Mở trình đơn chính

Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Phi (tiếng Afrikaans: Suid-Afrikaanse nasionale sokkerspan; tiếng Anh: South Africa national football team), còn có biệt danh là "Bafana Bafana", là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Nam Phi và đại diện cho Nam Phi trên bình diện quốc tế.

Nam Phi

Huy hiệu

Tên khác Bafana Bafana
(Các chàng trai)
Hiệp hội Hiệp hội bóng đá Nam Phi
Liên đoàn châu lục CAF (châu Phi)
Huấn luyện viên Ephraim Mashaba
Đội trưởng Itumeleng Khune
Thi đấu nhiều nhất Aaron Mokoena (107)
Ghi bàn nhiều nhất Benni McCarthy (32)
Sân nhà Sân vận động FNB
Mã FIFA RSA
Xếp hạng FIFA 70 tăng 2 (25 tháng 7 năm 2019)[1]
Cao nhất 16 (8.1996)
Thấp nhất 124 (12.1992)
Hạng Elo 74 giảm 6 (10 tháng 7 năm 2019)[2]
Elo cao nhất 21 (9.1996)
Elo thấp nhất 94 (5.2006)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Nam Phi 2–1 Cộng hòa Ireland 
(Belfast, Bắc Ireland; 24.9.1924)
Trận thắng đậm nhất
 Úc 0–8 Nam Phi 
(Adelaide, Úc; 17.9.1955)
Trận thua đậm nhất
 Brasil 5–0 Nam Phi 
(Johannesburg, Nam Phi; 5.3.2014)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 3 (lần đầu vào năm 1998)
Kết quả tốt nhất Vòng bảng, 1998; 20022010
Cúp Liên đoàn các châu lục
Số lần tham dự 2 (lần đầu vào năm 1997)
Kết quả tốt nhất Hạng tư, 2009
Cúp bóng đá châu Phi
Số lần tham dự 10 (lần đầu vào năm 1996)
Kết quả tốt nhất Vô địch, 1996

Đội quay trở lại đấu trường quốc tế vào năm 1992, sau nhiều năm bị FIFA cấm thi đấu do chính sách phân biệt chủng tộc. Nam Phi cũng là quốc gia giành quyền đăng cai vòng chung kết World Cup lần thứ 19 vào năm 2010. Đây là Giải bóng đá vô địch thế giới đầu tiên được tổ chức tại châu Phi. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là chức vô địch Cúp bóng đá châu Phi 1996, vị trí thứ tư của cúp Liên đoàn các châu lục 2009 cùng với tấm huy chương bạc của đại hội Thể thao toàn Phi 2011. Đội đã 3 lần tham dự giải vô địch bóng đá thế giới là vào các năm 1998, 20022010 (trong đó 2010 là chủ nhà), tuy nhiên đều không vượt qua được vòng bảng.

Mục lục

Lịch sửSửa đổi

Bóng đá du nhập vào Nam Phi trong thời kỳ thuộc địa vào cuối thế kỷ 19 bởi các binh sĩ người Anh.[3] Ngay từ đầu, nạn phân biệt chủng tộc đã tồn tại trong các tổ chức bóng đá Nam Phi. Liên đoàn bóng đá dành cho người da trắng (Football Association of South Africa - FASA), được thành lập vào năm 1892. Còn các Liên đoàn dành cho người gốc Ấn (South Africa Indian Football Association - SAIFA), dành cho người Bantu (South African Bantu Football Association - SABFA) và người da màu (South African Coloured Football Association - SACFA) được lần lượt thành lập vào các năm 1903, 19331936.

Nam Phi là một trong bốn thành viên của châu Phi tham dự kỳ đại hội của FIFA năm 1953, và giành được một ghế trong Ủy ban điều hành.[4] Cũng chính 4 quốc gia này (Nam Phi, Ethiopia, Ai CậpSudan) là 4 sáng lập viên của Liên đoàn bóng đá châu Phi vào năm 1956,[4]. Nhưng ngay từ đầu Nam Phi đã rõ ràng quan điểm họ không thể gửi 1 đội tuyển thống nhất mà chỉ có thể gửi một đội tuyển toàn người da trắng hoặc toàn người da màu tham dự Cúp bóng đá châu Phi năm 1957. Với các thành viên khác của Liên đoàn thì đây là điều không thể chấp nhận được và Nam Phi bị loại khỏi giải, tuy nhiên theo một số nguồn tin khác thì đội đã tự động rút lui.

