¥, Trung Quốc đạt 447,5 tỷ JP¥, Nhật Bản đạt 101,8 tỷ JP¥ tương ứng với 0,79%, 0,51%, 0,12% trong chi tiêu chính phủ của từng quốc gia.[179] Quỹ Cool Japan ra mắt năm 2013,[181] chính phủ Nhật Bản cam kết tài trợ quỹ Cool Japan 50 tỷ JP¥ (500 triệu US$) trong hơn 20 năm, với mục tiêu đạt 60 tỷ JP¥ (600 triệu US$) thông qua các quan hệ đối tác nhà đầu tư tư nhân.[182] Quỹ Cool Japan có ba mục tiêu lớn: đầu tiên là xúc tiến quảng bá hàng hóa địa phương và văn hóa Nhật Bản trên quy mô toàn cầu cũng như thu hút du lịch đến Nhật Bản, thứ hai là trung tâm thương mại Nhật Bản (tọa lạc tại các trung tâm thành phố lớn thu hút khách hàng người nước ngoài), thứ ba là kênh Nhật Bản (đài truyền hình nước ngoài phát sóng nhiều nội dung liên quan đến Nhật Bản).[183][184] Theo giám đốc điều hành Kato Eiji, quỹ Cool Japan là một công ty đầu tư trong bốn lĩnh vực: nội dung truyền thông, lối sống thời trang, ẩm thực, dịch vụ; quỹ hoạt động với năm chiến lược: tập trung vào đầu tư dòng tiền, tập trung vào các đối tác địa phương, theo đuổi sức mạnh tổng hợp toàn cầu, đa dạng hóa các phương pháp, tối ưu hóa danh mục đầu tư đầu tư.[185] Quỹ Cool Japan thua lỗ 4,5 tỷ JP¥ trong tổng số 35 tỷ JP¥ đầu tư cho 17 dự án tính đến tháng 3 năm 2017,[186][187] quỹ Cool Japan lỗ 4,4 tỷ JP¥ trong tổng số vốn 52,9 tỷ JP¥ đầu tư cho 25 dự án tính đến năm 2018.[181] Nihon Keizai Shimbun cho biết quỹ Cool Japan trong vòng 5 năm "đã chịu lỗ trước thuế tổng cộng 10 tỷ JP¥ (88,9 triệu US$)" và 18 dự án không thu được lợi nhuận.[188][189] Tháng 6 năm 2018, quỹ Cool Japan được quản lý bởi cựu tổng giám đốc điều hành Sony Music Entertainment Japan Kitagawa Naoki.[190] Quỹ Cool Japan xúc tiến 29 dự án với quy mô 62 tỷ JP¥ tính đến tháng 7 năm 2018 (trong đó 58,6 tỷ JP¥ đến từ nguồn vốn công),[186] tăng thành 31 dự án với quy mô 66,4 tỷ JP¥ vào tháng 3 năm 2019.[191] Tính đến tháng 7 năm 2019, quỹ Cool Japan xúc tiến đầu tư 35 dự án với 87% nguồn vốn từ chính phủ Nhật Bản, quỹ đầu tư vào hình thức doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) và doanh nghiệp với khách hàng (B2C).[192]

Năm Xúc tiến đầu tư
2011
  • Tháng 10 năm 2011, công ty All Nippon Entertainment Works (ANEW) được thành lập từ nguồn vốn đầu tư ban đầu 2,22 tỷ JP¥ trong tổng số nguồn vốn dự kiến 6 tỷ JP¥ của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp nhằm xúc tiến các tài sản văn hóa Nhật Bản được chuyển thể sang điện ảnh Hoa Kỳ. ANEW hủy bỏ sản xuất bảy bộ phim đã công bố trước đó và được bán lại cho một công ty đầu tư mạo hiểm tại Kyōto vào tháng 6 năm 2017 với giá 34 triệu JP¥, tương đương 1,5% khoản đầu tư ban đầu.[181][186][187]
2013
  • Tháng 11 năm 2013, thành lập quỹ Cool Japan theo luật về quỹ Cool Japan (đạo luật số 51 năm 2013).[82][186]
2014
  • Thủ công truyền thống Nhật Bản được trưng bày tại hội chợ thương mại Maison & Objet để quảng bá văn hóa monodzukuri (sản xuất chế tạo) của Nhật Bản.[193]
  • Kênh truyền hình vệ tinh WakuWaku Japan phát sóng các chương trình Nhật Bản với những khán giả nước ngoài ở khu vực châu Á.[181] WakuWaku Japan là một doanh nghiệp liên doanh với tập đoàn truyền hình SKY Perfect JSAT (SKY Perfect JSAT đóng góp 6,6 tỷ JP¥ và quỹ Cool Japan góp 4,4 tỷ JP¥ trong tổng số 11 tỷ JP¥ cho WakuWaku Japan) nhưng thất bại trong việc mở rộng quy mô ở nhiều thị trường và thu hút thêm lượng người xem khi thua lỗ gần 4 tỷ JP¥ tính đến năm 2017.[189]
  • Công ty K Line (Kawasaki Kisen Kaisha) hợp tác với Japan Logistic Systems Corp xây dựng một kho trữ hàng đông lạnh 9.300 m2 với trị giá 15 triệu US$ tại Việt Nam (quỹ Cool Japan góp vốn 7,35 triệu US$), cung cấp đồ uống và ẩm thực Nhật Bản cho FamilyMart tại Việt Nam với mục tiêu thúc đẩy Washoku (和食 (Hoà thực) ẩm thực Nhật Bản?).[194][195]
  • Công ty đa quốc gia Anime Consortium Japan (ACJ) được thành lập vào khoảng tháng 11 với vốn đầu tư 1 tỷ JP¥ bởi quỹ Cool Japan, Toei Animation, Sunrise, TMS Entertainment, Aniplex, Asatsu-DK, Nihon Ad Systems, Dentsu, Bandai Namco Holdings; mục tiêu giải quyết vấn đề vi phạm bản quyền, nội địa hóa và củng cố phát trực tuyến kỹ thuật số nội dung Nhật Bản tại Daisuki.[196][116]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 1,5 tỷ JP¥ vào nền tảng truyền thông và thương mại điện tử Tokyo Otaku Mode (TOM) liên quan đến anime, manga, video game, âm nhạc, thời trang của Nhật Bản.[116][195]
  • Quỹ Cool Japan hợp tác với H2O Retailing xây dựng một cửa hàng bách hóa Nhật Bản tại thành phố Ninh Ba của Trung Quốc; tổng chi phí dự án khoảng 51 tỷ JP¥, quỹ Cool Japan và H2O Retailing mỗi bên đóng góp 10,5 tỷ JP¥, các công ty địa phương huy động số tiền còn lại.[195]
  • Quỹ Cool Japan hợp tác với Dentsu thành lập hai liên doanh 'Gal Labo Asia' và 'Asia Kawaii Way', mục đích tận dụng sự chuyển đổi văn hóa gyaru (gal) của Nhật Bản từ đường phố sang thịnh hành tại nội địa và nước ngoài.[116]
2015
  • Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp khởi động Nippon Quest, một website giới thiệu và lan truyền các đặc sản vùng còn xa lạ của Nhật Bản đến với thế giới.[197]
  • Quỹ Cool Japan đã chi 250 triệu JP¥ cho gần 50% cổ phần trong một liên doanh để vận hành các quán cà phê Hoa Kỳ chuyên biệt về trà đạo Nhật Bản; quỹ Cool Japan và tập đoàn Nagasaki đã phá vỡ hợp đồng đầu tư chung vào tháng 9 năm 2016.[189][198]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 450 triệu JP¥ (3,7 triệu US$) vào các tác giả sáng tạo nội dung animemanga bên ngoài Nhật Bản của Học viện Nội dung Kodokawa.[199]
  • Công ty Design Setta Sango chuyên sản xuất dép tông truyền thống Nhật Bản được Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp chọn là một phần trong dự án 'The Wonder 500' của Cool Japan nhằm quảng bá các ngành công nghiệp địa phương của Nhật Bản. Công ty Design Setta Sango đã giới thiệu sản phẩm tại các triển lãm ở SingaporeĐài Loan, tiếp tục giới thiệu tại 'tuần lễ thiết kế Nhật Bản' năm 2017 và 'tuần lễ thiết kế Nhật Bản' năm 2018 tại Milano.[200]
  • Quỹ Cool Japan, ImagicaSumitomo Corporation mua lại công ty dịch thuật điện ảnh Hoa Kỳ SDI Media có trụ sở tại California với giá 160 triệu US$ (quỹ Cool Japan nắm giữ 49,6%, Sumitomo Corporation nắm giữ 0,3%), mục đích mở rộng thị trường mới và tăng tốc phân phối nội dung Nhật Bản trên toàn thế giới.[201]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 700 triệu JP¥ vào Chikaranomoto Holdings để phát triển chuỗi nhà hàng ramen Ippudo nhằm thiết lập các đại lý cao cấp tại Hoa Kỳchâu Âu, cơ sở tài chính được đảm bảo lên tới 1,3 tỷ JP¥.[198][202]
2016
2017
  • Quỹ Cool Japan cùng với các công ty đối tác thành lập một liên doanh đầu tư 2 tỷ JP¥ (18,2 triệu US$) xây dựng các nhà hát trong nhà và ngoài trời xung quanh công viên Lâu đài Osaka tại Ōsaka, mục đích thu hút khách du lịch nước ngoài với các hoạt động văn hóa và nghệ thuật truyền thống Nhật Bản (rakugo, bunraku, kabuki, nhạc kịch anime).[206]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 5 tỷ JP¥ vào các nhóm hội trường âm nhạc Zepp (thuộc Sony Music Entertainment Japan) nhằm thiết lập và vận hành các địa điểm biểu diễn âm nhạc trực tiếp tại hơn mười thành phố lớn ở Nhật Bản và châu Á trong năm 2020; mục địch nhằm giúp âm nhạc Nhật Bản kết nối với người hâm mộ châu Á cũng như nghệ sĩ người Nhật kết nối với các nhà tài trợ và truyền thông địa phương.[207]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 500 triệu JP¥ vào dự án G-FACTORY nhằm xúc tiến mở rộng kinh doanh của các công ty dịch vụ ẩm thực Nhật Bản có quy mô nhỏ và vừa hoạt động trong các thành phố lớn tại thị trường ASEAN, đồng thời hỗ trợ ra mắt 100 cửa hàng ẩm thực Nhật Bản mới trong 5 năm.[208]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 3 tỷ JP¥ vào hội trường ẩm thực Nhật Bản Ichiba tại Luân Đôn (gồm khu ẩm thực, khu bán lẻ, trình diễn nấu ăn và các hoạt động quảng bá làm phong phú thêm trải nghiệm của khách hàng), dự án là liên doanh hợp tác giữa Japan Centre Group và quỹ Cool Japan nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp quảng bá ẩm thực và đồ gia dụng Nhật Bản cũng như thúc đẩy sự hiểu biết về văn hóa ẩm thực Nhật Bản ra toàn cầu thông qua phát triển kinh doanh tại Luân Đôn.[209]
2018
  • Khoản đầu tư đầu tiên với quản lý mới của quỹ Cool Japan giá trị 12,5 triệu US$ vào kênh ẩm thực Tastemade và trở thành một cổ đông thiểu số, nhằm hỗ trợ quảng bá nội dung về các điểm tham quan và ẩm thực Nhật Bản.[188]
  • Quỹ Cool Japan đầu từ 5,15 tỷ JP¥ vào quỹ Japan Contents Factory (JCF) cùng với các đối tác NTT Plala, YD Creation, Bungeishunju, Aeon Entertainment; mục đích cung cấp nguồn vốn cho đến khi thanh toán phí cấp phép, hỗ trợ các công ty sản xuất nội dung thị giác trong một hợp đồng hứa hẹn thanh toán sau khi hoàn thành các dịch vụ truyền thông như video theo yêu cầu (VOD).[210]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 1 tỷ JP¥ vào quỹ mạo hiểm Miyako Kyoto University Innovation (thuộc Miyako Capital) nhằm cung cấp tiền rủi ro cho các công ty liên doanh trong các lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và công nghệ tiên tiến để cạnh tranh toàn cầu, hợp tác với một số đại học và viện nghiên cứu tại Nhật Bản và quốc tế bao gồm đại học Kyoto.[211]
  • Khu phức hợp giải trí Cool Japan Park Osaka được khánh thành tại Ōsaka từ nguồn tài trợ 1,2 tỷ JP¥ của quỹ Cool Japan, mục đích cung cấp trải nghiệm giải trí chất lượng cao Nhật Bản và thu hút khách du lịch.[212][213]
  • Công ty khởi nghiệp công nghệ sinh học Nhật Bản Spiber sản xuất protein tơ nhện tổng hợp có tổng số vốn đạt 22,4 tỷ JP¥ nhờ nguồn tài trợ từ quỹ Cool Japan và các nhà đầu tư khác.[214]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 16 triệu US$ vào liên doanh của Japan International Broadcasting và Fund Corporation for the Overseas Development of Japan’s ICT and Postal Services (JICT) nhằm thành lập kênh truyền hình Dream Vision phân phối nội dụng Nhật Bản tại Myanmar thông qua tập đoàn truyền thông tại Myanmar là Shwe Than Lwin Media (STLM) và Myanmar National Television (MNTV) vào tháng 4 năm 2018.[205][215]