Thời kỳ ApartheidSửa đổi

Tại hội nghị của CAF lần thứ hai được tổ chức vào năm 1958, Nam Phi chính thức bị loại khỏi Liên đoàn. Cùng năm, Liên đoàn bóng đá Nam Phi dành cho người da trắng (FASA) gia nhập FIFA, nhưng đến tháng 8 năm 1960 họ nhận được một tối hậu thư trong vòng 1 năm phải cải tổ để phù hợp với tiêu chí không kỳ thị chủng tộc của FIFA. Vào ngày 26 tháng 9 năm 1961, tại hội nghị thường niên của Liên đoàn bóng đá thế giới, Nam Phi bị tước tư cách thành viên. Nhưng Sir Stanley Rous, chủ tịch Hiệp hội Bóng đá Anh, người vừa được bầu làm chủ tịch FIFA vài ngày trước đó, đã ra sức ủng hộ quốc gia này. Ngài Rous luôn vững lập trường rằng thể thao nói chung, và FIFA nói riêng, không nên xen vào những vấn đề chính trị. Lệnh cấm được gỡ bỏ vào tháng 1 năm 1963 sau chuyến thăm Nam Phi của ngài Rous nhằm tham quan đánh giá sự phát triển môn bóng đá tại quốc gia này.

Rous tuyên bố nếu cấm Nam Phi, bóng đá có nguy cơ ngừng phát triển và không được phủ rộng. Hội nghị thường niên của FIFA lần tiếp theo được tổ chức vào tháng 10 năm 1964 tại Tokyo, lần này có đông đảo hơn các thành viên của châu Á và châu Phi tham dự, lệnh cấm Nam Phi lại được đưa ra thảo luận và được thông qua. Đến năm 1976, sau cuộc nổi dậy ở Soweto, Nam Phi chính thức mất tư cách thành viên của FIFA.

Tái hội nhậpSửa đổi

Năm 1991, khi chế độ Apartheid dần bị xóa bỏ, Hiệp hội bóng đá Nam Phi đa chủng tộc được thành lập và gia nhập FIFA. Ngày 7 tháng 7 năm 1992, tuyển Nam Phi thi đấu lại trận đầu tiên sau hơn hai thập niên bi cấm, và đánh bại Cameroon với tỉ số 1–0. Nam Phi nhanh chóng chứng tỏ vị thế một đội bóng mạnh của châu lục, đội giành quyền tham dự 2 kỳ World Cup 19982002, cùng 1 chức vô địch châu lục năm 1996. Nam Phi cũng giành quyền đăng cai World Cup 2010, và trở thành quốc gia châu Phi đầu tiên có được vinh dự này.

Danh hiệuSửa đổi

Thành tích quốc tếSửa đổi

Giải bóng đá vô địch thế giớiSửa đổi

Năm Kết quả St T H[5] B Bt Bb
1930
Không tham dự
1934
1938
1950
1954
1958
1962
1966
Bị FIFA cấm thi đấu
1970
1974
1978
1982
1986
1990
1994
Không vượt qua vòng loại
  1998
Vòng 1 3 0 2 1 3 6
    2002
Vòng 1 3 1 1 1 5 5
2006
Không vượt qua vòng loại
  2010
Vòng 1 3 1 1 1 3 5
2014
Không vượt qua vòng loại
2018
  2022 đến       2026 Chưa xác định
Tổng cộng 3/22 9 2 4 3 11 16

Cúp Liên đoàn các châu lụcSửa đổi

Năm Kết quả St T H[5] B Bt Bb
1992 Bị FIFA cấm
1995 Không giành quyền tham dự
  1997 Vòng 1 3 0 1 2 5 7
1999 Không giành quyền tham dự
2001
2003
2005
  2009 Hạng 4 5 1 1 3 4 5
2013 Không giành quyền tham dự
2017
Tổng cộng 2/10 8 1 2 5 9 12

Cúp bóng đá châu PhiSửa đổi

Năm Kết quả St T H[5] B Bt Bb
1957 Không tham dự vì Apartheid
1959 Bị CAF cấm thi đấu
1962
1963
1965
1968
1970
1972
1974
1976
1978
1980
1982
1984
1986
1988
1990
1992
1994 Không vượt qua vòng loại
  1996 Vô địch 6 5 0 1 11 2
  1998 Á quân 6 3 2 1 9 6
    2000 Hạng ba 6 3 2 1 8 6
  2002 Tứ kết 4 1 2 1 3 3
  2004 Vòng 1 3 1 1 1 3 5
  2006 Vòng 1 3 0 0 3 0 5
  2008 Vòng 1 3 0 2 1 3 5
2010 Không vượt qua vòng loại
2012
  2013 Tứ kết 4 1 2 1 5 3
  2015 Vòng 1 3 0 1 2 3 6
2017 Không vượt qua vòng loại
  2019 Tứ kết 5 2 0 3 3 4
  2021 Chưa xác định
  2023
  2025
Tổng cộng 10/32
1 lần: Vô địch
43 16 12 15 48 45

Huấn luyện viênSửa đổi

 
Các huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Nam Phi

Cầu thủSửa đổi

Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áoSửa đổi

Tính đến 21 tháng 11 năm 2018

Đội hình hiện tạiSửa đổi

Đây là đội hình 23 cầu thủ được triệu tập cho CAN 2019.

Số liệu thống kê tính đến ngày 10 tháng 7 năm 2019 sau trận gặp Nigeria.

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
1TM Darren Keet 5 tháng 8, 1989 (30 tuổi) 11 0   Bidvest Wits
1TM Ronwen Williams 21 tháng 1, 1992 (27 tuổi) 10 0   SuperSport United
1TM Bruce Bvuma 13 tháng 5, 1995 (24 tuổi) 0 0   Kaizer Chiefs

2HV Thulani Hlatshwayo 18 tháng 12, 1989 (29 tuổi) 46 4   Bidvest Wits
2HV Buhle Mkhwanazi 1 tháng 2, 1990 (29 tuổi) 21 0   Bidvest Wits
2HV Sifiso Hlanti 1 tháng 5, 1990 (29 tuổi) 19 0   Bidvest Wits
2HV Ramahlwe Mphahlele 1 tháng 2, 1990 (29 tuổi) 16 0   Kaizer Chiefs
2HV Thamsanqa Mkhize 18 tháng 8, 1988 (31 tuổi) 12 0   Cape Town City
2HV Aubrey Modiba 2 tháng 7, 1995 (24 tuổi) 7 0   SuperSport United
2HV Innocent Maela 14 tháng 8, 1992 (27 tuổi) 4 0   Orlando Pirates
2HV Daniel Cardoso 6 tháng 10, 1988 (30 tuổi) 2 0   Kaizer Chiefs

3TV Dean Furman 22 tháng 6, 1988 (31 tuổi) 53 3   SuperSport United
3TV Thulani Serero 4 tháng 11, 1990 (28 tuổi) 42 2   Vitesse
3TV Sibusiso Vilakazi 29 tháng 12, 1989 (29 tuổi) 36 5   Mamelodi Sundowns
3TV Hlompho Kekana 23 tháng 5, 1985 (34 tuổi) 30 5   Mamelodi Sundowns
3TV Bongani Zungu 9 tháng 10, 1992 (26 tuổi) 29 4   Amiens SC
3TV Themba Zwane 3 tháng 8, 1989 (30 tuổi) 21 1   Mamelodi Sundowns
3TV Kamohelo Mokotjo 11 tháng 3, 1991 (28 tuổi) 21 0   Brentford
3TV Tiyani Mabunda 17 tháng 4, 1988 (31 tuổi) 10 1   Mamelodi Sundowns