2019
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 10 tỷ JP¥ vào doanh nghiệp liên doanh 'Laugh & Peace Mother' có trụ sở tại Naha (dự kiến ra mắt tháng 10 năm 2019) của Yoshimoto KogyoNippon Telegraph and Telephone; mục tiêu sản xuất, phân phối nội dung giáo dục trẻ em tại Nhật Bản và nước ngoài.[216][217][218]
  • Công ty khởi nghiệp về truyền thông sắc đẹp và lối sống Clozette có trụ sở tại Singapore nhận khoản đầu tư 1,1 tỷ JP¥ (13,5 triệu US$) từ quỹ Cool Japan nhằm mở rộng tới các thị trường mới thông qua các hoạt động hỗ trợ tiếp thị KOL của thế hệ trẻ và phát triển hệ sinh thái Cool Japan tương tác (dự kiến ra mắt vào tháng 6 năm 2019); mục tiêu quảng bá các điểm tham quan du lịch, thời trang, mỹ phẩm, ẩm thực, lối sống của Nhật Bản tới người tiêu dùng trên toàn cầu, hướng đến quảng bá Cool Japan thông qua các dịch vụ mạng xã hội.[219][220]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 2,2 tỷ JP¥ để mua lại công ty bán buôn rượu Trio có trụ sở tại Hồng Kông, công ty Trio chủ yếu phân phối rượu cho các khách sạn nước ngoài và nhà hàng sang trọng ở Trung Quốc. Quỹ Cool Japan đóng vai trò cầu nối giúp nhà máy rượu sake Nhật Bản tiếp cận thị trường Trung Quốc và mở rộng xuất khẩu.[221]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 1 tỷ JP¥ cho liên doanh Wonder Planet ở Nagoya, một ứng dụng phát triển các trò chơi trên điện thoại thông minh có nguồn gốc Nhật Bản và tăng cường phân phối ở nước ngoài.[222]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 1 tỷ JP¥ vào công ty nền tảng trung gian sản xuất trang phục Citatel tại thành phố Kumamoto và trở thành một cổ đông thiểu số. Quỹ Cool Japan hợp tác với các nhà máy sản xuất vải và các nhà máy may tại Nhật Bản nhằm sản xuất một số lượng nhỏ trang phục chất lượng cao, tạo ra một môi trường giúp các nhà thiết kế cá nhân và thương hiệu nhỏ tại Nhật Bản có thể xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài.[223]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 1,1 tỷ JP¥ vào công ty phân phối rượu Winc trên internet có trụ sở tại Hoa Kỳ, mục tiêu hỗ trợ các nhà máy sake Nhật Bản mở rộng thị trường tiêu thụ tại Hoa Kỳ.[224]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 3,2 tỷ JP¥ giá trị cổ phiếu vào Sentai Holdings để phân phối anime và bán hàng hóa Nhật Bản tại thị trường Bắc Mỹ.[225][226]
  • Quỹ Cool Japan đầu tư 10 triệu US$ vào nền tảng đặt phòng du lịch KKDay có trụ sở tại Đài Loan, mục đích hình thành quan hệ đối tác để phát triển các chuyến du lịch Nhật Bản độc đáo, KKDay kết nối người dùng với các hoạt động và trải nghiệm văn hóa địa phương tại Nhật Bản.[227]

Đón nhậnSửa đổi

Năm 2012, giám đốc điều hành A.T. Kearney Japan là Umezawa Takaaki ủng hộ chiến lược Cool Japan và cho rằng 'Nhật Bản nói chung mạnh về lĩnh vực sáng tạo nhưng yếu trong một số lĩnh vực then chốt: khả năng đánh giá thị trường nước ngoài, các doanh nhân có khả năng dẫn dắt sự phát triển thị trường nước ngoài, tiền rủi ro cần thiết để hỗ trợ các hoạt động này'.[228] Năm 2013, nhà sản xuất của AKB48Akimoto Yasushi nhận xét rằng 'để ngăn chặn chiến dịch Cool Japan kết thúc trong một hình ảnh rỗng, điều quan trọng là tạo ra các ví dụ thành công'.[229] Giám đốc điều hành quỹ Cool Japan năm 2013 là Ota Nobuyuki phát biểu rằng 'các nhà sản xuất địa phương đang thu hẹp và nhiều người trẻ rời đến các thành phố lớn hơn. Một khi các thế hệ cũ chết đi, sẽ không có ai đảm nhận điều đó'; giám đốc điều hành Brightrust PE Japan Co là Takeuchi Joji cho rằng 'vốn mạo hiểm từ các nhà đầu tư tư nhân là rất nhỏ và không có gì hơn một sự hỗ trợ của họ dành cho sáng kiến ​​của chính phủ'.[230] Giáo sư Hiroyuki Kishi tại đại học Keio chỉ ra hai vấn đề ảnh hưởng đến Cool Japan là chính phủ không giới hạn thể loại văn hóa Nhật Bản chủ chốt và ngân sách quốc gia để quảng bá có thể là một sự lãng phí tiền thuế, Hiroyuki Kishi cho rằng K-pop thành công vì thị trường nội địa nhỏ đã thúc đẩy các công ty tư nhân Hàn Quốc sẵn sàng chấp nhận rủi ro và đầu tư vào thị trường toàn cầu trong khi các công ty phụ trách văn hóa Nhật Bản lại tối đa hóa lợi nhuận trong thị trường nội địa quy mô lớn.[231] Masakazu Honda của Toyo Keizai thất vọng khi phim truyền hình Hàn Quốc thành công tại Việt Nam nhờ trợ giá từ chính phủ Hàn Quốc với mức bán gần như miễn phí và số tập một bộ phim truyền hình Hàn Quốc nhiều hơn so với khung cố định 12 tập của phim truyền hình Nhật Bản; Masakazu Honda chỉ ra việc quảng bá phim truyền hình Hàn Quốc đang được tiến hành tại các quốc gia châu Á nhờ 70% lợi nhuận phí quảng cáo cao tại Nhật Bản.[232] Trung Rwo trên Zing cho rằng phim truyền hình Hàn Quốc được trợ giá từ chính phủ Hàn Quốc so với phí bản quyền khá đắt của phim truyền hình Nhật Bản, thị trường nội địa Nhật Bản rộng lớn và tính khép kín của người Nhật nên chưa tạo ảnh hưởng lớn tại Việt Nam dù đã từng vang danh trước đây với Oshin.[233] Matsui Takeshi tại đại học Hitotsubashi cho rằng mục tiêu các chính sách Cool Japan của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp là tăng trưởng thị trường toàn cầu ngành công nghiệp nội dung Nhật Bản và dựa trên lý luận kinh điển của chính sách công nghiệp, điều thú vị là Cool Japan sử dụng lý luận quyền lực mềmthương hiệu quốc gia để khẳng định tầm quan trọng của sự phát triển công nghiệp nội dung đối với một quốc gia được cộng hưởng ngoại giao văn hóa.[4] CNBC cho rằng ban đầu Cool Japan được thành lập để quảng bá animemanga nhưng chiến dịch hiện tại đã biến đổi thành một thứ lớn hơn rất nhiều.[234] Trong chuyến thăm của thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzō tại Nhà Trắng vào ngày 29 tháng 4 năm 2015, tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama phát biểu 'hôm nay là một cơ hội hội để người Mỹ, đặc biệt là giới trẻ của chúng tôi nói lời cảm ơn cho tất cả những thứ chúng tôi yêu thích từ Nhật Bản như karatekaraoke, mangaanime, tất nhiên cả emoji'.[235] Nghiên cứu của Đại học Quốc gia Singapore năm 2018 cho rằng chính phủ Nhật Bản không tận dụng tối đa các nền tảng truyền thông xã hội để quảng bá Cool Japan đến công chúng (Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp không có tài khoản twitter để cập nhật tiến độ của dự án, facebook 'Cool Japan' của NHK chủ yếu đề cập đến trải nghiệm văn hóa của khách du lịch nước ngoài tại Nhật Bản nhưng sự liên kết với dự án quốc gia Cool Japan còn mơ hồ).[82] Motoharu Kano của Gendai Ismedia cho rằng 'Cool Japan của chính phủ tuy luôn bị chỉ trích không thú vị nhưng cần tiếp tục mở rộng kinh doanh và hết sức cẩn thận để không trở thành 'Angry Japan''.[202] Patrick St.Michel của The Atlantic cho rằng Cool Japan không nỗ lực làm nổi bật các siêu sao Nhật Bản (đặc biệt trong lĩnh vực âm nhạc Nhật Bản), Kyary Pamyu PamyuBabymetal thành công vang dội trên YouTube nhưng không có sự hỗ trợ từ Cool Japan.[236] Ronald Taylor của The Japan Times cho rằng Cool Japan đã đáp ứng với chia sẻ của các nhà phê bình mà Murakami Haruki là một ví dụ, Cool Japan có xu hướng thiên vị anime và văn hóa truyền thống hơn so với âm nhạc và điện ảnh Nhật Bản (sự kiện 'Japan Nite' không được Cool Japan hỗ trợ); nhạc sĩ Seiho phát biểu: 'chính phủ và các công ty nghĩ rằng vì AKB48Kyary Pamyu Pamyu có ảnh hưởng lớn tại Nhật Bản nên sẽ có tiềm năng lớn ở nước ngoài, nhưng họ đã sai. Họ nên im lặng khi liên quan đến văn hóa, nhưng hãy hỗ trợ ngân sách cho các nghệ sĩ để truyền bá văn hóa Nhật Bản ra nước ngoài một cách tự nhiên'.[237] Alex Watson của Wall Street International Magazine cho rằng Cool Japan của chính phủ Nhật Bản đã bỏ qua kho tàng văn hóa truyền thống như các bậc danh sĩ (Bạch Ẩn Huệ Hạc, Itō Jakuchū, Utagawa Kunisada) hoặc nhà văn như Abe Kōbō hoặc các di sản (Sanjūsangen-dōKyōto, đền ItsukushimaHiroshima) hoặc các nhà làm phim/ nghệ sĩ nổi bật (Atsuko Suka, Miyazawa Akio, Makoto Aida, Son Shion) bởi vì thiếu an tâm và độ chín muồi.[11] Makino Yoshiji của Kenja no Sentaku cho rằng quỹ Cool Japan hoạt động trong 20 năm với ngân sách khổng lồ 100 tỷ JP¥ nên được một tổ chức thứ ba giám sát để tránh bị các công ty quảng cáo lớn đánh cắp, chỉ ra sự chậm chạp của Nhật Bản khi tái phát sóng bộ phim Oshin tại Việt Nam 'không thể đánh bại cuộc tấn công thị trường của Hàn Quốc' với sức hút K-pop dành cho những phụ nữ trẻ người Việt; Makino Yoshiji gợi ý Cool Japan nên phân tích nhu cầu địa phương của các quốc gia với một tác động mạnh mẽ 'đó là Nhật Bản thực sự' và sử dụng như một chất xúc tác để tấn công.[184] Hirotaka Watanabe trên Diễn đàn chính sách ngoại giao Nhật Bản thuộc Bộ Ngoại giao cho rằng một vấn đề tương lai trong việc thành lập thương hiệu quốc gia của Nhật Bản là làm rõ khái niệm, một mục tiêu xác định, tạo ra một câu chuyện (bối cảnh), đưa ra một vai trò rõ ràng.[110] Năm 2017, giáo sư Keiko Sakagami tại đại học Waseda cho rằng người Nhật bị Cool Japan ảnh hưởng mạnh mẽ nhiều hơn so với người nước ngoài, nếu người Nhật với tư cách là người khởi tạo chỉ nghĩ đến sự tán thưởng dễ dãi của người nước ngoài và dễ dàng đánh mất bản chất của nó bởi 'ảo ảnh' thì sẽ không thể hy vọng về sự phát triển trong tương lai.[238] Mark McLelland tại đại học Wollongong chỉ ra sự lan truyền Cool Japan khác biệt so với thành công trước đó của ngành sản xuất chế tạo Nhật Bản vì 'ngoài việc hàng hóa Cool Japan được cấp phép và phân phối chính thức thì một số lượng lớn hơn đã được lưu hành thông qua các mạng phân phối vi phạm bản quyền do người hâm mộ phân phối trên internet'.[239] Nissim Otmazgin giải thích khả năng công nghiệp văn hóa Nhật Bản sản xuất chế tạo hàng hóa văn hóa đại chúng và tiếp thị trên quy mô lớn nhờ mối quan hệ hàng hóa hóa liên tục và tích cực giữa các ngành công nghiệp văn hóa với khán giả.[240] Năm 2019, Noah Smith của The Economic Times gợi ý chính phủ Nhật Bản nên sử dụng các ưu đãi tài chính để khuyến khích các công ty sản xuất giải trí xuất khẩu sản phẩm của họ, đồng thời trao một số lượng lớn các bản hợp đồng cho những công ty tiếp thị và quảng cáo nhỏ hơn thay vì các công ty lớn (Dentsu, Hakuhodo), hướng các nguồn lực vào những thị trường mà Nhật Bản đã thành công trong việc thâm nhập thị trường nước ngoài.[14] Eyal Ben-Ari và Nissim Otmazgin chỉ ra rằng các chính sách của chính phủ Nhật Bản đang khuyến khích xuất khẩu văn hóa đại chúng Nhật Bản bằng cách hỗ trợ các công ty lớn nhưng 'các công ty nhỏ và các công ty khởi nghiệp mạo hiểm mới chính là trái tim sản xuất văn hóa đại chúng'.[241]

Chỉ tríchSửa đổi

Một bài xã luận trên Yomiuri Shimbun lập luận rằng chính phủ Nhật Bản đã không hành động đủ nỗ lực để thúc đẩy lãi thương mại của quốc gia trong lĩnh vực này, cho phép Hàn Quốc nổi lên như một đối thủ cạnh tranh. Bài xã luận đã nhấn mạnh sự thiếu hiệu quả về cơ cấu khi Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp quảng bá Cool Japan, Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm trao đổi văn hóa, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản phụ trách về ẩm thực Nhật Bản.[242][243][244] Giảng viên Roland Kelts cũng cho rằng một thất bại trong việc phân biệt đầy đủ, nhãn hiệu, thu hút khán giả và thị trường nước ngoài có thể dẫn đến khả năng Cool Japan đã 'kết thúc'.[245][246] Năm 2011, Laura Miller đã chỉ trích chiến dịch Cool Japan vì khai thác, bóp méo ngôn ngữ và thời trang tiểu văn hóa giới trẻ.[247] Năm 2012, Chiang Chuck của Vancouver Sun cho rằng chính phủ Nhật Bản đã không tạo đủ những ảnh hưởng tối đa của văn hóa đại chúng Nhật Bản ở đỉnh cao, sự trỗi dậy của Hàn Quốc như một người chơi văn hóa trong thập niên 2000 tượng trưng cho một cơ hội đã mất và Cool Japan được hỗ trợ bởi bộ máy quan liêu của chính phủ Nhật Bản.[248] Nissim Otmazgin cho rằng khi thực hiện Cool Japan, các cơ quan và các bộ thuộc chính phủ Nhật Bản có sự canh tranh thường xuyên nguồn vốn, trách nhiệm chồng chéo, thiếu phối hợp, đấu tranh về uy tín.[249] Năm 2013, Nancy Snow đã gọi Cool Japan như một hình thức tóm tắt lại văn hóa được chính phủ Nhật Bản tài trợ là tổng tuyên truyền quốc gia.[250] Ca sĩ kiêm sáng tác nhạc Gackt chỉ trích chính phủ Nhật Bản trong năm 2015 bởi vì đã lập một ngân sách khổng lồ nhưng "không biết nên đưa số tiền đó đi đâu. Không có gì quá phóng đại khi nói rằng ngân sách đã rơi vào một vòng xoáy đi xuống khi đồng tiền thuế lãng phí đang chảy vào các công ty ít được biết đến", việc thiếu hụt sự hỗ trợ đang là nguyên nhân khiến Nhật Bản "tụt hậu so với các nước láng giềng châu Á về xuất khẩu văn hóa".[181][251] Năm 2016, Benjamin Boas chỉ ra rằng những nỗ lực được gắn nhãn Cool Japan thường được quảng bá mà không có sự tham gia của người nước ngoài, bỏ qua quan điểm của những người nước ngoài mà Nhật Bản đang cố gắng nhắm mục tiêu.[252] Năm 2015, chính khách Matsuda Kota nhận xét 'Cool Japan nên hỗ trợ các doanh nghiệp sáng tạo mới nhưng thay vào đó Cool Japan lại được kiểm soát bởi các công ty lớn' và những thứ người Nhật cho là thú vị nhưng có thể rất khác với suy nghĩ người nước ngoài (sushi, tempura, sukiyaki được người Nhật xem là tiêu chuẩn vàng của ẩm thực Nhật Bản nhưng thực tế ramen giảm giá lại bùng nổ hiện tại).[234] Laurence Henry nói rằng xuất khẩu văn hóa đại chúng Nhật Bản thấp (chiếm 5% tổng doanh số của công nghiệp sáng tạo Nhật Bản năm 2012, công nghiệp nội dung của Nhật Bản chiếm 0,5% tổng sản lượng thế giới năm 2012) bởi vì thị trường nội địa phát triển mạnh mẽ và không tìm kiếm tăng trưởng ở nước ngoài, chính sách của chính phủ Nhật Bản đã hạn chế các cuộc cạnh tranh và bảo vệ lợi ích một số công ty sản xuất lớn ở Nhật Bản.[253] Năm 2016, họa sĩ Murakami Takashi nhận xét Cool Japan là 'ngu ngốc, siêu ngu ngốc. Cái tên này rất hay, nhưng một số tiền khổng lồ chỉ dành cho quảng cáo, không có gì thực sự xảy ra, quá trình thực sự và nỗ lực sáng tạo văn hóa cần có thời gian, đó là một quá trình không bao giờ kết thúc'.[254]

Năm 2017, một giám đốc điều hành cấp cao và một số nhân viên nam cấp cao của quỹ Cool Japan đã bị cáo buộc quấy rối tình dục các nhân viên nữ của quỹ, các nhân viên đã thành lập một công đoàn để đấu tranh chống lại quấy rối tình dục.[255] Cùng năm 2017, nhà báo Saito Yuta của Nihon Keizai Shimbun chỉ trích tham vọng của quỹ vì "thiếu chiến lược và kỷ luật khiến gia tăng các dự án không có lãi", có thể gây xung đột lợi ích đối với các nhà quản lý điều hành.[189] Năm 2018, Japan Today báo cáo rằng còn quá sớm để coi quỹ Cool Japan là "không đủ năng lực hoặc tham nhũng", nhưng ít nhất tính đến hiện tại thì quỹ Cool Japan "hoạt động kém hiệu quả".[181] Năm 2018, Furuya Tsunehira của Newsweek chỉ trích những người thực hiện Cool Japan đã tạo ra một thực tế tệ như vậy do không hiểu gì về văn hóa Nhật Bản và hoàn toàn không hiểu nền kinh tế thị trường.[256]

Xem thêmSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ Yano, Christine R (19 tháng 8 năm 2009). “Wink on Pink: Interpreting Japanese Cute as It Grabs the Global Headlines” [Cái nháy mắt màu hồng: Phiên dịch dễ thương Nhật Bản như nắm lấy tiêu đề toàn cầu]. The Journal of Asian Studies (bằng tiếng Anh). tr. 681–688 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). doi:10.1017/S0021911809990015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  2. ^ Nagata, Kazuaki (15 tháng 5 năm 2012). “Exporting culture via 'Cool Japan'” [Xuất khẩu văn hóa thông qua 'Cool Japan']. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2012. 
  3. ^ Iwabuchi, Koichi (8 tháng 8 năm 2015). “Pop-culture diplomacy in Japan: soft power, nation branding and the question of 'international cultural exchange” [Chính sách văn hóa đại chúng tại Nhật Bản: Quyền lực mềm, thương hiệu quốc gia và câu hỏi về 'trao đổi văn hóa quốc tế']. International Journal of Cultural Policy (bằng tiếng Anh). tr. 419–432 |các trang= hay |at= dư (trợ giúp). ISSN 1028-6632. doi:10.1080/10286632.2015.1042469. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2015. 
  4. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p Matsui, Takeshi (1 tháng 10 năm 2014). “Nation Branding Through Stigmatized Popular Culture: The "Cool Japan" Craze Among Central Ministries In Japan” [Thương hiệu quốc gia qua văn hóa đại chúng bị kỳ thị: Cơn sốt Cool Japan giữa các bộ trung ương ở Nhật Bản] (PDF). Đại học Hitotsubashi. Vol. 48, no. 1 (Oct. 2014) (bằng tiếng Anh). doi:10.15057/26980. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2014. Tóm lược dễ hiểu (PDF). [...] But the collapse of its bubble economy at the beginning of the 1990s crushed Japanese self-confidence completely. In addition to the agony of the long recession, harsh competition with Korea in steel, automotive and electronics industries, the USʼs strong leadership in the IT revolution from the mid-1990s, and Chinaʼs rapid economic growth in the 21st century also enhanced the depressed atmosphere of the Lost Decade after the bitter defeat in economic war [...] 
  5. ^ McGray, Douglas (2001). “Japan’s Gross National Cool” [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản]. Đại học Toronto (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2010. Douglas McGray is a contributing writer of FOREIGN POLICY magazine. He spent the spring of 2001 in Japan as a media fellow of the Japan Society 
  6. ^ a ă McGray, Douglas (1 tháng 5 năm 2002). “Japan’s Gross National Cool” [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản]. Foreign Policy (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2005. 
  7. ^ a ă Otani, Shunsuke (2003). “我が国のパブリック・ディプロマシーの変遷と今後の課題” [Chuyển tiếp của ngoại giao công chúng tại Nhật Bản và các vấn đề tương lai] (PDF). National Diet Library Digital Collections (bằng tiếng Nhật). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2019. 
  8. ^ Allison, Anne (5 tháng 10 năm 2007). “J-brand: What image of youth is getting sold in Japan’s “gross national cool”?” [Thương hiệu Nhật Bản: Hình ảnh nào của giới trẻ đang được bán trong 'tổng thú vị quốc gia' của Nhật Bản] (PDF). Đại học California tại Berkeley (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2007. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  9. ^ Hiromi, Yamaguchi (26 tháng 10 năm 2008). “フランス人も憧れる「マンガ大国」、誇るべきはその奥行きの深さ” ['Sức mạnh manga' mà người Pháp ngưỡng mộ, chiều sâu mà bạn nên tự hào]. PRESIDENT Online (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  10. ^ Osamu, Inoue (16 tháng 7 năm 2014). “「クールジャパン」と言うべきか否か” [Có nên nói 'Cool Japan']. Nikkei Business Online (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2014. 
  11. ^ a ă Watson, Alex (28 tháng 11 năm 2016). “Is Japan Cool?” [Nhật Bản có thú vị không?]. Wall Street International Magazine (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2016. 
  12. ^ Bestor, Theodore C (6 tháng 2 năm 2006). “Japan’s Gross National Cool” [Tổng thú vị quốc gia của Nhật Bản] (PDF). Đại học Harvard (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2006. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  13. ^ Azuma, Hiroki (5 tháng 4 năm 2012). “コラム Vol.1 クール・ジャパンはクールではない 東 浩紀” [Cột Vol.1 Cool Japan không thú vị, Azuma Hiroki]. Japan Media Arts Plaza (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2012. 
  14. ^ a ă Smith, Noah (1 tháng 7 năm 2019). “Japan is cool but has no clue about selling itself” [Nhật Bản thú vị nhưng chưa có ý tưởng để bán hàng]. The Economic Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2019. [...] The lure of its large domestic market is too strong, causing many companies to look inward for safe, reliable revenues. But with the population shrinking and aging, and the rest of the world growing, that strategy makes less sense every day. Japanese companies must look outward [...] 
  15. ^ “クールジャパン政策について” [Về chính sách Cool Japan] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 3 tháng 8 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2016. 