4 Percy Tau 13 tháng 5, 1994 (25 tuổi) 24 9   Union Saint-Gilloise
4 Lebo Mothiba 28 tháng 1, 1996 (23 tuổi) 13 4   RC Strasbourg
4 Lebohang Maboe 17 tháng 9, 1994 (24 tuổi) 8 3   Mamelodi Sundowns
4 Lars Veldwijk 21 tháng 8, 1991 (27 tuổi) 8 0   Sparta Rotterdam
4 Thembinkosi Lorch 22 tháng 7, 1993 (26 tuổi) 7 1   Orlando Pirates

Triệu tập gần đâySửa đổi

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Brandon Peterson 22 tháng 9, 1994 (24 tuổi) 4 0   Ajax Cape Town v.   Zambia, 24 tháng 3 năm 2018

HV Rivaldo Coetzee 16 tháng 10, 1996 (22 tuổi) 23 0   Mamelodi Sundowns CAN 2019 PRE
HV Thapelo Morena 6 tháng 8, 1993 (26 tuổi) 1 0   Mamelodi Sundowns v.   Seychelles, 16 tháng 10 năm 2018
HV Reeve Frosler 11 tháng 1, 1998 (21 tuổi) 1 0   Bidvest Wits v.   Zambia, 24 tháng 3 năm 2018

TV Sibusiso Vilakazi 29 tháng 12, 1989 (29 tuổi) 32 5   Mamelodi Sundowns v.   Seychelles, 16 tháng 10 năm 2018 INJ
TV Aubrey Modiba 22 tháng 6, 1995 (24 tuổi) 8 0   SuperSport United v.   Seychelles, 16 tháng 10 năm 2018
TV Lebogang Phiri 9 tháng 11, 1994 (24 tuổi) 2 0   Guingamp v.   Seychelles, 16 tháng 10 năm 2018
TV Thabo Nodada 2 tháng 5, 1995 (24 tuổi) 2 0   Cape Town City v.   Seychelles, 16 tháng 10 năm 2018
TV Keagan Dolly 22 tháng 1, 1993 (26 tuổi) 14 2   Montpellier v.   Libya, 8 tháng 9 năm 2018 INJ
TV Siphesihle Ndlovu 30 tháng 9, 1996 (22 tuổi) 2 0   Maritzburg United v.   Libya, 8 tháng 9 năm 2018
TV Mxolisi Macuphu 12 tháng 5, 1989 (30 tuổi) 0 0   Bidvest Wits v.   Libya, 8 tháng 9 năm 2018

Keagan Dolly 22 tháng 1, 1993 (26 tuổi) 13 2   Montpellier CAN 2019 PRE
Phakamani Mahlambi 12 tháng 9, 1997 (21 tuổi) 2 0   Mamelodi Sundowns v.   Seychelles, 16 tháng 10 năm 2018
Bradley Grobler 25 tháng 1, 1988 (31 tuổi) 9 2   SuperSport United v.   Libya, 8 tháng 9 năm 2018
Ryan Moon 1 tháng 2, 1996 (23 tuổi) 2 0   Kaizer Chiefs v.   Zambia, 24 tháng 3 năm 2018
Chú thích

INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương.
PRS Player withdrew from the squad for personal reasons.
RPL Player was called up as a replacement.
WDR Player withdrawn from the squad by his club.

Liên kết ngoàiSửa đổi

Chú thíchSửa đổi

  1. ^ “The FIFA/Coca-Cola World Ranking”. FIFA. 25 tháng 7 năm 2019. Truy cập 25 tháng 7 năm 2019. 
  2. ^ Elo rankings change compared to one year ago. “World Football Elo Ratings”. eloratings.net. 10 tháng 7 năm 2019. Truy cập 10 tháng 7 năm 2019. 
  3. ^ Goldblatt, David (2007). The Ball is Round: A Global History of Football. London: Penguin. tr. 90–91. ISBN 978-0-14-101582-8. 
  4. ^ a ă Goldblatt, The Ball is Round: A Global History of Football, tr. 493
  5. ^ a ă â Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
Danh hiệu
Tiền nhiệm:
  Nigeria
Vô địch châu Phi
1996
Kế nhiệm:
  Ai Cập