  16. ^ a ă â b c “クール・ジャパンの海外展開支援 ― 株式会社海外需要開拓支援機構法案 ―” [Hỗ trợ phát triển ở nước ngoài của Cool Japan - Dự luật cơ chế hỗ trợ phát triển nhu cầu ở nước ngoài -] (PDF). Tham Nghị viện. 340号[平成25年5月10日], 平成25年発行分 [Số 340, ngày 10 tháng 5 năm 2013, Các vấn đề năm 2013] (bằng tiếng Nhật). 立法と調査 [Pháp luật và Điều tra]. 10 tháng 5 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  17. ^ a ă “「新成長戦略」について 平成22年6月18日 閣議決定” [Chiến lựoc tăng trưởng mới ~ Kịch bản của hồi sinh 'Nguyên khí Nhật Bản' (18 tháng 6 năm 2010)] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 4 năm 2019. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. Tóm lược dễ hiểu. 
  18. ^ “クールジャパン政策について” [Về chính sách Cool Japan] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 9 năm 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2016. 
  19. ^ a ă “第4節 我が国のサービス収支動向” [Mục 4 Xu hướng cán cân dịch vụ tại Nhật Bản]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2015. 
  20. ^ “旅行収支53年ぶり黒字 訪日客増を反映” [Thặng dư du lịch lần đầu tiên sau 53 năm phản ánh sự gia tăng của du khách đến Nhật Bản]. Mainichi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2012. 
  21. ^ Talbot, Margaret (15 tháng 12 năm 2002). “The Year in Ideas; Pokémon Hegemon” [Năm của ý tưởng: Bá quyền Pókemon]. The New York Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2002. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2002. 
  22. ^ “Japan counts on cool culture” [Nhật Bản quan tâm đến văn hóa thú vị]. BBC (bằng tiếng Anh). 13 tháng 12 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2004. 
  23. ^ Faiola, Anthony (27 tháng 12 năm 2003). “Japan's Empire of Cool” [Đế chế thú vị của Nhật Bản]. The Washington Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2003. 
  24. ^ Frederick, Jim (ngày 11 tháng 8 năm 2003). “What's Right with Japan” [Điều gì đúng đắn với Nhật Bản]. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. 
  25. ^ “Press Conference 27 September 2005” [Họp báo 27 tháng 9 năm 2005]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). 27 tháng 9 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2005. 
  26. ^ 'Cool Japan' Goes Global” ['Cool Japan' vươn ra toàn cầu] (PDF). Chính phủ Nhật Bản (bằng tiếng Anh). 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  27. ^ “Cool Japan Research Project” [Dự án nghiên cứu Cool Japan]. Viện Công nghệ Massachusetts (bằng tiếng Anh). 4 tháng 1 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  28. ^ Corbyn, Zoe (5 tháng 10 năm 2007). 'Cool Japan' suffers from cruel cuts” ['Cool Japan' khổ sở từ những vết cắt tàn nhẫn]. Times Higher Education (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  29. ^ Miller, Laura (2011). “Taking girls seriously in 'Cool Japan' ideology” [Những cô gái quyễn rũ thực sự trong ý thức hệ Cool Japan] (PDF). Đại học Quốc tế Florida. Volume XV (2011) (bằng tiếng Anh). Journal Archive, Japan Studies Review. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  30. ^ Otmazgin, Nissim (2013). “Regionalizing Culture: The Political Economy of Japanese Popular Culture in Asia” [Văn hóa khu vực hóa: Nền kinh tế chính trị của văn hóa đại chúng Nhật Bản tại châu Á] (bằng tiếng Anh). University of Hawaiʻi Press. tr. 72. ISBN 978-0-8248-3694-8. 
  31. ^ “我 が 国 の 文 化 政 策 平成26年度” [Chính sách văn hóa quốc gia 2014] (PDF). Cục Văn hóa (bằng tiếng Nhật). 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2019. 
  32. ^ Otmazgin, Nissim Kadosh (21 tháng 6 năm 2007). “Contesting soft power: Japanese popular culture in East and Southeast Asia” [Kiểm chứng quyền lực mềm: Văn hóa đại chúng Nhật Bản tại Đông Á và Đông Nam Á]. International Relations of the Asia-Pacific. Volume 8, Issue 1 (bằng tiếng Anh). tr. 73–101. doi:10.1093/irap/lcm009. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2007. 
  33. ^ Sugiura, Tsutomu (2008). “Japan’s Creative Industries: Culture as a Source of Soft Power in the Industrial Sector” [Công nghiệp sáng tạo của Nhật Bản: Văn hóa như một nguồn cội của quyền lực mềm trong khu vực công nghiệp]. Soft Power Superpowers: Cultural and National Assets of Japan and the United States [Siêu cường quốc quyền lực mềm: Văn hóa và tài sản quốc gia của Nhật Bản và Hoa Kỳ] (bằng tiếng Anh). M. E. Sharpe. tr. 128–153. ISBN 9780765622488. doi:10.1111/j.1943-0787.2009.01143.x. 
  34. ^ Sugiura, Tsutomu. “Japan’s Creative Industries: Culture as a Source of Soft Power in the Industrial Sector” [Công nghiệp sáng tạo của Nhật Bản: Văn hóa như một nguồn cội của quyền lực mềm trong khu vực công nghiệp]. Soft Power Superpowers: Cultural and National Assets of Japan and the United States [Siêu cường quốc quyền lực mềm: Văn hóa và tài sản quốc gia của Nhật Bản và Hoa Kỳ] (bằng tiếng Anh). M. E. Sharpe. tr. 140–201. ISBN 9780765622488. doi:10.1111/j.1943-0787.2009.01143.x. 
  35. ^ “海外の日本語教育の現状-2012年度 日本語教育機関調査より” [Điều kiện hiện tại của giáo dục tiếng Nhật ở nước ngoài: Báo cáo về các tổ chức giáo dục tiếng Nhật năm tài chính 2012]. Trung tâm Giao lưu Văn hóa Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). Kuroshio Shuppan. 2013. ISBN 978-4874246085. 
  36. ^ Otmazgin, Nissim (2013). “Regionalizing Culture: The Political Economy of Japanese Popular Culture in Asia” [Văn hóa khu vực hóa: Nền kinh tế chính trị của văn hóa đại chúng Nhật Bản tại châu Á] (bằng tiếng Anh). University of Hawaiʻi Press. tr. 120. ISBN 978-0-8248-3694-8. 
  37. ^ Garvizu, Nicolas (14 tháng 2 năm 2017). “Cool Japan: the relationships between the state and the cultural industries” [Cool Japan: Mối quan hệ giữa chính phủ và các ngành công nghiệp văn hóa]. White Rose University Consortium (bằng tiếng Anh). Đại học Sheffield. tr. 198. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. Tóm lược dễ hiểu. 
  38. ^ a ă â Choo, KuKhee (2012). “Nationalizing ‘Cool’: Japan’s Global Promotion of the Content Industry” [Quốc hữu hóa 'thú vị': Xúc tiến toàn cầu của Nhật Bản về công nghiệp nội dung]. Popular Culture and the State in East and Southeast Asia [Văn hóa đại chúng và chính phủ tại Đông Á và Đông Nam Á] (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 85–105. ISBN 978-1138017108. 
  39. ^ Jozuka, Emiko (29 tháng 7 năm 2019). “Japanese anime: From 'Disney of the East' to a global industry worth billions” [Anime Nhật Bản: Từ 'Disney phương Đông' đến một ngành công nghiệp toàn cầu trị giá hàng tỷ]. CNN (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2019. 
  40. ^ Nakano, Yoshiko (2002). “Who initiates a global flow? Japanese popular culture in Asia” [Ai khởi xướng một dòng chảy toàn cầu? Văn hóa đại chúng Nhật Bản tại châu Á]. Đại học Hồng Kông. Visual Communication, 2002, v. 1 n. 2, p. 229-253 (bằng tiếng Anh). tr. 243. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  41. ^ Mori, Yoshirō (21 tháng 9 năm 2000). “第百五十回国会における森内閣総理大臣所信表明演説” [Tuyên bố của thủ tướng nội các Mori tại phiên họp Quốc hội lần thứ 150]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2002. 
  42. ^ Mori, Yoshirō (21 tháng 9 năm 2000). “Policy Speech By Prime Minister Yoshiro Mori To The 150th Session Of The Diet” [Bài phát biểu chính sách của thủ tướng Mori Yoshirō đối với phiên họp Quốc hội lần thứ 150]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  43. ^ “平成12年度 教育白書: 平成12年度 我が国の文教施策” [Sách trắng năm tài chính 2000: Chính sách giáo dục của Nhật Bản năm 2000]. Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (bằng tiếng Nhật). 1 tháng 11 năm 2000. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2019. 
  44. ^ “経済産業省 「国は民間に口を挟まない」 デジタルコンテンツ分野で育成支援” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp: 'quốc gia không nói chuyện với khu vực tư nhân' hỗ trợ phát triển trong lĩnh vực nội dung số]. Tuần san BCN (bằng tiếng Nhật). 18 tháng 3 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2012. 
  45. ^ Garvizu, Nicolas (14 tháng 2 năm 2017). “Cool Japan: the relationships between the state and the cultural industries” [Cool Japan: Mối quan hệ giữa chính phủ và các ngành công nghiệp văn hóa]. White Rose University Consortium (bằng tiếng Anh). Đại học Sheffield. tr. 206. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. Tóm lược dễ hiểu. 
  46. ^ Koizumi, Junichirō (4 tháng 2 năm 2002). “Policy Speech by Prime Minister Junichiro Koizumi to the 154th Session of the Diet” [Bài phát biểu của thủ tướng Junichiro Koizumi đối với phiên họp Quốc hội lần thứ 154]. Bọ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2002. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2002. 
  47. ^ a ă “知的財産戦略本部” [Trụ sở chiến lược sở hữu trí tuệ]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 2 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  48. ^ a ă â b “知的財産戦略会議” [Hội nghị chiến lược sở hữu trí tuệ]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 20 tháng 3 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2019. 
  49. ^ “知的財産戦略大綱” [Đề cương chiến lược sở hữu trí tuệ] (PDF). Văn phòng Thủ tướng (bằng tiếng Nhật). 3 tháng 7 năm 2001. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2003. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2003. 
  50. ^ “The Content Overseas Distribution Association (CODA)” [Hiệp hội Phân phối hải ngoại nội dung (CODA)]. Hiệp hội Phân phối hải ngoại nội dung (CODA) (bằng tiếng Anh). 1 tháng 8 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2010. 
  51. ^ Katsumata, Hiro (2012). “Japanese popular culture in East Asia: a new insight into regional community building” [Văn hóa đại chúng Nhật Bản tại Đông Á: Một cái nhìn sâu sắc mới trong xây dựng cộng đồng khu vực]. International Relations of the Asia-Pacific. Volume 12, Issue 1 (bằng tiếng Anh). tr. 144. doi:10.1093/irap/lcr011. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  52. ^ Otmazgin, Nissim (2013). “Regionalizing Culture: The Political Economy of Japanese Popular Culture in Asia” [Văn hóa khu vực hóa: Nền kinh tế chính trị của văn hóa đại chúng Nhật Bản tại châu Á] (bằng tiếng Anh). University of Hawaiʻi Press. tr. 122. ISBN 978-0-8248-3694-8. 
  53. ^ “グローバル観光戦略” [Chiến lược du lịch toàn cầu] (PDF). Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch (bằng tiếng Nhật). 14 tháng 12 năm 2002. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2003. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2003. 
  54. ^ Koizumi, Junichirō (31 tháng 1 năm 2003). “General Policy Speech by Prime Minister Junichiro Koizumi to the 156th Session of the Diet” [Bài phát biểu chính sách chung của thủ tướng Koizumi Junichirō đối với phiên họp Quốc hội lần thứ 156] (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2003. 
  55. ^ Kukhee, Choo (2009). “The Making of ‘Cool Japan’: The Japanese Government’s Cultural and Economic Policies Toward the Anime Industry in the Global Age” [Sự hình thành 'Cool Japan': Các chính sách kinh tế và văn hóa của chính phủ Nhật Bản hướng tới công nghiệp anime trong thời đại toàn cầu] (PDF). Đại học Tōkyō (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  56. ^ “調査報告書 米国アニメ市場の実態と展望” [Báo cáo nghiên cứu: Điều kiện thực tế và triển vọng của thị trường anime tại Hoa Kỳ] (PDF). Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). 1 tháng 3 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2014. 
  57. ^ “経済産業省が第1回コンテンツ産業国際戦略研究会を開催” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp tổ chức hội thảo nghiên cứu chiến lược quốc tế công nghiệp nội dung lần đầu tiên]. Famitsu (bằng tiếng Nhật). 24 tháng 4 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2018. 
  58. ^ “知的財産の創造、保護及び活用に関する推進計画” [Kế hoạch xúc tiến sáng tạo, bảo vệ và sử dụng sở hữu trí tuệ]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 7 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2003. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2003. 
  59. ^ “「知的財産の創造、保護及び活用に関する推進計画」の 重要政策課題に関する専門調査会の設置について” [Về việc thành lập cuộc họp nghiên cứu chuyên ngành các vấn đề chính sách quan trọng của "kế hoạch xúc tiến về sáng tạo, bảo vệ và sử dụng tài sản trí tuệ"]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 7 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2003. 
  60. ^ “コンテンツ産業国際戦略研究会中間とりまとめ” [Báo cáo tạm thời về cuộc họp nghiên cứu chiến lược quốc tế ngành công nghiệp nội dung] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 5 năm 2003. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 5 năm 2005. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2005. 
  61. ^ a ă “コンテンツ産業の現状と課題 コンテンツ産業の現状と課題 ~コンテンツ産業の国際競争力強化に向けて~” [Công nghiệp nội dung, tình hình hiện tại và các vấn đề: Hướng tới tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế của công nghiệp nội dung] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 2 năm 2005. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2005. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2005. 
  62. ^ Koizumi, Junichirō (19 tháng 1 năm 2004). “General Policy Speech by Prime Minister Junichiro Koizumi to the 159th Session of the Diet” [Bài phát biểu chính sách chung của thủ tướng Koizumi Junichirō tại phiên họp Quốc hội lần thứ 159]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2004. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2004. 
  63. ^ a ă “コンテンツビジネス振興政策(案)― ソフトパワー” [Chính sách xúc tiến kinh doanh nội dung (dự thảo) - Chiến lược quốc gia trong kỷ nguyên quyền lực mềm -] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 4 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2004. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2004. 
  64. ^ “知的財産推進計画2004” [Kế hoạch xúc tiến sở hữu trí tuệ 2004] (PDF). Văn phòng Thủ tướng (bằng tiếng Nhật). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  65. ^ Garvizu, Nicolas (14 tháng 2 năm 2017). “Cool Japan: the relationships between the state and the cultural industries” [Cool Japan: Mối quan hệ giữa chính phủ và các ngành công nghiệp văn hóa]. White Rose University Consortium (bằng tiếng Anh). Đại học Sheffield. tr. 65. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. Tóm lược dễ hiểu. 
  66. ^ a ă “Japan Animation Industry Trends” [Xu hướng ngành công nghiệp hoạt hình Nhật Bản] (PDF). Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (bằng tiếng Anh). Tháng 7 năm 2005. tr. 7. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 15 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2014. Tóm lược dễ hiểu (PDF). International sales data is not exact, but around 60% of the anime shown worldwide is made in Japan, according to a METI report issued in January 2004. 
  67. ^ “日本のアニメを活用した国際観光交流等の拡大による地域活性化調査” [Nghiên cứu tái tạo lại sức sống vùng bằng mở rộng trao đổi du lịch quốc tế thông qua sử dụng anime Nhật Bản] (PDF). Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 2 năm 2006. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2006. 
  68. ^ Asō, Tarō (28 tháng 4 năm 2006). “文化外交の新発想―みなさんの力を求めています” [Ý tưởng mới về ngoại giao văn hóa - Tìm kiếm sức mạnh của bạn]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 4 năm 2006. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2006. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  69. ^ “Tourism Nation Promotion Basic Law” [Luật cơ bản xúc tiến quốc gia du lịch]. Bộ Đất đai, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch (bằng tiếng Anh). 1 tháng 1 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010. 
  70. ^ “Asian Gateway Initiative” [Sáng kiến cửa ngõ châu Á] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Anh). 16 tháng 5 năm 2007. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2007. 
  71. ^ “~文化産業を育む感性豊かな土壌の充実と戦略的な発信~” [Sự phong phú và thông điệp chiến lược của một vùng đất giàu có để nuôi dưỡng các ngành công nghiệp văn hóa] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 5 năm 2007. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2007. 
  72. ^ “知的財産推進計画2007” [Kế hoạch xúc tiến sở hữu trí tuệ 2007]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 5 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2007. 
  73. ^ “Contents Global Strategy Final Report” [Báo cuối cuối cùng chiến lược toàn cầu nội dung] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 19 tháng 12 năm 2007. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2010. 
  74. ^ Garvizu, Nicolas (14 tháng 2 năm 2017). “Cool Japan: the relationships between the state and the cultural industries” [Cool Japan: Mối quan hệ giữa chính phủ và các ngành công nghiệp văn hóa]. White Rose University Consortium (bằng tiếng Anh). Đại học Sheffield. tr. 207. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2018. Tóm lược dễ hiểu. 
  75. ^ “Inauguration Ceremony of Anime Ambassador” [Nghi thức lễ nhậm chức đại sứ anime]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). 19 tháng 3 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2008. 
  76. ^ “アニメ文化大使” [Đại sứ văn hóa anime]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Nhật). 20 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008. 
  77. ^ Reynolds, Isabel (12 tháng 3 năm 2009). “Japan picks "schoolgirl" among cute ambassadors” [Nhật Bản chọn 'nữ sinh' trong số những đại sứ dễ thương]. Reuters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2009. 
  78. ^ “Press Conference, 12 March 2009” [Họp báo 12 tháng 3 năm 2009]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). 12 tháng 3 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2009. 
  79. ^ Asō, Tarō (9 tháng 4 năm 2009). “Japan's Future Development Strategy and Growth Initiative towards Doubling the Size of Asia's Economy” [Chiến lược phát triển tương lai của Nhật Bản và sáng kiến tăng trưởng hướng đến gấp đôi quy mô của kinh tế châu Á]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2009. 
  80. ^ “「新成長戦略(基本方針)」について” [Về chiến lược tăng trưởng mới (chính sách cơ bản)] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 12 năm 2009. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2010. 
  81. ^ “Japan becomes a place of "Endless Discovery"” [Nhật Bản trở thành một điểm đến của 'khám phá vô tận']. The Independent (bằng tiếng Anh). 11 tháng 4 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2010. 
  82. ^ a ă â b c ““Cool Japan” as the Next Future of Post-industrial Japan?” [Liệu 'Cool Japan' có phải là tương lai tiếp theo của Nhật Bản thời hậu công nghiệp?] (PDF). Đại học Quốc gia Singapore (bằng tiếng Anh). Lee Kuan Yew School of Public Policy. 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2019. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  83. ^ “産業構造ビジョン2010” [Tầm nhìn cơ cấu công nghiệp 2010]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 3 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2010. 
  84. ^ “第4章 外との繋がりによる日本経済の新たな成長に向けて 第2節 ニーズの変化に対応した海外事業活動支援 2.我が国の魅力を活かしたクール・ジャパン戦略” [Chương 4: Hướng tới sự tăng trưởng mới của nền kinh tế Nhật Bản bằng cách kết nối với thế giới bên ngoài]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp. 通商白書2012 [Sách trắng thương mại 2012] (bằng tiếng Nhật). 5 tháng 10 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. Tóm lược dễ hiểu. 
  85. ^ “クール・ジャパン 官民有識者会議” [Hội nghị chuyên gia công-tư Cool Japan]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). ものづくり/情報/流通・サービス [Sản xuất / Thông tin / Phân phối / Dịch vụ]. 19 tháng 11 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2010. 
  86. ^ “クールジャパン推進に関するアクションプラン” [Kế hoạch hành động xúc tiến Cool Japan] (PDF). Văn phòng Thủ tướng (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 3 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2011. 
  87. ^ “クールジャパン官民有識者会議 提言について” [Về đề xuất hội nghị chuyên gia công-tư Cool Japan]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 12 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2011. 
  88. ^ a ă “クール・ジャパン戦略推進事業第一弾 フランスを拠点とする海外販路開拓支援事業を実施” [Dự án Xúc tiến chiến lược Cool Japan lần thứ nhất - Triển khai hỗ trợ phát triển kênh bán hàng ở nước ngoài dựa vào nguồn vốn Pháp] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 6 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2011. 
  89. ^ “経産省にクリエイティブ産業課 クールジャパン戦略に対応” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp hưởng ứng chiến lược Cool Japan]. Anime! Anime! Biz (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 7 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2011. 
  90. ^ “クールジャパンロゴは佐藤可士和デザイン、野田首相が決定” [Biểu trưng Cool Japan được Kazumi Sato thiết kế, thủ tướng Noda]. Fashionsnap.com (bằng tiếng Nhật). 13 tháng 9 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2011. 
  91. ^ “「Japan. Cool Japan.」ロゴマークの使用について” [Về cách sử dụng biểu trưng 「Japan. Cool Japan.」]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). クールジャパン・ロゴマークの使用 [Sử dụng biểu trưng Cool Japan]. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2019. 
  92. ^ a ă “Cool Japan Initiative” [Sáng kiến Cool Japan] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 11 tháng 12 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014. 
  93. ^ “To Showcase Japan’s Recovery from 3/11 through Unique Japanese Culture” [Chương trình giới thiệu sự hồi phục của Nhật Bản từ ngày 11 tháng 3 thông qua văn hóa Nhật Bản độc đáo]. Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Lan (bằng tiếng Anh). 1 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2012. 
  94. ^ “日米桜寄贈100周年” [Kỷ niệm 100 năm tặng hoa anh đào Nhật Bản]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Nhật). Tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2011. 
  95. ^ “学友会Jazz Orchestraが「全米桜祭り」に参加” [Dàn nhạc Jazz của hội cựu sinh viên tham gia "lễ hội hoa anh đào Hoa Kỳ"]. Đại học Tohoku (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2012. 
  96. ^ “MISIA、米ワシントン「桜祭り」に出演 震災支援への感謝の意と歌声を届ける” [MISIA xuất hiện "lễ hội hoa anh đào" ở Washington gửi lời cảm ơn và cất tiếng hát vì sự hỗ trợ tái thiết thảm họa động đất]. Ameba (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 3 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012. 
  97. ^ “日米桜寄贈100周年事業イベント・カレンダー(ワシントンDC主要行事)” [Lịch sự kiện trăm năm tặng hoa anh đào Nhật Bản - Hoa Kỳ (các sự kiện chính tại Washington DC)] (PDF). Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Nhật). 主要行事一覧, ワシントンDCでの主要行事 [Danh sách sự kiện chính, các sự kiện chính tại Washington DC]. 8 tháng 1 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2013. Tóm lược dễ hiểu. 
  98. ^ “Cool Japan Strategy (Modified version of the Interim Report submitted to the Cool Japan Advisory Council)” [Chiến lược Cool Japan (Phiên bản sửa đổi của báo cáo tạm thời được đệ trình lên Hội đồng tư vấn Cool Japan)] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 1 tháng 9 năm 2012. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2012. 
  99. ^ Abe, Shinzō (22 tháng 2 năm 2013). “Japan is Back” [Nhật Bản trở lại]. Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2013. 
  100. ^ “クールジャパン推進会議(第1回)議事次第” [Hội đồng xúc tiến Cool Japan (lần đầu), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2013. 
  101. ^ “クールジャパン推進会議(第2回)議事次第” [Hội đồng xúc tiến Cool Japan (lần 2), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 3 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  102. ^ “クールジャパン推進会議(第3回)議事次第” [Hội đồng xúc tiến Cool Japan (lần ba), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2013. 
  103. ^ “クールジャパン推進会議(第4回)議事次第” [Hội đồng xúc tiến Cool Japan (lần bốn), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 5 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2013. 
  104. ^ “ポップカルチャーに関する分科会(第1回)議事次第” [Tiểu ban về văn hóa đại chúng (lần 1), thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 9 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2013. 
  105. ^ “ポップカルチャーに関する分科会(第2回)議事次第” [Tiểu ban về văn hóa đại chúng (lần 2), thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 4 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2013. 
  106. ^ Kelts, Roland (1 tháng 7 năm 2013). “Japan Spends Millions in Order to Be Cool” [Nhật Bản chi hàng triệu đô la để thành cool]. Time (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2013. 
  107. ^ “フランスに“今の日本”売込み、マグロの解体ショーに絶賛相次ぐ。” [Bán 'Nhật Bản bây giờ' tới Pháp, hoan nghênh mạnh mẽ chương trình tháo gỡ cá ngừ.]. Narinari.com (bằng tiếng Nhật). 24 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2019. 
  108. ^ “クールジャパン戦略の取組について” [Về cách tiếp cận chiến lược Cool Japan] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 4 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2014. 
  109. ^ “Roots of Japan — Unearthing the Cultural Matrix of Japan” [Nguồn cội Nhật Bản - Khai quật Ma trận văn hóa của Nhật Bản] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 13 tháng 10 năm 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2013. 
  110. ^ a ă Hirotaka, Watanabe (14 tháng 11 năm 2016). “Shouldn’t Cool Japan Be Changed?” [Liệu Cool Japan không nên bị thay đổi?]. Bộ Ngoại giao. No.35, Diplomacy (bằng tiếng Anh). Japan Foreign Policy Forum [Diễn đàn chính sách ngoại giao Nhật Bản]. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2016. 
  111. ^ Lies, Elaine (18 tháng 10 năm 2013). 'Cool Japan' struts the runways at Fashion Week in Tokyo” ['Cool Japan' sải bước trên sàn diễn thời trang tại Tuần lễ thời trang ở Tokyo]. Reuters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2013. 
  112. ^ “「和食」がユネスコ無形文化遺産に登録されました!” ['ẩm thực Nhật Bản' đã được đăng ký là một di sản văn hóa phi vật thể UNESCO]. Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản (bằng tiếng Nhật). 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2019. 
  113. ^ “電通、クール・ジャパン戦略で中小企業の海外進出支援” [Dentsu hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng ra nước ngoài thông qua chiến lược Cool Japan]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 24 tháng 11 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  114. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第1回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần đầu), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 14 tháng 12 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2013. 
  115. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第2回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ hai), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 22 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2014. 
  116. ^ a ă â b Kelts, Roland (28 tháng 11 năm 2014). “Cool Japan sets its sights on Southeast Asia” [Cool Japan thiết lập tầm nhìn đến Đông Nam Á]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 11 năm 2014. 
  117. ^ “CJムーブメント推進会議(第1回)議事次第” [Hội nghị xúc tiến phong trào Cool Japan (lần 1), thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 4 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2014. 
  118. ^ “CJムーブメント推進会議~クールジャパンをデザインする~(通称:第2期クールジャパン推進会議)の開催について” [Hội nghị xúc tiến phong trào Cool Japan - Thiết kế Cool Japan (Hội nghị xúc tiến Cool Japan lần 2)]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 8 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014. 
  119. ^ “CJムーブメント推進会議(第3回)議事次第” [Hội nghị xúc tiến phong trào Cool Japan (lần 3), thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014. 
  120. ^ “CJムーブメント推進会議(第4回)議事次第” [Hội nghị xúc tiến phong trào Cool Japan (lần 4), thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2014. 
  121. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第3回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ ba), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 7 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2014. 
  122. ^ “METI to Start the First Cross-Industry Anti-Piracy Measures for Manga and Anime” [METI bắt đầu các biện pháp đầu tiên chống vi phạm bản quyền trong công nghiệp giao thoa anime và manga]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 28 tháng 7 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2014. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  123. ^ “Cool Japan Proposal” [Đề xuất Cool Japan] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Anh). 26 tháng 8 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  124. ^ a ă “CJムーブメント推進会議(第5回)議事次第” [Hội nghị xúc tiến phong trào Cool Japan (lần 5), thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 6 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2014. 
  125. ^ Inada, Tomomi (26 tháng 8 năm 2014). “Declaration of Cool Japan’s Mission” [Tuyên bố sứ mệnh của Cool Japan] (PDF). Văn phòng Nội các (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2014. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  126. ^ “日本政府観光局(JNTO)とクールジャパン機構との業務連携について” [Cộng tác thương mại giữa Cơ quan Xúc tiến Du lịch Nhật Bản (JNTO) và quỹ Cool Japan] (PDF). Cơ quan Xúc tiến Du lịch Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). 5 tháng 9 năm 2014. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  127. ^ “METI to Start the Second Project for Promoting Cross-Industry Anti-Piracy Measures for Manga and Anime” [METI bắt đầu Dự án thứ hai để thúc đẩy các biện pháp chống vi phạm bản quyền trong công nghiệp giao thoa Manga và Anime]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 16 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2014. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  128. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第4回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ bốn), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. 
  129. ^ “クールジャパン戦略推進会議(第1回) 議事次第(案)” [Hội nghị xúc tiến chiến lược Cool Japan (lần 1), thứ tự nghị sự (bản thảo)]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2015. 
  130. ^ “クールジャパン戦略推進会議(第2回) 議事次第(案)” [Hội nghị xúc tiến chiến lược Cool Japan (lần 2), thứ tự nghị sự (bản thảo)]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 25 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2015. 
  131. ^ “クールジャパン戦略推進会議(第3回) 議事次第(案)” [Hội nghị xúc tiến chiến lược Cool Japan (lần 3), thứ tự nghị sự (bản thảo)]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2015. 
  132. ^ “クールジャパン戦略推進会議(第4回) 議事次第” [Hội nghị xúc tiến chiến lược Cool Japan (lần 4), thứ tự nghị sự (bản thảo)]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 22 tháng 4 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  133. ^ “クールジャパン戦略推進会議(第5回) 議事次第” [Hội nghị xúc tiến chiến lược Cool Japan (lần 5), thứ tự nghị sự (bản thảo)]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  134. ^ “クールジャパン戦略推進会議(第6回) 議事次第” [Hội nghị xúc tiến chiến lược Cool Japan (lần 6), thứ tự nghị sự (bản thảo)]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2015. 
  135. ^ “メディア芸術データベース” [Cơ sở dữ liệu nghệ thuật truyền thông]. Cục Văn hóa (bằng tiếng Nhật). 17 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2019. 
  136. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第5回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ năm), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2015. 
  137. ^ Nagata, Kazuaki (5 tháng 6 năm 2015). 'Cool Japan' complex envisioned in Saitama” [Khu phức hợp 'Cool Japan' được hình dung tại Satama]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2015. 
  138. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第6回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ sáu), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 20 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2015. 
  139. ^ “「クールジャパン資源を観光に活用した地域経済活性化研究会」の報告書を取りまとめました” [Chúng tôi biên soạn báo cáo về 'nhóm nghiên cứu phục hồi kinh tế khu vực sử dụng tài nguyên Cool Japan dành cho du lịch']. Cục Du lịch Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). 30 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2015. 
  140. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第7回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ bảy), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 29 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2015. 
  141. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第8回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ tám), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 11 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2015. 
  142. ^ “文化庁におけるロケ撮影の促進への取組みについて” [Về cách tiếp cận để quảng bá nhiếp ảnh địa điểm trong Cục Văn hóa] (PDF). Cục Văn hóa (bằng tiếng Nhật). 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 30 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2019. 
  143. ^ Washida, Meruro (15 tháng 2 năm 2019). “How to Grow Japan’s Feeble Art Market” [Làm thế nào để phát triển thị trường nghệ thuật yếu ớt của Nhật Bản]. Nippon.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2019. 
  144. ^ “大分県クールジャパン推進イニシアティブの策定について” [Về sự phát triển của sáng kiến xúc tiến Cool Japan Ōita]. Ōita (bằng tiếng Nhật). 15 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2016. 
  145. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第9回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ chín), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 13 tháng 11 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2016. 
  146. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第10回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ mười), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 3 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017. 
  147. ^ “Efforts to Promote Understanding of and Trust in Japan” [Nỗ lực thúc đẩy sự hiểu biết và tin tưởng Nhật Bản] (PDF). Bộ Ngoại giao (bằng tiếng Anh). 2016. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 26 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2019. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  148. ^ Stanislaus, Warren A (22 tháng 7 năm 2017). “Japan House: Tokyo’s New Public Diplomacy Push” [Japan House: Đẩy mạnh ngoại giao công chúng mới của Nhật Bản]. The Diplomat (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2017. 
  149. ^ “クールジャパン推進会議in和歌山について” [Về hội nghị xúc tiến Cool Japan tại Wakayama]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 15 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017. 
  150. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第11回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ 11), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 15 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2017. 
  151. ^ “大阪クールジャパンセミナー 議事次第” [Hội thảo Cool Japan vùng Osaka, thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2017. 
  152. ^ “播磨圏域クールジャパンセミナー 議事次第” [Hội thảo Cool Japan vùng Harima, thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 21 tháng 8 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017. 
  153. ^ “Cool Japan: Creation, Production, and Fabrication of the Cool” [Cool Japan: Sáng tạo, sản xuất và chế tạo của thú vị]. Trung tâm nghiên cứu văn hóa vật thế tại Leiden, Hà Lan (bằng tiếng Anh). 4 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2017. 
  154. ^ “平成29年度「JAPANブランド等プロデュース支援事業」の採択結果を公表しました(2017年9月14日)” [Chúng tôi đã công bố kết quả áp dụng năm 2017 'dự án hỗ trợ sản xuất JAPAN brand' (14 tháng 9 năm 2017)]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 14 tháng 9 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2017. 
  155. ^ “コスプレ・アニメ パネルディスカッション「コスプレ・アニメによる魅力向上に向けて名古屋が進むべき道」 議事次第” [Cosplay - Thảo luận bảng vẽ anime 'Cách Nagoya nên hướng tới sự quyến rũ với cosplay - anime', thứ tự nghị sự]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 10 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2017. 
  156. ^ “「クールジャパン推進会議 in 神戸」を開催します” [Chúng tôi tổ chức 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' tại Kobe]. Kobe (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2017. 
  157. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第12回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ 12), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2017. 
  158. ^ “平成30年度クールジャパン戦略推進特命委員会提言” [Đề xuất hội đồng đặc biệt phụ trách xúc tiến chiến lược Cool Japan năm 2018] (PDF). Đảng Dân chủ Tự do (bằng tiếng Nhật). 31 tháng 5 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  159. ^ “「クールジャパン推進会議 in 福岡」を開催します!” [Chúng tôi sẽ tổ chức 'hội nghị xúc tiến Cool Japan tại Fukuoka']. Fukuoka (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2018. 
  160. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第13回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ 13), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 10 tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2018. 
  161. ^ “‘Cool Japan’ graces runway at METI fashion show #AsiaNewsNetwork” ['Cool Japan' trọng đãi sàn diễn thời trang tại chương trình thời trang METI #AsiaNewsNetwork]. Eleven Media Group (bằng tiếng Anh). 24 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2019. 
  162. ^ “クールジャパン戦略見直しへ 政府、省庁間連携を強化” [Chính phủ tăng cường hợp tác giữa các bộ để đánh giá chiến lược Cool Japan]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2019. 
  163. ^ “自民がクールジャパンで提言” [LDP gợi ý tại Cool Japan]. Reuters (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2019. 
  164. ^ “クールジャパン戦略見直し 平井科学技術相 知財本部にワーキンググループ” [Bộ trưởng đặc trách Khoa học và Công nghệ Hirai đánh giá lại chiến lược Cool Japan tại trụ sở chiến lược sở hữu trí tuệ]. Sankei Shimbun (bằng tiếng Nhật). 4 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2019. 
  165. ^ “新潟県の小千谷市民会館で「クールジャパン推進会議in新潟」が開催される②” ['Họi nghị Xúc tiến Cool Japan tại Niigata' sẽ được tổ chức tại Trung tâm hành chính Ojiya thuộc tỉnh Niigata lần 2]. Niigata Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 15 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019. 
  166. ^ “地方版クールジャパン推進会議(第14回)議事次第” [Phiên bản địa phương 'hội nghị xúc tiến Cool Japan' (lần thứ 14), biên bản lưu ngay]. Văn phòng Nội các (bằng tiếng Nhật). 15 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019. 
  167. ^ “羽田空港国際線出国エリアで初、クールジャパン商材のプロモーション&デジタルマーケティング プロジェクトの参加者募集を開始” [Bắt đầu tuyển dụng ứng viên tham gia cho dự án tiếp thị số và quảng bá sản phẩm Cool Japan lần đầu tiên tại khu khởi hành bay ở sân bay quốc tế Haneda]. Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). 20 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019. 
  168. ^ “経済産業省補助事業  クールジャパンプロデュース支援事業の採択事業者5プロジェクトが決定!” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp quyết định thông qua trợ cấp 5 dự án của dự án hỗ trợ sản xuất Cool Japan]. PR TIMES (bằng tiếng Nhật). 19 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2019. 
  169. ^ “クールジャパンプロデュース支援事業の採択プロジェクトが決定しました” [Thông qua dự án hỗ trợ sản xuất Cool Japan đã được quyết định]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 19 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2019. 
  170. ^ “吉本興業HDの大崎会長、政府のクールジャパン会議欠席” [Chủ tịch của Yoshimoto Kogyo HD là Osaki bỏ lỡ hội nghị Cool Japan]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2019. 
  171. ^ “クールジャパン戦略見直し素案判明 民間主導へ転換加速” [Sửa đổi đánh giá chiến lược Cool Japan, chuyển đổi nhanh sang sáng kiến khu vực tư nhân]. Sankei Shimbun (bằng tiếng Nhật). 26 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2019. 
  172. ^ a ă “クールジャパン発信強化へ 民間主導へ転換の新戦略” [Chiến lược mới để chuyển đổi sang sáng kiến khu vực tư nhân nhằm tăng cường thông điệp Cool Japan]. NHK (bằng tiếng Nhật). 27 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2019. 
  173. ^ “政府、新クールジャパン戦略を正式決定” [Chính phủ chính thức quyết định chiến lược Cool Japan mới]. Sankei Shimbun (bằng tiếng Nhật). 3 tháng 9 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 9 năm 2019. 
  174. ^ “クールジャパンアンバサダーに「涼宮ハルヒの憂鬱」声優の平野綾さん任命” [Diễn viên lồng tiếng phim 'Suzumiya Haruhi' là Aya Hirano được bổ nhiệm làm đại sứ Cool Japan]. Sankei Shimbun (bằng tiếng Nhật). 9 tháng 9 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2019. 
  175. ^ “クールジャパン海外需要開拓プログラムTakumi Next” [Chương trình phát triển nhu cầu hải ngoại Cool Japan 'Takumi Next']. Tổ chức Xúc tiến Mậu dịch Nhật Bản (bằng tiếng Nhật). 12 tháng 9 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2019. 
  176. ^ Amano, Tomomichi (14 tháng 6 năm 2010). “How to Promote ‘Cool Japan’?” [Cách thúc đẩy 'Cool Japan']. The Wall Street Journal (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  177. ^ “Establishment of the Creative Industries Promotion Office” [Thành lập Văn phòng Xúc tiến Công nghiệp Sáng tạo]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 8 tháng 6 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  178. ^ “クールジャパン/クリエイティブ産業” [Cool Japan / Công nghiệp sáng tạo]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2013. 
  179. ^ a ă “Promoting 'Cool Japan'” [Quảng bá 'Cool Japan']. The Japan Times (bằng tiếng Anh). 15 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  180. ^ a ă Mackay, Mairi (19 tháng 11 năm 2010). “Can Japan profit from its national "cool"?” [Liệu Nhật Bản có thể thu lợi từ 'cool' quốc gia?]. CNN (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  181. ^ a ă â b c d đ “After four years Cool Japan is Y4.4 bil in the hole and continuing to show few results” [Sau bốn năm, Cool Japan bị lỗ 4,4 tỷ yên và tiếp tục cho thấy một vài kết quả]. Japan Today (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2018. 
  182. ^ Kelts, Roland (9 tháng 7 năm 2013). “Can METI's ¥50 billion fund unfreeze 'Cool Japan'?”. The Japan Times. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2018. 
  183. ^ Nagata, Kazuaki (29 tháng 12 năm 2013). “Cool Japan Fund chief says crafty marketing key to regional revivals” [Chú tịch quỹ Cool Japan nói về chìa khóa tiếp thị khéo léo cho sự phục hưng các vùng địa phương]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013. 
  184. ^ a ă Makino, Yoshiji (23 tháng 2 năm 2018). “本格始動した「クールジャパン」は大丈夫? アジアで見聞の「クールコリア」はしたたか” [Cool Japan đã có khởi đầu nghiêm túc? Bạn có thấy Cool Korea tại châu Á không?]. Kenja no Sentaku 賢者の選択 [Lựa chọn của hiền giả] (bằng tiếng Nhật). 時代刺激人 Vol. 232 [Người kích thích thời đại tập 232]. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2018. 
  185. ^ “株式会社海外需要開拓支援機構(クールジャパン機構) 企業インタビュー” [Tổng công ty cơ chế hỗ trợ khai thác nhu cầu hải ngoại (cơ chế Cool Japan)]. Kotora (bằng tiếng Nhật). 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2019. 
  186. ^ a ă â b c d Satoshi, Itō (20 tháng 7 năm 2018). “Floundering Cool Japan Projects See Loss After Loss” [Các dự án Cool Japan loạng choạng nhận thấy thua lỗ sau thất bại]. Nippon.com (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  187. ^ a ă â b Ito, Sei (14 tháng 7 năm 2018). “迷走「クールジャパン」 相次ぐプロジェクト失敗でムダ金に” [Cool Japan đi lạc trong một loạt dự án thất bại tiêu tốn tiền bạc]. Fuji News Network (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2018. 
  188. ^ a ă Nitta, Yuji (24 tháng 10 năm 2018). “Cool Japan Fund invests $12.5m in Tastemade food video service” [Quỹ Cool Japan đầu tư 12,5 triệu US$ vào dịch vụ video ẩm thực Tastemade]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2018. 
  189. ^ a ă â b c Saito, Yuta (6 tháng 11 năm 2017). “Cool Japan Fund's big ambitions mostly fall flat” [Các tham vọng lớn của Cool Japan Fund hầu hết đều thất bại]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2017. 
  190. ^ Ressler, Karen (20 tháng 4 năm 2018). “Cool Japan Fund Appoints Sony Music Entertainment's Naoki Kitagawa as New CEO” [Quỹ Cool Japan bổ nhiệm Naoki Kitagawa của Sony Music Entertainment làm Giám đốc điều hành mới]. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2018. 
  191. ^ “クールジャパン機構、多様なコンテンツで日本の魅力発信!” [Quỹ Cool Japan mang đến sự hấp dẫn của Nhật Bản với nhiều nội dung khác nhau!]. ITmedia (bằng tiếng Nhật). 14 tháng 3 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2019. 
  192. ^ Abudheen K, Sainul (16 tháng 7 năm 2019). “Japan’s startup ecosystem has yet to fully mature, says Cool Japan Fund's Shinnosuke Watanabe” [Hệ sinh thái khởi nghiệp của Nhật Bản vẫn chưa hoàn toàn trưởng thành, theo lời Watanabe Shinnosuke của quỹ Cool Japan]. e27 (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2019. 
  193. ^ “Traditional Japanese Crafts will be Showcased to the World as a Result of the Cool Japan Initiative” [Thủ công truyền thống Nhật Bản sẽ giới thiệu với thế giới như một kết quả của sáng kiến Cool Japan]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 21 tháng 8 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018. 
  194. ^ “​Nhật xây kho lạnh 15 triệu USD tại Việt Nam”. Tuổi trẻ. 16 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2014. 
  195. ^ a ă â “Cool Japan Fund to pump 60 billion yen into four projects” [Quỹ Cool Japan bơm 60 tỷ yên vào bốn dự án]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). 25 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2014. 
  196. ^ Kelts, Roland (18 tháng 4 năm 2015). “At last, Japan gets it” [Cuối cùng, Nhật Bản có được nó]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2015. 
  197. ^ “METI to Start NIPPON QUEST” [Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp khởi động NIPPON QUEST]. Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Anh). 11 tháng 8 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2018. 
  198. ^ a ă Fujita, Junko (6 tháng 4 năm 2015). “Cool Japan Fund to invest in green tea cafes in U.S.” [Quỹ Cool Japan đầu tư vốn mạo hiểm vào các quán cà phê trà xanh Hoa Kỳ]. Reuters (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2015. 
  199. ^ Antonio Pineda, Rafael (31 tháng 3 năm 2015). “Cool Japan Fund Invests In Kadokawa's Content Creator Development Projects” [Quỹ Cool Japan đầu tư vào các dự án phát triển tác giả nội dung của Kodokawa]. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 31 tháng 3 năm 2015. 
  200. ^ Tsutsui, Jiro (13 tháng 12 năm 2018). “Japanese flip-flops get a makeover, head to New York” [Dép tông Nhật Bản được một biến đổi, hướng đến New York]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2018. 
  201. ^ “Imagica, Cool Japan Fund in venture to buy translation company SDI Media” [Imagica, quỹ Cool Japan đầu tư vốn mạo hiểm mua công ty dịch thuật SDI Media]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). 19 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2015. 
  202. ^ a ă Motoharu, Kano (23 tháng 4 năm 2018). “「クールジャパン」はこんなにひどいことになっていた” ["Cool Japan" được cho là rất tệ hại]. Gendai Ismedia (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2018. 
  203. ^ “Cool Japan Fund drops Malaysia store” [Quỹ Cool Japan từ bỏ cửa hàng Malaysia]. News on Japan (bằng tiếng Anh). 12 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2018. 
  204. ^ Nyoman Wira, Ni (19 tháng 7 năm 2016). “Japanese pop-culture management firm set to further expand artist base” [Công ty quản lý văn hóa đại chúng Nhật Bản thành lập để mở rộng hơn nữa số lượng nghệ sĩ]. The Jakarta Post (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2016. 
  205. ^ a ă “クールジャパン機構立て直しなるか。吉本興業と組みミャンマーに「住みます芸人」” [Quỹ Cool Japan sẽ tái cơ cấu? Nghệ sĩ biểu diễn sống ở Myanmar hợp tác với Yoshimoto Kogyo]. Business Insider (bằng tiếng Nhật). 18 tháng 10 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2018. 
  206. ^ “Cool Japan Fund to build theaters in Osaka” [Quỹ Cool Japan xây dựng các nhà hát tại Osaka]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). 13 tháng 4 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018. 
  207. ^ “アジア広域でのライブホール展開事業に出資 ―日本の音楽産業の海外市場開拓を支援-” [Vốn mạo hiểm trong kinh doanh và phát triển các địa điểm biểu diễn trực tiếp âm nhạc tại châu Á ― Hỗ trợ mở rộng thị trường nước ngoài của ngành công nghiệp âm nhạc Nhật Bản―] (PDF). Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (bằng tiếng Nhật). 28 tháng 4 năm 2017. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2017. 
  208. ^ “ASEAN における中小外食企業の出店支援事業へ出資 ―海外出店に必要なサービスをワンストップで提供―” [Đầu tư vào dự án hỗ trợ mở cửa kinh doanh nhà hàng vừa và nhỏ tại ASEAN - Cung cấp các dịch vụ cần thiết để mở cửa hàng một điểm đến mới -] (PDF). Quỹ Cool Japan (bằng tiếng Nhật). 20 tháng 12 năm 2017. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017. 
  209. ^ “ロンドンにおける日本食文化の魅力を発信する飲食・小売事業へ出資 ―賑わいのある日本食体験の空間を創出―” [Đầu tư kinh doanh bán lẻ ẩm thực và đồ uống để truyền tải sự hấp dẫn của văn hóa ẩm thực Nhật Bản tại Luân Đôn - Tạo ra một không gian trải nghiệm ẩm thực Nhật Bản sống động-] (PDF). Quỹ Cool Japan (bằng tiếng Nhật). 3 tháng 10 năm 2017. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2017. 
  210. ^ “海外展開を目指す日本の映像コンテンツ制作を支援するファンドを設立” [Thành lập một quỹ hỗ trợ sáng tạo nội dung thị giác Nhật Bản nhằm phân phối quốc tế] (PDF). Quỹ Cool Japan (bằng tiếng Nhật). 3 tháng 8 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2018. 
  211. ^ “ヘルスケア・先端テクノロジー分野を中心に 世界で活躍できるベンチャー企業の創出・育成を目指すファンドへ LP 出資” [Quỹ đầu tư mạo hiểm LP bên trong một quỹ nuôi dưỡng các doanh nghiệp liên doanh cạnh tranh toàn cầu thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe và công nghệ tiên tiến] (PDF). Quỹ Cool Japan (bằng tiếng Nhật). 8 tháng 5 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2018. 
  212. ^ Wortley, Kathryn (29 tháng 7 năm 2018). “Cool Japan Park Osaka project to take nighttime entertainment to new level” [Dự án Cool Japan Park Osaka đưa giải trí buổi tối lên tầm cao mới]. Japan Today (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018. 
  213. ^ “大阪城公園における日本のエンタテインメント発信事業へ出資” [Đầu tự vào kinh doanh giải trí Nhật Bản tại công viên lâu đài Osaka] (PDF). Quỹ Cool Japan (bằng tiếng Nhật). 23 tháng 3 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2018. 
  214. ^ Suzuki, Kẹniro (2 tháng 12 năm 2018). “Japanese spider-thread startup nets $44m for new Thai plant” [Công ty khởi nghiệp tơ nhện Spider Nhật Bản nhận 44 triệu đô la Mỹ cho kế hoạch mới tại Thái Lan]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2018. 
  215. ^ “ミャンマー連邦共和国における 地上波放送向けの日本コンテンツ発信事業へ出資” [Đầu tư vào kinh doanh phân phối nội dung Nhật Bản để phát sóng mặt đất tại Cộng hòa Liên bang Myanmar] (PDF). Quỹ Cool Japan (bằng tiếng Nhật). 9 tháng 3 năm 2018. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2018. 
  216. ^ “Yoshimoto, NTT, Cool Japan Fund Set Up JV for Education Content” [Yoshimoto, NTT, Quỹ Cool Japan thành lập liên doanh dành cho nội dung giáo dục]. Nippon.com (bằng tiếng Anh). 21 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2019. 
  217. ^ Hiroaki, Kojima (22 tháng 4 năm 2019). “吉本興業が教育に本格進出。NTTと動画配信。大崎会長「吉本は教育の会社になる」” [Yoshimoto Kogyo tham gia vào giáo dục nghiêm túc. NTT và phân phối video. Chủ tịch Osaki "Yoshimoto sẽ là một công ty giáo dục"]. Business Insider (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2019. 
  218. ^ Hernon, Matthew (6 tháng 6 năm 2019). “Japan's king of comedy, Yoshimoto Kogyo's Hiroshi Osaki, expands his realm” [Vua hài Nhật Bản Osaki Hiroshi của Yoshimoto Kogyo mở rộng vương quốc của ông]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2019. 
  219. ^ “Beauty and lifestyle portal Clozette secures US$10m from Cool Japan Fund” [Cổng thông tin về sắc đẹp và lối sống Clozette được bảo trợ 10 triệu USD từ quỹ Cool Japan]. The Straits Times (bằng tiếng Anh). 11 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 11 tháng 4 năm 2019. 
  220. ^ “クールジャパン機構、インフルエンサーで日本PR シンガポール企業に出資” [Quỹ Cool Japan đầu tư vào công ty Singapore nhằm PR Nhật Bản thông qua người có ảnh hưởng]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 9 tháng 4 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2019. 
  221. ^ “クールジャパン機構、中国の酒類卸を買収 日本酒輸出” [Quỹ Cool Japan mua lại nhà buôn rượu Trung Quốc để xuất khẩu sake]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 18 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2019. 
  222. ^ “クールジャパン機構、ゲームベンチャーへ出資” [Quỹ Cool Japan cấp vốn trong đầu tư mạo hiểm trò chơi]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 2 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019. 
  223. ^ “クールジャパン機構、衣料生産仲介シタテルに最大10億円出資” [Quỹ Cool Japan đầu tư 1 tỷ yên vào trung gian sản xuất trang phục Citatel]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 16 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2019. 
  224. ^ “クールジャパン機構、米酒通販に出資 日本酒の販路に” [Quỹ Cool Japan đầu tư mạo hiểm vào chuyển phát đặt hàng rượu gạo]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 22 tháng 7 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2019. 
  225. ^ “クールジャパン機構が米アニメ配信買収、北米進出を支援” [Quỹ Cool Japan mua lại phân phối hoạt hình Hoa Kỳ và hỗ trợ mở rộng sang Bắc Mỹ]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Nhật). 1 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019. 
  226. ^ “クールジャパン機構、北米アニメ事業者へ出資” [Quỹ Cool Japan đầu tư vào công ty hoạt hình Hoa Kỳ]. Asahi Shimbun (bằng tiếng Nhật). 1 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2019. 
  227. ^ “Cool Japan Fund to invest $10m in Taiwanese travel site KKDay” [Quỹ Cool Japan đầu tư 10 triệu USD vào trang du lịch Đài Loan KKDay]. Nihon Keizai Shimbun (bằng tiếng Anh). 30 tháng 8 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2019. 
  228. ^ “Creating a Vision of Japan: Promoting Cool Japan” [Sáng tạo một tầm nhìn của Nhật Bản: Xúc tiến Cool Japan]. Japan Today (bằng tiếng Anh). 12 tháng 1 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2012. 
  229. ^ “Abe aims to boost the power of 'Cool Japan' cultural exports” [Abe nhắm đến việc tăng sức mạnh của xuất khẩu văn hóa 'Cool Japan']. The Nation (bằng tiếng Anh). 25 tháng 3 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 3 năm 2013. 
  230. ^ Fujita, Junko (24 tháng 11 năm 2013). “Japan Is Cool Again, According To Japan's New 'Cool Japan Fund'” [Nhật Bản thú vị trở lại, theo quỹ Cool Japan mới của Nhật Bản]. Business Insider (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2013. 
  231. ^ Hiroyuki, Kishi (7 tháng 6 năm 2013). “どうすべきか? “クールジャパン戦略”の行方を左右する2つの大きな問題” [Điều gì tôi cần làm? Hai vấn đề lớn ảnh hưởng đến tương lai chiến lược Cool Japan]. Nikkei Trendy (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2013. 
  232. ^ Masakazu, Honda (27 tháng 10 năm 2014). “「クールジャパン」、本来は何をするべきか” [Cool Japan, chúng ta nên làm điều gì đầu tiên?]. Toyo Keizai (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014. [...] 実は韓流ドラマ収益のうち7割が、日本での売り上げなのだ。韓流ドラマは、いまや大多数のアジア諸国に売れているが、そのすべてを合わせても日本での売上げの半分にも満たない。言い換えれば、日本での安定した売上げを基礎に、アジア諸国での韓流ドラマプロモーションが行われている構図と言えるだろう [...] 
  233. ^ Trung, Rwo (27 tháng 11 năm 2016). “Vì sao phim Nhật vắng bóng trên màn ảnh Việt?”. Zing. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 11 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2016. 
  234. ^ a ă Tahara-Stubbs, Mia (14 tháng 5 năm 2015). “Is Japan about to lose its cool?” [Liệu Nhật Bản đang đánh mất thú vị?]. CNBC (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2015. 
  235. ^ Loveridge, Lynzee (29 tháng 4 năm 2015). “President Obama's Welcome for Japan's Prime Minister Abe Includes Thank You for Anime, Manga” [Đón tiếp của tổng thống Obama dành cho thủ tướng Nhật Bản Abe gồm cảm ơn anime, manga]. Anime News Network (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2015. 
  236. ^ Michel, Patrick St. (19 tháng 3 năm 2015). “Japan's Ministry of Cool” [Bộ thú vị của Nhật Bản]. The Atlantic (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  237. ^ Taylor, Ronald (3 tháng 4 năm 2016). “Japan's indie acts make an impact in New York without the help of 'Cool Japan'” [Các hoạt động âm nhạc Indie của Nhật Bản tạo một ảnh hưởng ở New York mà không được 'Cool Japan' hỗ trợ]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2016. 
  238. ^ Keiko, Sakagami (10 tháng 11 năm 2017). “〈日本文化論〉クール・ジャパンの功罪、 戦略としての日本文化” [<Văn hóa Nhật Bản> Ưu điểm và nhược điểm của Cool Japan, văn hóa Nhật Bản như một chiến lược]. Đại học Waseda (bằng tiếng Nhật). Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2017. 
  239. ^ McLelland, Mark (1 tháng 1 năm 2017). “Negotiating "cool Japan" in research and teaching” [Đàm phán 'Cool Japan' trong nghiên cứu và giảng dạy]. Đại học Wollongong (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2019. Tóm lược dễ hiểu. [...] The spread of Japan cool was quite different from the earlier success of Japanese manufacturing, given that alongside officially licensed and distributed cool Japan merchandise, a far greater amount has circulated via fan-driven distribution networks on the Internet [...] 
  240. ^ Otmazgin, Nissim (2013). “Regionalizing Culture: The Political Economy of Japanese Popular Culture in Asia” [Văn hóa khu vực hóa: Nền kinh tế chính trị của văn hóa đại chúng Nhật Bản tại châu Á] (bằng tiếng Anh). University of Hawaiʻi Press. tr. 55–56. ISBN 978-0-8248-3694-8. 
  241. ^ Ben-Ari, Eyal; Otmazgin, Nissim Kadosh (2012). “Popular Culture and the State in East and Southeast Asia” [Văn hóa đại chúng và chính phủ tại Đông Á và Đông Nam Á] (bằng tiếng Anh). Routledge. tr. 19. ISBN 978-1138017108. 
  242. ^ “Time to capitalize on 'Cool Japan' boom” [Thời điểm để tận dụng sự bùng nổ 'Cool Japan']. Yomiuri Shimbun (bằng tiếng Anh). 30 tháng 8 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  243. ^ “South Korea, China overtaking Japan in 'cool' culture battle” [Hàn Quốc, Trung Quốc bắt kịp Nhật Bản trong cuộc chiến văn hóa 'cool']. Asahi Shimbun (bằng tiếng Anh). 26 tháng 7 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  244. ^ Yasumoto, Seiko (2006). “Japan and Korea as a Source of Media and Cultural Capital” [Nhật Bản và Hàn Quốc như một nguồn cội của thủ đô văn hóa và truyền thông]. Đại học Sydney (bằng tiếng Anh). ISBN 9780980667905. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2018. Tóm lược dễ hiểu (PDF). 
  245. ^ Kelts, Roland (17 tháng 5 năm 2010). “japanamerica: why ‘cool japan’ is over” [Japanamerica: Tại sao 'Cool Japan' đã kết thúc]. 3:AM Magazine (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  246. ^ Kelts, Roland (5 tháng 6 năm 2010). “The Politics of Popular Culture - Panel 2” [Chính trị của văn hóa đại chúng - Bảng 2] (PDF). Đại học Temple (bằng tiếng Anh). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2011. 
  247. ^ Miller, Laura (27 tháng 10 năm 2011). “Cute Masquerade and the Pimping of Japan” [Hóa trang dễ thương và sự yêú đuối của Nhật Bản]. Tập san Quốc tế Xã hội học Nhật Bản International Journal of Japanese Sociology. Vol. 20, Issue. 1 (bằng tiếng Anh). tr. 18–29. doi:10.1111/j.1475-6781.2011.01145.x. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2011. 
  248. ^ Chiang, Chuck (29 tháng 6 năm 2014). “Chuck Chiang: Tokyo tries to counter South Korean pop culture with ‘Cool Japan’ campaign” [Chiang Chuck: Tokyo cố gắng chống lại văn hóa đại chúng Hàn Quốc với chiến dịch 'Cool Japan']. Vancouver Sun (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2014. 
  249. ^ Otmazgin, Nissim (2012). “Geopolitics and Soft Power: Japan’s Cultural Policy and Cultural Diplomacy in Asia” [Địa chính trị và quyền lực mềm: Chính sách văn hóa và Ngoại giao văn hóa của Nhật Bản tại châu Á]. Taylor & Francis. Asia-Pacific Review, Volume 19, 2012 - Issue 1 (bằng tiếng Anh). tr. 37–61. doi:10.1080/13439006.2012.678629. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019. 
  250. ^ Snow, Nancy (7 tháng 11 năm 2013). “Uncool Japan: Japan's Gross National Propaganda” [Nhật Bản không thú vị: Tổng tuyên truyền quốc gia của Nhật Bản]. Metropolis (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 7 tháng 11 năm 2013. 
  251. ^ “Gackt lashes out at Cool Japan: 'Almost no results of Japanese culture exported overseas'” [Gackt đả kích Cool Cool: 'Hầu như không có kết quả nào về văn hóa Nhật Bản được xuất khẩu ra nước ngoài']. Japan Today (bằng tiếng Anh). 6 tháng 7 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2015. 
  252. ^ Boas, Benjamin (24 tháng 4 năm 2016). 'Cool Japan' needs to listen to its target market” [Cool Japan cần lắng nghe thị trường mục tiêu]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2016. 
  253. ^ Laurence, Henry (31 tháng 7 năm 2016). “Will 'Pokemon Go' power up Japan's 'Cool Economy'?” [Liệu 'Pokemon Go' sẽ giúp tăng sức mạnh 'kinh tế Cool' của Nhật Bản?]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2016. 
  254. ^ Tran, John L (16 tháng 2 năm 2016). “Takashi Murakami collects more than just his thoughts” [Murakami Takashi sưu tầm nhiều hơn suy nghĩ của mình]. The Japan Times (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2016. 
  255. ^ Taniguchi, Takako; Nakamura, Yuji (11 tháng 7 năm 2017). “Government-Backed 'Cool Japan' Fund Hit by Harassment Claims” [Quỹ Cool Japan được chính phủ ủng hộ bị chỉ trích vì quấy rối tình dục]. Bloomberg L.P. (bằng tiếng Anh). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2018. 
  256. ^ Furuya, Tsunehira (11 tháng 6 năm 2018). “海外で見た酷すぎるクールジャパンの実態~マレーシア編~” [Hoàn cảnh thực tế của Cool Japan quá tệ hiện rõ tại nước ngoài - phiên bản Malaysia-]. Newsweek (bằng tiếng Nhật). Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2018.